Chất thải rắn từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, khu vui chơi giải trí khu văn hoá…: thực phẩm dư thừa, nilon, cacton, giấy, nhựa, gỗ, vải, rác vườn, gỗ, thuỷ tinh, lon
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Luận văn tốt nghiệp:
SVTH : Đồn Thị Ánh Ngọc MSSV : 6 0115B
LỚP : 0 MT1N GVHD : Th.S Ng yễn ThịThanh Mỹ
TP HCM, THÁNG 1 – 2007
Trang 2Lời cảm ơn
Em có được thành quả học tập như ngày hôm nay đó là do
sự giúp đỡ, hỗ trợ của quý Thầy Cô, bạn bè cùng gia đình Trước hết, em xin chân thành cảm ơn toàn thể quý Thầy
Cô đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức cho em trong hơn bốn năm học dưới mái trường Đại học
Bặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
Nguyễn Thị Thanh Mỹ, sự nhiệt tình và tận tâm của cô đã tạo
nhiều thuận lợi cho em hoàn thành trọn vẹn Luận văn này Xin cám ơn các bạn sinh viên lớp 06MT1N đã giúp đỡ, ủng hộ tôi rất nhiều trong suốt thời gian làm luận văn
Con xin cảm ơn bố mẹ, cùng những người thân, là nguồn động viên to lớn đối với con Con xin cảm ơn !
Sau cùng, em xin gửi đến cô Mỹ cùng toàn thể quý Thầy
Cô, Ba Mẹ, bạn bè lời chúc sức khỏe và hạnh phúc !
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
Luận văn tốt nghiệp:
SVTH : Đoàn Thị Ánh Ngọc MSSV : 6 0115B
LỚP : 0 MT1N
Ngày giao n iệm vụ uận văn:
Ngày h àn hành uận văn:
TPHCM, ngày 7 tháng 1 năm 2007 Giảng viên hướng dẫn
Trang 4 Nhận xét của giáo viên
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Trang 5MỤC LỤC
Mục lục - 1
Danh mục các bảng biểu - 5
Danh mục các hình - 6
Các chữ viết tắt - 6
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 7
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 7
1.2 MỤC TIÊU 8
1.3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI 8
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1.4.1 Hiện trạng tái sinh/tái chế tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 8
1.4.2 Trường hợp cụ thể cho ngành tái chế nhựa 8
1.4.3 Đề xuất giải pháp 8
CHƯƠNG 2 : HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTR TẠI TP.HCM 9
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN VỀ CHẤT THẢI RẮN 9
2.1.1 Chất thải rắn 9
2.1.2 Chất thải rắn đô thị 9
2.1.3 Chất thải rắn công nghiệp 9
2.1.4 Chất thải rắn nguy hại 9
2.1.5 Chất thải rắn y tế 10
2.2 HIỆN TRẠNG KHỐI LƯỢNG, THÀNH PHẦN,TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ 10
2.2.1 Khối lượng và Nguồn gốc phát sinh 10
2.2.1.1 Khối lượng 10
2.2.1.2 Nguồn gốc 11
2.2.2 Thành phần 12
Trang 62.2.3.1 Tính chất vật lý: bao gồm 15
2.2.3.2 Tính chất hoá học 15
2.2.3.3 Tính chất sinh học 15
2.3 CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ CÓ THỂ TÁI CHẾ TÁI SỬ DỤNG 16
2.4 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ TPHCM 16
2.4.1 Thu gom vận chuyển 16
2.4.2 Xử lý 17
2.4.2.1 Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại 17
2.4.2.2 Xử lý chất thải y tế 17
2.4.2.3 Xử lý chất thải xây dựng 17
2.4.2.4 Xử lý chất thải công nghiệp, thương mại và sinh họat khác 17
2.4.2.5 Những tồn tại – khó khăn 17
2.4.3 Hoạt động tái chế chất thải rắn đô thị 18
2.4.3.1 Đánh giá hiện trạng họat động thu gom chất thải có thể tái chế 18
2.4.3.1.1.Hiện trạng các cơ sở thu mua - 18
2.4.3.1.2.Nhận xét về hoạt động thu mua chất thải ở thành phố Hồ Chí Minh - 24
2.4.3.2 Đánh giá hiện trạng họat động tái chế chất thải 25
2.4.3.2.1.Hiện trạng tái chế chất thải - 25
2.4.3.2.2.Phân loại các cơ sở tái chế - 27
2.4.3.3 Nhận xét chung về hoạt động tái chế ở TP.HCM: 30
2.5 HIỆN TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TÁI CHẾ 31
2.5.1 Các loại sản phẩm tái chế tại thành phố Hồ Chí Minh 31
2.5.1.1 Sản phẩm tái chế là các loại nguyên liệu thô 31
2.5.1.2 Sản phẩm tái chế là sản phẩm cuối cùng 32
2.5.1.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm tái chế 32
2.5.1.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm thô 33
2.5.1.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm tái chế (sản phẩm cuối cùng) 33
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ NHỰA TẠI TP HCM 35
3.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NHỰA 35
3.1.1 Khái quát 35
Trang 73.1.2 Tác động môi trường của nhựa phế thải 41
3.2 SỐ LƯỢNG VÀ SỰ PHÂN BỐ CÁC CƠ SỞ TÁI CHẾ NHỰA Ở TP.HCM 42
3.3 QUY MÔ VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA CÁC CƠ SỞ TÁI CHẾ NHỰA 43
3.3.1 Quy mô đầu tư 43
3.3.2 Số lượng lao động 43
3.3.3 Mức vốn đầu tư 44
3.3.4 Mặt bằng sản xuất 45
3.4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CỦA NGÀNH TÁI CHẾ NHỰA 46
3.5 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH TÁI CHẾ NHỰA 47
3.6 ƯU KHUYẾT ĐIỂM CỦA NGÀNH NHỰA TÁI CHẾ 48
3.6.1 Quy mô đdầu tư 48
3.6.2 Công nghệ tái chế và hạ tầng sản xuất 49
3.6.3 Yếu tố con người 49
3.7 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỪ BÊN NGOÀI 50
3.7.1 Nguyên liệu nhựa phế thải và hệ thống thu mua phế liệu 50
3.7.1.1 Thuận lợi 50
3.7.1.2 Khó khăn 50
3.7.2 Các yếu tố kinh tế 51
3.7.3 Xã hội 51
3.7.4 Chính sách 52
3.8 HOẠT ĐỘNG THU MUA TÁI CHẾ TẠI CÁC CƠ SỞ TÁI CHẾ 53
3.8.1 Vòng tuần hoàn của nhựa 53
3.8.2 Nguồn nguyên liệu của các cơ sở tái chế nhựa 53
3.8.3 Hoạt động thu mua nhựa và nylon phế liệu tại các cơ sở tái chế nhựa 55
3.8.4 Hiện trạng công nghệ của ngành tái chế nhựa 56
3.8.5 Các loại sản phẩm nhựa tái chế 57
3.9 THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM NHỰA TÁI CHẾ 58
3.10 ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT 58
Trang 8CHƯƠNG 4:
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ THÍCH HỢP ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ NHỰA TẠI TP.HCM VÀ Ý NGHĨA KINH TẾ - XÃ HỘI - MÔI TRƯỜNG 60
4.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 60
4.1.1 Luật Bảo vệ Môi trường ngày 29 - 11 - 2005 60
4.1.2 Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngày 29/11/2005 và Nghị định 68/2006/NĐ-CP ngày 18/07/2006 quy định và chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 61
