Các nguồn (có khả năng) gây ô nhiễm môi trường nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang

Một phần của tài liệu kl le thi mai 640418b (Trang 58 - 63)

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHU VỰC CỬA BÉ

4.4. Các nguồn (có khả năng) gây ô nhiễm môi trường nước khu vực Cửa Bé, Nha Trang

Từ các dẫn liệu đã trình bày trên đây có thể thấy ảnh hưởng của các hoạt động con người tới môi trường nước khu vực Cửa Bé chủ yếu là nước thải từ sinh hoạt của khu dân cư, hoạt động nuôi trồng thủy sản, và một số nhà máy

4.4.1. Nguồn thải từ hoạt động dân sinh

Nước thải sinh hoạt cũng như nước thải từ chuồng trại nuôi heo của các hộ được đưa trực tiếp vào khu vực cửa sông qua cống thải. Kết quả phân tích mẫu nước cống thải tại khu dân cư vào tháng 12/2006 cho thấy hàm lượng (giá trị) PO4-P và mật độ coliform rất cao vượt GHCP như sau: PO4-P vượt GHCP là 40 lần; colifrom vượt giới hạn lên tới 15 000 lần) (bảng 4.5). Điều này là do Khu vực Cửa Bé tập trung khá đông dân nhưng hầu nhưtrình độ dân trí chưa cao, thu nhập thấp nên điều kiện vệ sinh cộng đồng còn kém như là không có nhà vệ sinh, thải nước bừa bãi.

Bng 4.5: Hàm lượng mt s yếu t ti khu vc cng nước thi khu dân cư Ca Bé

Yếu tố BOD5 mg/l

PO4-P

g/l

NO3-N

g/l

NH3,4-N

g/l

SiO3-Si

g/l

Coliform tb/100ml

Giá trị 8,8 600 57,6 24,7 5 590 15 000 000

GHCP* 30 15 30 70 - 1 000

4.4.2. Hoạt động nuôi trồng thủy sản

Ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản phụ thuộc vào kỹ thuật nuôi (tác động đến chất lượng môi trường ao nuôi) và quy mô nuôi (ảnh hưởng đến tải lượng các chất thải). Các yếu tố trong môi trường ao nuôi biến đổi theo thời gian nuôi và phụ thuộc vào nguồn nước cấp, mật độ nuôi cũng như chế độ quản lý môi trường nước ao.

Mặc dù không có điều kiện thu mẫu thải từ ao nuôi, nhưng theo nghiên cứu Đồng Thị Quyên (2005) ghi nhận được hàm lượng trung bình của PO4-P, NH3,4 và giá trị của BOD5 trong các ao nuôi tôm khá cao (bảng 4.6).

Bng 4.6: Hàm lượng Mt s yếu t ti ao nuôi tôm Sú khu vc Ca Bé

Yếu tố BOD mg/l

NO2-N

g/l

NO3-N

g/l

NH3,4-N

g/l

PO4-P

g/l

Coliform tb/100ml

08/2005 10,17 5 78,6 17 133,7 17 000

09/2005 18 20 331,67 437,3 99,6 31 000

Nguồn: Đồng Thị Quyên, 2005

Ta thấy hàm lượng trung bình của nitrate và giá trị của BOD5 trong các ao nuôi tôm lớn hơn so với môi trường nước khu vực sông (trạm 1). Vì vậy, ở mức độ nào đó nguồn nước thải từ hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể có những ảnh hưởng tới hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng của vực nước tiếp nhận.

Sau mỗi vụ nuôi lớp bùn này không qua xử lý mà xả thẳng ra môi trường bên ngoài là nguồn ô nhiễm tiềm tàng cho các khu vực nuôi xung quanh. Nó vừa làm nông hoá dòng sông vừa làm tăng hàm lượng chất hữu cơ và muối dinh dưỡng cho sông, đó có thể là một trong những tác nhân gây ưu dưỡng hoá nguồn nước.