4.1.3 Luật đầu tư ngày 29 /11/2005 62
4.1.4 Nghị định số 93/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho TPHCM 62
4.1.5 Nghị định số 43/2006 NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ: 62
4.1.6 Đánh giá các ưu-nhược điểm và khó khăn-thuận lợi của ngành tái chế nhựa 62
4.1.7 Kết quả tham vấn các cơ sở tái chế nhựa 62
4.1.8 Định hướng phát triển ngành tái chế nhựa 62
4.2 MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH 62
4.3 ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG CHÍNH SÁCH 62
4.4 ĐỀ XUẤT VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH VÀ HỖ TRỢ 63
4.4.1 Hỗ trợ mặt bằng 64
4.4.2 Hỗ trợ về Tài chính 64
4.4.3 Hỗ trợ Kỹ thuật và Thông tin 64
4.4.4 Hỗ trợ nguồn nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra 65
4.5 CẢI TIẾN CÔNG NGHỆ PHÙ HỢP 66
4.6 ĐẦY MẠNH XÃ HỘI HOÁ 67
4.7 Ý NGHĨA KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG 67
4.7.1 Ý nghĩa kinh tế 67
4.7.2 Ý nghĩa xã hội 70
4.7.3 Ý nghĩa môi trường 71
PHỤ LỤC 75
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Lượng chất thải rắn tại thành phố Hồ Chí Minh - 11Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn của hộ gia đình, trạm trung chuyển và bải chôn lấp tại thành phố Hồ Chí Minh - 13Bảng 2.3: Phân tích hoá học cuối cùng các thành phần của chất thải rắn sinh hoạt - 15Bảng 2.4: Diện tích đất sử dụng và chi phí thuê đất sử dụng cho các hoạt động tái chế của 202 cơ sở thu mua phế liệu - 19Bảng 2.5: Thành phần và khối lượng các lọai phế liệu thu mua tại các cơ sở thu mua tại các cơ sở thu mua tái chế - 21Bảng 2.6: Thành phần chất thải rắn sinh hoạt có thể bán được và giá trị của chúng trong dây chuyển thu gom tái sinh hiện nay - 22Bảng 2.7: Tỷ lệ tái chế ở các làng nghề - 25Bảng 2.8: Tỷ lệ phân bố các loại hình tái sinh – tái chế
trên địa bàn Tp.HCM - 27Bảng 2.9: Số lượng lao động và mức thu nhập bình quân của từng người theo từng loại hình tái sinh tái chế - 29Bảng 2.10:Một số loại nguyên liệu thô được tạo thành từ quá trình tái chế 31Bảng 3.1: Tăng trưởng nhu cầu chế biến nhựa của VN
so với các nước ASEAN - 35Bảng 3.2: Mức tăng trưởng một số nhóm hàng nhựa chính của các nước ASEAN - 36Bảng 3.3: Nhu cầu sử dụng nguyên liệu trong ngành nhựa năm 2005 - 38Bảng 3.4: Một số sản phẩm nhựa đã dần dần thay thế các sản phẩm truyền thống - 40Bảng 3.5: Phân loại, ký hiệu và nguồn sử dụng nhựa - 40Bảng 3.6: Thành phần nhựa trong các mẫu rác
tại Thành phố Hồ Chí Minh - 41Bảng 3.7: Số lượng và sự phân bố các cơ sở tái chế nhựa - 42Bảng 3.8: Quy mô các cơ sở thu mua và tái chế nhựa - 43Bảng 3.9 Số lượng lao động và mức thu nhập bình quân
tại các cơ sở tái chế nhựa - 44Bảng 3.10 Số lượng cơ sở tái chế nhựa phân loại theo mức vốn đầu tư - 45
Trang 10Bảng 3.12 Diện tích đất sử dụng cho các hoạt động tái chế của 67 cơ sở tái chế
nhựa khảo sát - 45
Bảng 3.13 Các vấn đề môi trường ở các cơ sở tái chế nhựa - 47
Bảng 3.14 Số lượng cơ sở có và không đóng thuế - 47
Bảng 3.15 Nguyên liệu đã sơ chế từ các cơ sở thu mua phế liệu - 54
Bảng 3.16: Khối lượng các loại nhựa thu mua tại các cơ sở thu mua và tái chế nhựa - 55
Bảng 3.17: Khối lượng và các loại sản phẩm nhựa điển hình của các cơ sở tái chế nhựa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - 57
Bảng 5.1: Giá hạt nhựa nhập khẩu ngày 13/12/06 - 69
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống Thu hồi - tái chế - 19
Hình 2.2: Tỉ lệ phân bố số lượng cơ sở tái sinh tái chế theo mức vốn đầu tư - 29
Hình 3.1: Vòng tuần hoàn của nhựa - 53
Hình 3.2: Sơ đồ tái chế nhựa điển hình - 56
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVMT : bảo vệ môi trường
CTR : chất thải rắn
TC : tái chế
TS : tái sinh
Trang 11Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay khi đời sống con người ngày một phát triển thì việc phát sinh chất thải cũng không ngừng tăng lên
Trước sức ép của chất thải ngày càng gia tăng, nhất là ở các khu vực đô thị lớn Cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng cường công tác quản lý chất thải một cách hiệu quả, nhưng vẫn còn nhiều thách thức mới đang đặt ra Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác trên thế giới đang phải đối mặt với những vấn đề chất thải hết sức nan giải Theo thống kê mới nhất của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường trong một báo cáo kết hợp với ngân hàng thế giới và dự án kinh tế chất thải của cơ quan phát triển quốc tế Canada thì hiện nay tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên toàn Việt Nam không kể chất thải nông nghiệp là 15 triệu tấn/năm Trong đó chất thải rắn
đô thị chiếm 54% và chất thải công nghiệp (bao gồm chất thải nguy hại và không nguy hại) chiếm 46% Trong cả hai nguồn chất thải này luôn tồn tại một thành phần có thể tái sinh – tái chế lại, vì vậy hình thành một hệ thống thu gom vận chuyển tái sinh tái chế chất thải (hay còn gọi là phế liệu) Bên cạnh đó, sự phát triển của công nghiệp với giá trị sản xuất hàng năm trên 17% đã dẫn đến một nhu cầu lớn về nguyên vật liệu dành cho sản xuất, điều này tác động mạnh đến sự phát triển của thị trường thu gom vận chuyển tái sinh – tái chế phế liệu với nhu cầu về nguyên liệu ngày càng cao Theo thống kê hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh có trên 200 cơ sở tái sinh tái chế Trong đó, phần lớn là các cơ sở tái chế nhựa do nhựa là thành phần chiếm đa số trong các loại phế liệu có thể tái chế được Phải nhận thấy rằng, hoạt động của các cơ
sở thu mua, tái chế nhựa phế thải đã phần nào đáp ứng yêu cầu bức bách của ngành nhựa về nguồn nguyên liệu và các nhu cầu đa dạng của thị trường Tuy nhiên hoạt động của các cơ sở này gần như hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, gây ô nhiễm môi trường và chất lượng sản phẩm tái chế thấp
Vì vậy, để đưa ngành tái chế chất thải nói chung và ngành tái chế nhựa nói riêng phát triển mạnh như một ngành sản xuất công nghiệp nhằm thực hiện sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu lượng chất thải rắn phải xử lý vốn phát sinh ngày
Trang 12sở để định hướng phát triển ngành tái chế nhựa cũng như xây dựng chính sách hỗ trợ
sự phát triển của ngành tái chế nhựa
Cụ thể trong luận văn này chúng ta sẽ xem xét một mô hình tổng quan về hiện trạng tái chế tại thành phố Hồ Chí Minh nói chung và cụ thể hơn là các vấn đề tái chế trong lĩnh vực nhựa nói riêng để từ đó đề xuất một số giải pháp hỗ trợ cho việc quản lý lĩnh vực tái chế này
1.2 MỤC TIÊU
Luận văn này chủ yếu là tập trung vào vấn đề sau:
Trên cơ sở đánh giá hiện trạng tái chế chất thải rắn tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và trường hợp cụ thể cho nhà máy tái chế nhựa Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý và hỗ trợ cho các cơ sở tái chế nhựa tại thành phố Hồ Chí Minh
1.3 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
- Các lọai hình tái chế tại thành phố Hồ Chí Minh
- Một số cơ sở tái sinh tái - chế hiện có tại địa bàn thành phố
- Trường hợp cụ thể là ngành nhựa
- Giới thiệu một số công nghệ tái chế nhựa điển hình
- Đề xuất giải pháp quản lý
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Hiện trạng tái sinh/tái chế tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Thu thập số liệu, thông tin từ các tài liệu báo cáo đã công bố
- Khảo sát thực tế bằng cách tham quan trực tiếp với các cơ sở tái sinh/tái chế
- Thông tin trên mạng internet
1.4.2 Trường hợp cụ thể cho ngành tái chế nhựa
- Thu thập số liệu, thông tin từ các tài liệu báo cáo đã công bố
- Tiếp xúc và phỏng vấn trực tiếp tại các cơ sở tái chế …
- Thông tin trên mạng internet
1.4.3 Đề xuất giải pháp
Sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh và lựa chọn
Trang 132.1.2 Chất thải rắn đô thị
Chất thải rắn đô thị là chất thải được sinh ra từ các khu nhà ở, khu thương mại,
cơ quan, khu xây dựng, khu dịch vụ công cộng, khu vực nhà máy xử lý, lò đốt chất thải rắn đô thị, khu công nghiệp trừ chất thải rắn của các công đoạn sản xuất công nghiệp
2.1.3 Chất thải rắn công nghiệp
Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn đổ ra từ các khu công nghiệp, nhà máy,
xí nghiệp, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ Chất thải rắn công nghiệp có thể có hai loại:
Chất thải rắn sinh hoạt của cán bộ công nhân
Chất thải rắn công nghệp của quá trình sản xuất
2.1.4 Chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp còn được chia làm hai loại : chất thải rắn không nguy hại và chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn nguy hại là chất thải có một trong bốn tính chất sau:
Chất dể cháy: là các chất lỏng có nhiệt độ chớp cháy dưới 60oC hoặc các chất thải rắn có khả năng gây cháy ở điều kiện nhiệt độ và áp suất chuẩn
Chất thải ăn mòn: chất thải ăn mòn là các chất thải lỏng có pH < 2 hoặc >12,5
hoặc có khả năng ăn mòn thép lớn hơn 0,25 inches/năm
Chất thải hoạt tính: chất thải hoạt tính thường không ổn định, phản ứng mảnh
liệt với không khí hoặc nước, hoặc tạo thành các hỗn hợp có khả năng nổ với nước Loại chất thải này bao gồm các loại chất thải phát tán khói độc hại khi xáo trộn với
Trang 14Tính độc hại: tính độc hại khó định nghĩa hơn Mục tiêu của thông số này là để
xác định xem các thành phần độc hại trong mẫu chất thải rắn có thấm vào nước ngầm không nếu chất thải được đặt trong bãi chôn lấp chất thải rắn đô thị
2.1.5 Chất thải rắn y tế
Chất thải rắn y tế là chất thải rắn sinh ra từ các cơ sở y tế (bệnh vịện, trung tâm y
tế, phòng khám nhà thuốc) Chất thải y tế có thể được chia ra làm các loại sau:
Chất thải lâm sàng
Chất thải phóng xạ
Chất thải hóa học
Các bình chứa khí có áp suất
Chất thải sinh hoạt có và không có vi sinh vật lây nhiễm
2.2 HIỆN TRẠNG KHỐI LƯỢNG, THÀNH PHẦN,TÍNH CHẤT CỦA CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
2.2.1 Khối lượng và Nguồn gốc phát sinh
2.2.1.1 Khối lượng
Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích tự nhiên 2.093,7km2, dân số 6.117.251 người; là trung tâm kinh tế, văn hoá, thương mại lớn nhất Việt Nam Theo thống kê và dự toán sơ bộ của Công ty Môi trường đô thị TPHCM, mỗi ngày TPHCM
có 5.229 tấn chất thải rắn sinh hoạt, mỗi năm tăng khoảng 40% Đến năm 2010, mỗi năm TPHCM thải ra 23 triệu tấn chất thải rắn Riêng rác chợ và rác thực phẩm, mỗi ngày TPHCM xả ra khoảng 4.300 tấn Cơ sở công nghiệp và y tế khoảng 800-1.200 tấn/ngày Bên cạnh đó, còn có khoảng 700-1.200 tấn chất thải rắn xây dựng (xà bần)
và 700-900 tấn chất thải rắn công nghiệp, trong đó có khoảng 150-200 tấn chất thải nguy hại Lượng chất thải này, một phần được tái chế và phần còn lại được chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi rác Phước Hiệp - Củ Chi và bãi rác Gò Cát với tổng khối lượng chôn lấp khoảng 5200 tấn/ngày (nguồn Công ty Môi trường đô thị - 4/2006) Ngoài ra, tính đến cuối năm 2005, Tp.HCM có 12 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất, 1 khu công nghệ cao và gần 23.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ cũng góp phần thải ra một lượng chất thải rất lớn Theo ước tính sơ bộ, lượng chất thải rắn công nghiệp của thành phố khoảng 1.500 - 1.800 tấn/ngày Phần lớn chất thải công nghiệp có khả năng tái sử dụng nên được thu gom, phân loại và tái chế; các chất thải nguy hại được xử lý tiêu huỷ bằng phương pháp đốt hoặc đóng rắn, ; phần còn lại (không có khả năng tái chế hoặc chất thải nguy hại) được nhập chung chôn lấp cùng chất thải rắn sinh hoạt
Trang 15Bảng 2.1: Lượng chất thải rắn tại thành phố Hồ Chí Minh
hoạt
1,000
kg/người/ngày(a)
2,059 kg/người/ngày(a)
5.146.078 người (b)
7.602.598 người (b)
18 (7512 ha) (e) 148 639
7,021
(a) : Theo ước tính của Công ty Dịch vụ công cộng TPHCM
(b) : Chỉ tính cho dân số khu vực nội thành (cũ và mở rộng) có tính đến lượng khách vãng lai là 500.000 người vào năm 2000 và 1.500.000 người vào năm 2010 (Phương
án 2 – Qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội TPHCM đến năm 2010)
(c) : Tạm tính theo số liệu đúc kết từ điều tra khảo sát thực tế tại KCN Biên Hòa I