Hoạt động thay nước và xả thải nước trước thu hoạch tôm, một số ao nuôi sử dụng khá nhiều hoá chất tẩy rửa ao, xử lý nguồn nước như vôi, KMnO4, CuSO4..., các loại thức ăn công nghiệp, thức ăn tươi, làm tăng lượng chất thải trong ao nuôi. Theo số liệu thống kê của phòng địa chính xã Vĩnh Thái, hiện nay khu vực nuôi trồng thuỷ sản Đồng Bò với tổng diện tích ao nuôi là 441,12ha. Hoạt động nuôi tôm ở đây được bắt đầu từ năm 1988 và mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập. Tuy nhiên, do chất lượng môi trường nước suy thoái, bệnh tật lan truyền nên trong mấy năm gần đây nuôi tôm không còn hiệu quả, năng suất chỉ đạt trung bình 100kg/ha. Nhiều hộ chuyển qua nuôi heo theo kiểu tự nhiên hoặc nuôi cá chẽm...

Các hộ nuôi tôm ở khu vực Đồng Bò hầu như đều có chế độ thay nước theo con nước, một tháng thay hai lần vào lúc triều cường. Song việc thay nước phụ thuộc nhiều vào diễn biến chất lượng nước trong ao nuôi, một số ao quản lý tốt thì chế độ thay nước ít hơn. Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn nhất tập trung vào lúc cuối vụ nuôi khi thu hoạch tôm, nguồn nước thải ra lớn đồng thời chứa hàm lượng chất hữu cơ hoà tan, vật chất lơ lửng và muối dinh dưỡng lớn.

Theo tính toán gần đúng, vào cuối vụ nuôi, mực nước trung bình trong ao là 1,2m và với diện tích ao nuôi 441,12ha thì lượng nước thải từ các ao nuôi tôm ra khu vực sông Đồng Bò là 5 293 440m3/vụ. Trên thực tế, lượng nước thải sẽ còn lớn hơn rất

nhiều nếu tính cả phần nước thải từ các ao trong suốt quá trình nuôi do thay nước. Đặc biệt, nếu nguồn nước thoát ra ngoài chứa hàm lượng các chất dinh dưỡng cao và nguồn bệnh tật, nhiều hộ chưa có kiểm soát môi trường và dịch bệnh, thậm chí nước thải từ ao bị nhiễm bệnh lại là nguồn nước cấp vào ao khác nên đã phát tán mầm bệnh điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng nước sông khu vực Cửa Bé và có thể đó cũng là nguyên nhân gây ra sự thất bại của hoạt động nuôi trồng thủy sản ở đây.

Theo ước tính gần đúng, thì tải lượng các chất gây ô nhiễm do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ra khu vực sông Đồng Bò sau mỗi vụ nuôi: tải lượng BOD5 là 74584,57kg/vụ; tải lượng NO3-N là 1365,62kg/vụ; tải lượng của PO4-P là 482,41kg/vụ. Như vậy, sau mỗi vụ nuôi sẽ đưa ra môi trường các vật chất hữu cơ và các muối dinh dưỡng đáng kể, ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản tới chất lượng môi trường khu vực cửa sông Cửa Bé .

Do vậy, ảnh hưởng của hoạt động nuôi trồng thủy sản tới chất lượng môi trường khu vực cửa sông Cửa Bé là đáng kể. Ở một mức nào đó nó có thể gây ô nhiễm chất hữu cơ và hiện tượng phú dưỡng hóa cho môi trường nước khu vực này.

4.4.3. Nguồn thải từ hoạt động công nghiệp

Bên cạnh ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản, nước thải từ dân cư tới môi trường nước Cửa bé thì ảnh hưởng của nguồn nước thải công nghiệp được chú ý.

Theo kết quả nghiên cứu Phạm Văn Thơm năm 1999, các nguồn nước thải chính có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng nước khu vực này là nhà máy chế biến hải sản F90. Hiện nay, có thêm xí nghiệp sản xuất Chitosan. Hai nguồn nước thải này đều được đưa vào hệ thống kênh mương và sông trước khi ra đến khu vực Cửa Bé.