(d) : Tạm tính trên cơ sở 10 KCN đang hoạt động với giải thiết các KCN này bình quân
đã khai thác được 50% đất công nghiệp, ngoại trừ KCN Hiệp Phước có qui mô 2000
ha nhưng số lượng còn rất ít
(e) : Số liệu căn cứ theo quy hoạch
(f) : Số liệu năm 1997 lấy theo Niên giám thống kê
(g) : Các số liệu suy dẫn từ Niên giám thống kê 1997 của Cục Thống kê TPHCM
2.2.1.2 Nguồn gốc
- Chất thải rắn đô thị phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong hoạt động của con người Về mặt tổng quát, nguồn của chất thải rắn đô thị, liên quan chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch vùng có thể phân ra như sau:
Khu dân cư
Khu thương mại
Trang 16 Chất thải rắn từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng khách sạn, khu vui chơi giải trí khu văn hoá…: thực phẩm dư thừa, nilon, cacton, giấy, nhựa, gỗ, vải, rác vườn, gỗ, thuỷ tinh, lon đồ hộp, các chất thải độc hại
Chất thải từ các viện nghiên cứu, cơ quan trường học…: giấy bao bì các loại …
Chất thải từ công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp khắp thành phố : gỗ vụn, sắt thép, xà bần, …
Chất thải rắn sản xuất bao gồm các chất thải đặc trưng của quá trình sản xuất công nông nghiệp…
Chất thải rắn độc hại bao gồm rác bệnh viện, chất phóng xạ, pin thuỷ ngân, các hoá chất độc hại và lượng tương đương
2.2.2 Thành phần
Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp không đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau Tùy theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định Thành phần của chất thải rắn đô thị tại các đô thị ở Việt Nam có lẽ là bao quát hơn tất cả vì nó có thể bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố…)
Đối với chất thải rắn đô thị thành phần của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như : mức sống, cung cách sống, trình độ sản xuất, các nguồn tài nguyên quốc gia, mùa vụ trong năm, khả năng thu hồi lại các phế thải…
Trang 17Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn của hộ gia đình, trạm trung chuyển và bải chôn lấp tại thành phố Hồ Chí Minh
Độ tro (%)
Khối lượng (%)
Độ ẩm (%) Độ tro
(%)
Khối lượng (%)
Độ ẩm (%)
Độ tro (%)
Khối lượng (%)
Độ ẩm (%) Độ tro (%)
Thực phẩm 61,0 -96,6 60,2- 89,6 3,5 – 47,0 72,0- 94,0 58,7-85,2 3,4-12,3 65,0-84,5 75,2-79,5 3,0-8,2 68,9-75,6 56,4-86,0 25,2-56,2 Nylon KĐK-13,0 5,7-52,8 0,0 1.6 -9,6 11,6-60,5 0,0 5,0-13,0 17,6-52,7 0,0 12,6-45,4 12,6-45,4 0,0
Giấy 0,0 -14,2 17,7-51,5 1,0 - 13,6 KĐK-5.6 10,1-55,6 4,7-9,1 3,6-8,0 3,5-56,0 4,3-6,5 0,0-5,4 12,6-22,5 4,2-18,4 Thuỷ tinh 4,0 -25,0 - - 0,0-5,6 - - KĐK-1,6 - - 0,0-2,0 - - Kim loại 0,9 -3,3 - - 0,0-0,5 - - 0,0-1,0 - - 0,0-2,0 - -
Da 0,0 - - 0,0-1,9 0,8 - 0,0-0,2 - - 0,0-1,0 - -
Xà bần 0,0 -10,5 20,0 - 0,0-5,5 - - 0,0 - - 0,0-KĐK - -
Sành sứ 0,0 -3,6 - - 0,0-0,8 8,0-9,2 - 0,0-11 - - 0,0-KĐK - -
Carton 0,0 -4,6 - - 0,0-6,5 20,2-66,7 12,5-13,0 0,0 - - 0,0-2,5 - - Lon đồ hộp 0,0- 10,2 - - 0,0-4,3 - - 0,0-6,7 - - 0,0 - - Pin 0,0 - - 0,0-1,0 - - 0,0-KĐK - - 0,0-KĐK - -
Bông gòn 0,0- 2,0 - - 0,0 - - 0,0-36,3 - - 0.0 - -
Trang 18sơn
0,0 - - 0,0-KĐK - - - - - - - Mica 0,0 - - 0,0-KĐK - - - - - - - -
Trang 19Bảng 2.3: Phân tích hoá học cuối cùng các thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
STT THÀNH PHẦN Phần trăm trọng lượng khô
Carbon Hydro Oxy Nitơ Sulfur Tro
Các thành phần hữu cơ (không kể các thành phần như plastic, cao su, da) của
hầu hết chất thải rắn có thể phân loại về phương diện sinh học như sau:
Các phân tử có thể hoà tan trong nước như: đường, tinh bột, amino acid và
nhiều acid hữu cơ
Bán cellulose: các sản phẩm ngưng tụ của đường 5 và 6 carbon
Cellulose: sản phẩm ngưng tụ của đường glucose 6 carbon
Dầu, mỡ, và sáp là những ester của rượu và acid béo mạch dài
Lignin là hợp chất cao phân tử chứa các vòng thơm với các nhóm methoxyl
Trang 20 Lignocelluloza: hợp chất do lignin và celluloza kết hợp với nhau
Protein: chất tạo thành các aminoaxit mạch thẳng
Có lẽ tính chất sinh học quan trọng nhất của chất thải rắn đô thị là hầu hết các thành phần hữu cơ có thể được chuyển hoá sinh học thành khí, các chất rắn vô cơ và hữu cơ trơ khác
2.3 CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ CÓ THỂ TÁI CHẾ TÁI SỬ DỤNG
Các phế liệu có thể tái chế được thu mua tại các tại các vựa và các cơ sở tái chế như sau:
Giấy (giấy tập, sách truyện, báo các lọai, giấy cuser, giấy thùng cacton, giấy vụn, …)
Nhựa (nhựa trắng, nhựa màu, nhựa tôn (PC), ống mềm, cứng (mica), mũ bình (chai dầu ăn, chai nước suối, …), áo mưa…)
Nylon (nylon đen (bọc xốp), nylon giòn, nylon trắng,…)
Nhôm (nhôm dẻo, máy, đà, atimon, cứng …)
Đồng (đồng đỏ (dây điện ), đồng thau, …)
Sắt (sắt vụn (có cả pin), sắt cây, sắt đặc, gang, …)
Chai (nước tương, nước mắm, chai bia, nước ngọt, mari, tương ớt,…)
Miễng thủy tinh (miễng trắng (có cả bóng đèn hùynh quang ), miễng màu,…)
Bình ácquy
2.4 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ TPHCM
2.4.1 Thu gom vận chuyển
Công tác thu gom, vận chuyển lượng chất thải rắn trên do công ty Môi trường đô thị cùng với công ty Dịch vụ công ích các quận huyện và lực lượng tư nhân thực hiện Hiện nay trên địa bàn thành phố có 300 điểm hẹn trên đường chuyển rác từ xe đầy tay sang xe cơ giới; 39 trạm và bô trung chuyển rác (trong đó có 8 bô của công ty Môi trường đô thị và 31 trạm, bô do quận huyện quản lý); phương tiện thu gom vận chuyển rác trên địa bàn thành phố hiện có 4.128 xe thô sơ, 1.037 xe cơ giới các loại tải trọng 4 – 13 tấn (kể cả hợp tác xã), ngoài ra còn khoảng 10 tàu gỗ, 30 chiếc ghe là phương tiện thực hiện công tác vớt rác trên và ven kênh rạch với khối lượng rác bình quân 30 tấn / ngày
Trang 212.4.2 Xử lý
2.4.2.1 Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại
Chất thải công nghiệp nguy hại được thu gom tách rời khỏi chất thải công nghiệp không nguy hại Người phát thải chịu trách nhiệm xử lý bao gồm vận chuyển đến các doanh nghiệp được Sở Tài Nguyên & Môi Trường cấp phép Nếu đơn vị phát sinh nằm trong khu công nghiệp, họ sẽ ký hợp đồng thông qua khu công nghiệp Những doanh nghiệp xử lý chất thải thực hiện chôn lấp chất thải cuối cùng tại bãi chôn lấp cùng với chất thải sinh họat sau khi qua các bước xử lý trung gian, vì không có bãi chôn lấp dành riêng cho chất thải công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
2.4.2.2 Xử lý chất thải y tế
Nói chung, chất thải y tế được công ty Môi trường đô thị xử lý giống như chất thải nguy hại Công ty Môi trường đô thị có một lò đốt với công suất 7 tấn/ngày xử lý chất thải y tế thu gom từ 60 bệnh viện và phòng khám trong thành phố
2.4.2.3 Xử lý chất thải xây dựng
Chất thải từ công trường xây dựng (xà bần) được công ty Môi trường Đô thị thu gom và vận chuyển đến các bãi chôn lấp Đông Thạnh mà hiện nay không còn tiếp nhận chất thải sinh họat nữa Tại đây, để tránh tình trạng chất thải sinh họat phát tán bởi mưa, gió, xà bần được đổ đầy lên có công dụng như là những vật liệu che phủ
2.4.2.4 Xử lý chất thải công nghiệp, thương mại và sinh họat khác
Chất thải khác thường được thải ra từ các hộ gia đình, công sở, nhà máy trong tình trạng bị trộn lẫn Lọai chất thải này sau khi được thu gom đưa chất đầy lên một xe tải lớn tại trạm trung chuyển được chở tới hai bãi chôn đang ở giai đọan cuối cùng là
Gò Cát và Phước Hiệp
2.4.2.5 Những tồn tại – khó khăn
Hầu hết các chất thải rắn phát sinh trên địa bàn thành phố đều không được phân loại tại nguồn và được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh tại các bãi chôn lấp như Gò Cát (25 ha); Bình Chánh và Phước Hiệp (45 ha) thuộc khu liên hiệp Tây Bắc Củ Chi (880ha) Mặc dù các bãi chôn lấp này được đầu tư rất lớn với công nghệ hiện đại, chúng vẫn luôn tạo ra áp lực lớn đối với môi trường với một lượng lớn nước
rỉ rác (800 – 1000m3/bãi) và khí thải (500.000 – 700.000m3/ngày đêm), đặc biệt là mùi hôi Ngoài ra, việc xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh chiếm diện tích rất lớn, mỗi năm với khối lượng chất thải rắn đô thị khoảng 1,8tr tấn – 1,9tr tấn/năm (4.800 tấn – 5.200 tấn/ngày), đòi hỏi thành phố Hồ Chí Minh phải cung cấp khoảng từ 9 – 12 ha để chôn lấp, chưa kể đến diện tích đất cho các công trình phụ trợ như đường giao thông, trạm cân, sàn trung chuyển trạm xử lý nước rỉ rác và khí chôn lấp, hành lang cây xanh cách ly và diện tích này sẽ khó có thể sử dụng vào mục đích
Trang 22khác trong thời gian dài (30 – 50 năm), không những thế chúng còn cần được bảo trì
và giám sát với kinh phí hàng năm khá lớn (20 – 25 năm sau khi đóng bãi)
Để quét dọn vệ sinh đường phố, thu gom, trung chuyển, vận chuyển, xử lý và chôn lấp tòan bộ lượng chất thải rắn nói trên, mỗi năm ngân sách thành phố phải chi trả khỏang 500 – 600 tỉ đồng, các hộ dân phải trả phí thu gom trực tiếp cho hệ thống thu gom rác dân lập khoảng 120 tỉ Đó là chưa kể số tiền mà các hộ kinh doanh (nhà hàng khách sạn chợ, …) phải trả cho các công ty dịch vụ công ích các quận huyện qua các hợp đồng và mỗi năm thành phố phải đầu tư hàng trăm tỉ đồng để xây dựng các bãi chôn lấp vệ sinh, nhà máy xử lý chất thải rắn, trang bị và đổi mới xe vận chuyển, … Với khối lượng chất thải rắn đô thị tăng mỗi năm 10 – 12%, chi phí quản lý chất thải rắn cũng tăng với tốc độ chóng mặt và ngày càng là gánh nặng cho ngân sách của thành phố
Mặt khác, cho dù hàng năm phải chi ra những khoảng tiền khổng lồ để quét dọn, thu gom trung chuyển, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, nhưng thành phố vẫn phải đối mặt với các vấn đề vệ sinh môi trường, như thải rác bừa bãi trên đường phố, đổ rác xuống kênh rạch đường phố vừa được quét dọn sạch sẽ vào lúc sáng sớm thì lại đầy rác vào giờ làm việc,… do ý thức người dân trong tầng lớp về vệ sinh môi trường còn thấp, đây là một trong những nguyên nhân đáng quan tâm
Bên cạnh đó cùng với tốc độ phát triển kinh tế và dân số của thành phố, nguồn phát sinh chất thải rắn ngày càng nhiều và thành phần ngày càng phức tạp, trong đó chất thải rắn sinh họat ngày càng chứa nhiều các loại chất thải nguy hại Chất thải rắn chưa được phân lọai theo các chương trình có tổ chức Chương trình phân loại rác tại nguồn chỉ mới bắt đầu khởi động nên còn gặp nhiều khó khăn trở ngại Hệ thống thu gom rác dân lập nói riêng và công tác thu gom trên địa bàn thành phố nói chung còn nhiều bất cập trong tổ chức và họat động Phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt chưa được tính toán và thu đầy đủ Thành phố đang phải chi ra kinh phí rất lớn cho vấn đề này
Chính vì thế cần phải có biện pháp khai thác nguồn tài nguyên từ rác thải do đó tái chế chính là một trong những giải pháp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bên cạnh đó nó còn giúp làm giảm bớt áp lực đối với các bãi chôn lấp
2.4.3 Hoạt động tái chế chất thải rắn đô thị
2.4.3.1 Đánh giá hiện trạng họat động thu gom chất thải có thể tái chế
2.4.3.1.1 Hiện trạng các cơ sở thu mua
Qua kết quả khảo sát một số cơ sở thu mua phế liệu ta có thể toàn cảnh về cơ sở hạ tầng phục vụ cho công việc thu mua phế liệu (bao gồm cả phân lọai) như sau:
Trang 23Trong số các loại phế liệu được thu mua thì giấy, nhựa, kim loại là 3 loại hình
được thu mua nhiều nhất Và hầu như cơ sở nào cũng thu mua và có cơ sở chi thu mua
duy nhất 3 loại này
Phần lớn các cơ sở thu mua phế liệu phải thuê mặt bằng để họat động kinh
doanh Trong số 202 cơ sở được khảo sát thì có đến 178 cơ sở (78,2%) phải thuê mặt
bằng Đây là con số rất lớn nếu so với số lượng cơ sở tái sinh tái chế phải thuê mặt
bằng (21%) – (dự án xây dựng mô hình quỹ tái chế )
Do tiền thuê mặt bằng chiếm một phần lớn trong các khỏan chi phí, phần lớn các
cơ sở thu mua phế liệu có diện tích nhỏ hoặc rất nhỏ Số lượng cơ sở có thu mua có
diện tích lớn (vài trăm m2) và nhân công nhiều (6 người trở lên) không nhiều (4,5%)
Bảng 2.4: Diện tích đất sử dụng và chi phí thuê đất sử dụng cho các hoạt động tái chế
của 202 cơ sở thu mua phế liệu
Lọai hình tái chế Diện tích đất sử dụng (m