Kết quả phân tích một số mẫu thải được trình bày trong bảng 4.7. Qua đó cho thấy tất cả các yếu tố khảo sát trừ pH đều có giá trị (hàm lượng) cao chẳng hạn COD, BOD, PO4-P, dầu mỡ và mật độ coliform rất cao và đã vượt quá mức cho phép nước thải công nghiệp loại (được phép đổ vào sông) rất nhiều, đặc biệt là nhà máy F90. Giá trị BOD ở nhà máy Chitosan cũng đáng báo động cao hơn so với GHCP rất nhiều lần,

Đặc biệt, nguồn nước thải từ hai nhà máy này đều có hàm lượng phosphate rất cao tương ứng 42,4mg/l (F90) và 23,9mg/l (xí nghiệp xản xuất Chitosan). Điều này có thể do đặc trưng của sản phẩm và quá trình sản xuất, như xí nghiệp sản xuất Chitosan trong quá trình khử khoáng ở vỏ tôm có chứa Ca3(PO4)2 nên trong nguồn nước thải hàm lượng phosphate cao. Ngoài nguồn nước thải từ quá trình sản xuất, nước thải từ sinh hoạt của công nhân…cũng có thể là nguyên nhân làm tăng hàm lượng phosphate

Giá trị ammonia cả hai nhà máy cao hơn giá trị giớ hạn theo TCVN 5945-1995 nhà máy F90 là 22,2mg/l và xí nghiệp sản xuất Chitosan là 12,9mg/l.

Hàm lượng nitrate không cao song với lượng nước thải hàng ngày của các nhà máy này ra môi trường cũng có thể ảnh hưởng rất lớn.

Dầu mỡ và coliform ở cả hai nhà máy lớn hơn mức cho phép nhiều lần, giá trị dầu mỡ ghi nhận được tại nhà máy F90 là 6,04mg/l và xí nghiệp sản xuất Chitosan là 485 mg/l.

Như vậy, qua kết quả phân tích cho thấy hàm lượng các chất hữu cơ ở các cơ sở sản xuất này đều lớn hơn giá trị giới hạn theo TCVN 5945 – 1995. Đặc biệt, giá trị phosphate và dầu mỡ cao hơn rất nhiều lần và cao hơn so với năm 1999 (nhà máy F90).

Bng 4.7: Giá tr các yếu t trong thành phn nước thi nhà máy chế biến

Yếu tố Đơn vị F90 (1999) F90 (2005) Chitosan Tiêu chuẩn

Màu sắc Trắng đục Đỏ hồng

Mùi vị Hôi thối Tanh đặc trưng

pH 6,95 7,18 6,2 5,5 - 9

BOD mg/l 105,60 - 320 50

COD mg/l 169,15 660 609 100

NH3,4-N mg/l 2,05 2,22 12,90 1

NO2-N mg/l 0,36 0,12 0,04

NO3-N mg/l 3,23 0,63 0,88

PO4-P mg/l 0,13 42,50 23,90

Dầu mỡ mg/l 3,61 6,04 485 1

Coliform tb/100ml 1 090 48 960 000 10 000

Nguồn: Với thành phần nườc thải đã phân tích như trên, ta thấy hàm lượng các muối dinh dưỡng, chất hữu cơ, dầu mỡ và mật độ coliform rất cao. Cả hai nguổn thải

công nghiệp và sinh hoạt đều được đưa trực tiếp vào khu vực cửa sông Cửa Bé, vì vậy ảnh hưởng của chúng tới chất lượng môi trường nước khu vực này là rất lớn.

Như vậy nước thải từ sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và đặc biệt là các cơ sở sản xuất công nghiệp có thể đã gây ra ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng môi trường Cửa Bé chủ yếu là coliform, dầu mỡ, nitrate.

Một phần của tài liệu kl le thi mai 640418b (Trang 58 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(76 trang)