2)
<25 25 – 50 50 – 75 75 – 100 >100 Thu mua phế liệu
Chi phí thuê
(VNĐ/tháng)
80.000 – 2.000.000
120.000 – 3.000.000
60.000 – 3.000.000
700.000 – 4.000.000
120.000 – 3.600.000 (Nguồn: Đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải )
Họat động thu mua
Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống Thu hồi - tái chế
Phân lọai kỹ
Phân lọai sơ
Thu nhặt tại các bãi rác và
có phân lọai kỹ Thu nhặt tại các bãi rác Thu mua nhặt dọc đường
Thu mua ve chai dạo
Vựa thu mua trung bình
Vựa thu mua lớn
Bãi chôn lấp
Các
cơ sở tái chế tái sử dụng
Người môi giới
Trang 24Từ quy trình thu gom trên ta thấy: Những người nhặt rác và người mua ve chai từ các hộ gia đình là cấp thấp nhất trong hệ thống này Từ những gánh ve chai, phế liệu được tập trung về vựa ve chai quy mô nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư
Các vựa này thu mua tất cả các loại phế liệu, tại đây phế liệu sẽ được phân loại thành các thành phần riêng và bán lại cho các vựa thu mua phế liệu quy mô trung bình
và lớn hoặc bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế Các vựa quy mô trung bình và lớn chỉ tập trung thu mua một hay hai loại phế liệu nhất định từ các vựa nhỏ Các phế liệu này
đã qua xử lý sơ bộ như: làm sạch, ép nhỏ nên hoạt động của các vựa này tương đối đơn giản hơn Sau đó phế liệu từ các vựa lớn được chuyển đến các cơ sở tái chế trong thành phố
Quá trình thu mua, lưu trữ tại vựa phế liệu đã được phân thành từng loại riêng biệt Tuy nhiên, đối với phế liệu từ sản xuất công nghiệp thì được vận chuyển đến các
cơ sở sơ chế phế liệu Sau khi phế liệu được phân loại, tiếp theo được vận chuyển đến các cơ sở tái chế Quá trình phân loại và sơ chế phế liệu chủ yếu được thực hiện bằng thủ công và sử dụng sức người là chính Do qui mô nhỏ nên khả năng tài chính không cao Đa số các vựa thu gom và sơ chế đều bán cho các vựa thu mua lớn hơn lượng phế liệu trong ngày Theo số liệu khảo sát từ đề tài “ Nghiên cứu xây dựng quỹ tái chế cho Tp.HCM” số lượng cơ sở thu mua phế liệu và sơ chế nhỏ có mức vốn dưới 5 triệu đồng/cơ sở chiếm trên 30% số lượng cơ sở hiện nay
Lực lượng lao động thu mua hầu hết là dân di cư tự do từ nông thôn ra thành thị, lực lượng này chủ yếu là các người thu mua ve chai dạo, các người thu lượm rác dạo (thường là các trẻ em nghèo, đa số là không được đến trường ) và một số tập trung tại các bãi rác để nhặt những thứ có thể bán được cho các cơ sở thu mua Hoạt động này hình thành tự phát không có sự quản lý của các cơ quan nhà nước, mức thu nhập bình quân của những người thu mua ve chai dạo là khoảng 20.000đ/ngày và của những người nhặt rác là từ 10.000 – 15.000đ /ngày Những người này sẽ len lỏi vào các ngõ hẻm dể thu mua hay lượm rác Có thể nói đây là lực lượng khá cần thiết cho đối với chương trình phân lọai rác tại nguồn
Ngoài những nguồn phế liệu từ các cơ sở thu mua lớn, các cơ sở tái chế cũng tự mua phế liệu từ những người thu mua phế liệu lẻ, mặc dù không hình thành hệ thống chân rết thu gom phế liệu như các cơ sở thu mua nhưng các cơ sở tái chế cũng có một thế mạnh riêng là giá thu mua lại cao hơn và do biết rõ được nhu cầu chất thải tái chế (nguyên liệu đầu vào) nên việc mua phế liệu đầu vào cũng dể dàng hơn Và do vậy lượng phế liệu được bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế cũng nhiều hơn so với các cơ
sở thu mua
Các cơ sở thu mua và các cơ sở tái chế có thu mua đều phát huy thế mạnh riêng của mình để có được nguồn phế liệu cần thiết Có thể nhận thấy đặc điểm thu mua từng lọai phế liệu của từng cơ sở như sau:
Các cơ sở thu mua phế liệu có thế mạnh trong việc mua các lọai phế liệu
Trang 25Có giá trị cao như sắt, đồng, nhôm …
Số lượng ít và rải rác như ve chai, chỉ vụn…
Có giá trị thấp hoặc khó tái chế như nylon…
Các cơ sở tái chế có thu mua phế liệu có thế mạnh trong việc thu mua các lọai phế liệu
Các loại phế liệu cần số lượng lớn khi tái chế như nhựa, giấy …
Các loại phế liệu có giá trị thấp (ít người thu gom) như thuỷ tinh…
Bảng 2.5: Thành phần và khối lượng các lọai phế liệu thu mua tại các cơ sở thu mua tại các cơ sở thu mua tái chế
STT Lọai phế liệu
Khối lượng phế liệu được thu mua tại 202 cơ sở thu mua phế liệu (tấn/tháng)
Khối lượng phế liệu được thu mua tại 100 cơ sở tái chế phế liệu (tấn/tháng)
Trang 26Hộ gia đình, người nhặt rác
Người mua phế liệu dạo
Các vựa phế liệu qui mô nhỏ
Các vựa phế liệu qui mô trung- lớn
Cơ sở tái chế phế liệu
Thùng cacton, giấy vụn
Báo nhỏ (Tuổi Trẻ, Công An )
Báo lớn (Sài Gòn, Nhân Dân )
500 đ/cái
1.000 1.000 2.200 1.000 1.700
600 đ/cái
1.100 – 1.250
1.200 2.400 1.150 2.200
700 đ/cái
Nấu lại Tái sử dụng Tái sử dụng Tái sử dụng Tái sử dụng Tái sử dụng
3.200 3.500 3.000 2.200 1.500 – 3.000
1.700 2.200
3.400 3.700 3.400 2.300 3.300 3.400 2.500
1.000 2.300 4.500
1.200 2.600 4.800
15.000 16.000
Nấu lại
50
30
Trang 27Nhôm đà
Atimon
Nhôm cứng
13.000 8.000 10.00
14.000 9.000 11.000
17.000 11.000 12.500
750 2.000 1.000 1.500
900 2.400 1.300 1.800
Nấu lại Tái sử dụng Nấu lại Nấu lại
500 đồng/chai
300 100 100 200 600 1.000
500 300 300 450 900 1.200
Trang 28
24
2.4.3.1.2 Nhận xét về hoạt động thu mua chất thải ở thành phố Hồ Chí Minh
Tất cả các cơ sở thu mua phế liệu được khảo sát đều có quy mô vừa và nhỏ hình thành trên cơ sở quan hệ gia đình
Cơ sở hạ tầng của các cơ sở thu mua phế liệu là rất thấp kém, đa số các cơ sở thu mua chỉ tập trung vào mua một số ít loại phế liệu nào đó chứ không dàn trải, do mặt bằng nhỏ và ít nhân công để phân loại Ngoài ra, do đa số các vựa thu mua và sơ chế phế liệu đa số thuê mặt bằng nên đầu tư nhà xưởng không đầy đủ Tại các cơ sở thu mua, nguy cơ gây cháy nổ rất cao do các phế liệu được lưu chứa không đúng cách và tận dụng tối đa mặt bằng để lưu chứa
Hầu hết công đoạn phân loại là thực hiện theo phương pháp thủ công và không
có bất kì một phương tiện bảo hộ lao động nào
Phương tiện chuyên chở chủ yếu là các loại xe thô sơ như xe ba gác nhỏ hoặc xe lam và thường là chở quá tải
Giá thu mua các loại phế liệu này không chênh lệch lớn lắm giữa các vựa thu mua mà sự chênh lệch giá cả này chỉ do sự cạnh tranh nguồn thu và quy mô giữa các vựa
Các phế liệu sau khi thu mua sẽ đựơc các cơ sở phân loại và bán lại cho các cơ sở tái chế Sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán thường không lớn lắm chỉ trong khoảng
Về mặt nghĩa vụ thuế đối với nhà nước: các cơ sở thu mua phế liệu cũng chưa thực hiện đầy đủ, chỉ có khoảng 50% cơ sở hoạt động có đóng thuế (số liệu tham khảo
từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải) Điều này cũng chứng tỏ rằng sự quản lý nhà nước đối với các cơ sở thu mua phế liệu cũng chưa được chặt chẽ lắm
Hệ thống thu hồi cũng còn có một số bất cập như hoạt động tự phát, không có tổ chức, nằm ngoài mọi cơ chế quản lý Bên cạnh đó, mặc dù công việc nặng nhọc, môi trường độc hại nhưng những người đồng nát không được tiếp cận với quyền lợi người lao động, thậm chí nhiều người còn chịu sự mặc cảm tự ti về công việc Mặc dù hỗ trợ
có hiệu quả cho công tác giảm thải nhưng đến nay lực lượng này chưa được thừa nhận như một lực lượng tham gia hữu hiệu vào công tác quản lý chất thải rắn Đó vừa là lỗ hổng trong khai thác tiềm lực sẵn có vừa là sự thiệt thòi cho người lao động trong hệ thống này Ngoài ra họ còn phải chịu khá nhiều những rủi ro khác trong công việc cũng như thiệt thòi khi gặp phải thái độ đối xử không công bằng của dân địa phương
Trang 29
2.4.3.2 Đánh giá hiện trạng họat động tái chế chất thải
2.4.3.2.1 Hiện trạng tái chế chất thải
Tại Tp.HCM, thị trường tái chế phế liệu đã được hình thành và phát triển từ hơn
30 năm qua Thống kê hiện nay có khoảng hơn 400 cơ sở tái chế vừa và nhỏ trong các
lĩnh vực tái chế rất đa dạng như: tái chế nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại, cao su, vải…
tập trung nhiều ở các khu vực như: Bình Tân, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, Quận
11, 9… với khối lượng chất thải được tái chế hàng ngày ước tính khoảng 2000 - 3000
tấn tương ứng khoảng 600 - 800 triệu đồng lợi nhuận mỗi ngày, tạo việc làm cho
10000 – 15000 người Tỷ lệ thu gom các chất thải còn giá trị tái chế và tái sử dụng ước
tính khỏang 13 – 20%
Bảng 2.7: Tỷ lệ tái chế ở các làng nghề
Vật liệu tái chế Nguyên liệu đầu vào
(tấn/năm) Sản phẩm (tấn/năm) % được tái chế
(Nguồn: Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Chương trình KC.08.09)
Như đã trình bày, hoạt động tái chế tại Tp.HCM rất đa dạng và phong phú Xuất
phát từ việc tận dụng các chất thải có thể tái sử dụng được nên trong rác có thành phần
nào tái sử dụng được là tương ứng với việc hình thành một loại hình tái chế
Có thể nói các cơ sở tái chế phế liệu là điểm dừng chân cuối cùng của phế liệu
trước khi chúng được tái sinh thành sản phẩm mới Tùy theo tính chất và qui trình sản
xuất, các cơ sở tái chế chuyên thu mua một lọai phế thải nhất định như chai miễng (tái
chế thủy tinh ), giấy các lọai (tái chế giấy), các lọai kim loại (đúc gang nhôm, đồng
…), nhựa các loại (nấu nhựa), v.v Kết quả khảo sát và phỏng vấn cho thấy, hầu hết
các cơ sở nhà máy tái chế phế liệu tại thành phố Hồ Chí Minh đã ra đời và tồn tại từ
rất lâu có cơ sở hoạt động hơn 20 năm và sử dụng gần như 100% phế liệu để làm
nguyên liệu sản xuất
Mặc dù họat động tái chế đã có từ lâu nhưng công nghệ tái chế vẫn không được
đầu tư mới Lĩnh vực tái chế nhựa, giấy, kim loại là ba ngành tái chế chủ lực nhưng
vẫn sử dụng những công nghệ các đây hơn 20 năm Công nghệ cũ và lạc hậu đã làm
chi phí sản xuất cao và đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng Mặc
dù chi phí sản xuất cao nhưng do thị trường tái chế có nhu cầu lớn nên đa số các sản
phẩm đều có thị trường tiêu thụ Thị trường tiêu thụ không chỉ tại Tp.HCM mà còn ở
các tỉnh khắp Việt Nam tùy thuộc vào loại hình sản phẩm tái chế
Trang 30
26
Các cơ sở tái chế nhỏ (hộ sản xuất) có thể mua phế liệu từ người thu gom và các đại lý thu mua, còn các cơ sở tái chế lớn hơn cần nguồn hàng ổn định và tương đối lớn nên phải mua từ các đại lý
Các cơ sở tái chế quan trọng hàng ngày tiêu thụ lượng phế liệu khá lớn Có thể một phần lớn phế liệu trong CTR công nghiệp cũng đã được sử dụng trong khu vực này mà không bị đưa ra bãi rác
Có rất nhiều cơ sở sản xuất nhỏ (hộ gia đình), hoạt động dưới hình thức tiểu thủ công nghiệp với kỹ thuật hết sức đơn giản, chủ yếu là nấu nhôm, phục chế vỏ bao xi măng, sắt xây dựng, tái sử dụng phế liệu ngành may Đây là lực lượng có vai trò quan trọng thúc đẩy tận thu phế liệu trong cộng đồng Tuy hiệu quả kinh tế không cao nhưng có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn: Giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập, ổn định đời sống cho một bộ phận không nhỏ lao động, hạn chế các tệ nạn xã hội
Các cơ sở sản xuất lớn, vừa và nhỏ có đăng ký kinh doanh là khu vực tiêu thụ phế liệu chủ yếu, phần lớn là tái chế giấy, plastic, kim loại Tại các cơ sở quốc doanh hoạt động tái chế chưa được chú trọng Các cơ sở tư nhân đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, các cơ sở hình thành từ 4-5 năm trước (khi hoạt động tái chế mới phát triển) nhưng không có sự đầu tư mở rộng sản xuất và thay đổi công nghệ thì đang làm ăn kém hiệu quả, còn các cơ sở mới hình thành 1-2 năm nay hay các cơ sở cũ nhưng mới đầu tư phát triển sản xuất, thay đổi công nghệ, tìm kiếm các nguồn phế liệu và sản phẩm mới thì đều có hiệu quả kinh tế và khả năng phát triển tốt
Sự biến đổi trong hệ thống cơ sở tái chế ở một số địa phương cho thấy hoạt động tái chế bắt đầu bước sang giai đoạn phát triển mới, chuyển từ sản xuất quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu sang quy mô lớn công nghệ hiện đại Sự phát triển nhanh mạnh cả
về chất lượng và quy mô trong hoạt động tái chế thời gian qua một phần là do sự tự vận động của chủ cơ sở sản xuất, mặt khác là do chính quyền địa phương đã có sự hỗ trợ rất kịp thời và hiệu quả cho các dự án vừa có hiệu quả kinh tế - xã hội cao vừa tham gia BVMT, do đó khuyến khích được sản xuất tái chế
Tại các cơ sở tái chế, phân loại lần cuối, làm sạch và được tái chế thành nguồn nguyên liệu mới hoặc các sản phẩm tuỳ thuộc vào loại hình tái chế mà hình thành các khu vực tái chế riêng biệt như: tái chế nhựa (tập trung nhiều ở quận Bình Chánh, Bình Tân, quận 11, quận 6); tái chế thuỷ tinh (tập trung nhiều ở quận 12, Hóc Môn, Củ Chi; ) nhìn chung lĩnh vực tái chế chủ yếu do dân nhập cư, người lao động trình độ thấp thực hiện nên qui mô sản xuất nhỏ và mức độ đầu tư công nghệ không cao Đa số công nghệ đều lạc hậu, máy móc thiết bị cũ kỹ do đa số được chế tạo trong nước (bằng phương pháp thủ công) nên hoạt động không hiệu quả, thường xuyên hư hỏng Do đó, mức độ tiêu hao phế liệu rất lớn (từ 10 - 20%) và tiêu thụ điện năng nhiều
Trang 31
2.4.3.2.2 Phân loại các cơ sở tái chế
Theo số liệu điều tra 202 vựa thu mua phế liệu và 100 cơ sở tái sinh tái chế trên địa bàn thành phố (Đề tài “Xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải TP HCM”) Các loại hình tái chế phổ biến nhất hiện nay:
Thu mua phế liệu
Tái chế giấy
Tái chế thuỷ tinh
Tái chế kim loại (như: sắt, đồng, nhôm,…)
Tái chế nhựa
Tái chế caosu
Kết quả khảo sát từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải cho
thấy sự phân bố theo địa bàn của các lọai hình tái chế chất thải như sau:
Các cơ sở thực hiện công đoạn thu mua và phân lọai phế liệu có khả năng tái sinh tái chế chiếm đa số với tỉ lệ 67% và phân bố gần như khắp các địa bàn 22 quận huyện trong khi các loại hình tái sinh tái chế còn lại chiếm 33% được phân bố ở một số quận như Q6 – Q8 – Q10 – Q Bình Tân - Q Tân Phú và tập trung chủ yếu ở Q 11
Trong các loại hình tái chế hiện hữu, loại hình tái chế nhựa chiếm tỉ lệ cao nhất với 67/302 cơ sở chiếm 22,2%, kế đến là loại hình tái chế thuỷ tinh với 15/302 cơ sở chiếm tỉ lệ 5% Loại hình tái chế kim loại chiếm thứ ba với 9/302 cơ sở chiếm tỉ lệ 3%, loại hình tái chế giấy xếp thứ tư với 7/302 cơ sở chiếm 2,3% và cuối cùng là loại hình tái chế cao su chỉ chiếm 0,7%
Trong 22 quận huyện đã khảo sát, Quận 11 có số cơ sở tái chế tập trung nhiều nhất (85/302 cơ sở) với các loại hình tái chế tập trung chủ yếu là tái chế nhựa, tái chế thuỷ tinh Tỷ lệ phân bố các loại hình tái sinh – tái chế trên địa bàn Tp.HCM được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.8: Tỷ lệ phân bố các loại hình tái sinh – tái chế trên địa bàn Tp.HCM
Loại hình tái
chế
Thu mua
Tái chế caosu
Tái chế nhựa
Tái chế kim loại
Tái chế giấy
Tái chế thuỷ tinh
Tổng cộng
Trang 32(Nguồn tham khảo từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải )
Phân loại theo quy mô đầu tư
Theo nghị định 90/2001/NĐ – CP, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất
có tổng số vốn đầu tư không quá 10 tỷ đồng Việt Nam hoặc tổng số nhân công lao động hàng năm không vượt quá 300 người Theo định nghĩa này, các cơ sở tái chế chất thải được chia làm 2 loại cơ sở có qui mô khác nhau là qui mô lớn và quy mô vừa và nhỏ
Các cơ sở thu mua phế liệu thường có quy mô đầu tư nhỏ (số cơ sở thu mua phế liệu có vốn đầu tư nhỏ hơn 25tr đồng, chiếm khoảng 80%) Ở các cơ sở này, lực lượng lao động chủ yếu là người trong gia đình và chỉ thuê 1 – 2 nhân công phụ giúp
Các cơ sở thu mua phế liệu có vốn đầu tư lớn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ như cơ sở
có vốn đầu tư trên 100 tr là 1,5%, vốn đầu tư 50 – 100 tr là 9,9% và vốn đầu tư 25 – 50
tr là 8,4% Nguyên nhân hình thành các cơ sở có vốn đầu tư nhỏ (nhỏ hơn 25 tr đồng)
có thể là do thời gian quay vòng vốn nhanh, các cơ sở tự phát hình thành nên số vốn nhỏ hoặc có thể do diện tích cơ sở quá nhỏ nên không thể chứa một lượng lớn chất thải cần tái chế
Trang 33
Tỉ lệ phân bố số lượng cơ sở TS-TC
theo mức vốn đầu tư
>100tr
Hình 2.2: Tỉ lệ phân bố số lượng cơ sở tái sinh tái chế theo mức vốn đầu tư
Phân loại theo số lượng lao động
Số lao động tại các cơ sở tái sinh tái chế phụ thuộc vào quy mô hoạt động cũng như loại hình tái chế Số lượng lao động và mức thu nhập bình quân của từng người theo từng loại hình tái sinh tái chế được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.9: Số lượng lao động và mức thu nhập bình quân của từng người theo từng loại hình tái sinh tái chế
Số lượng lao
động
Số cơ sở tái chế
Thu nhập bình quân (VNĐ/ tháng) Diện tích
đất sử dụng
Khoảng dao động Khoảng dao động
Trang 3448 – 625
(Nguồn tham khảo từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải )
2.4.3.3 Nhận xét chung về hoạt động tái chế ở TP.HCM:
- Hoạt động tái chế chính là động lực phát triển, thúc đẩy hoạt động thu mua
- Đa số các cơ sở tái chế là các cơ sở sản xuất mà chưa có sự phân chia riêng biệt nên sản phẩm tạo thành là những vật dụng thông thường chất lượng thấp
- Các cơ sở tái chế hầu hết đã hoạt động từ rất lâu, công nghệ cũ và lạc hậu, không đảm bảo an toàn lao động,
- Hầu hết công nhân hoạt động trong lĩnh vực này có trình độ văn hóa rất thấp (khoảng 80% có trình độ trung học cơ sở ), chủ yếu là người nhà và không có chuyên môn
- Các cơ sở tái chế đa số nằm xen kẽ trong các khu dân cư, ngoại trừ một số cơ
sở đã bị buộc di dời ra ngoại thành
- Công đọan phân loại chủ yếu được thực hiện bằng tay mà không được trang bị bất kì phương tiện bảo hộ nào
- Các công nghệ dùng cho việc tái chế hầu hết rất thô sơ và đã hoạt động từ rất lâu cho nên khi vận hành thường phát sinh tiếng ồn
Trang 35
2.5 HIỆN TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TÁI CHẾ
2.5.1 Các loại sản phẩm tái chế tại thành phố Hồ Chí Minh
Hiện nay, đa số các loại cơ sở tái chế có qui mô nhỏ nên việc đầu tư cho công nghệ là quá ít, chính vì vậy đã không tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao
Có thể nhận thấy rằng, các sản phẩm của quá trình tái chế là nguyên liệu thô và sản phẩm hoàn thiện Các loại sản phẩm này tuỳ mục đích sử dụng sẽ được bán cho các đối tượng tiêu thụ khác nhau và yêu cầu chất lượng cũng khác nhau
2.5.1.1 Sản phẩm tái chế là các loại nguyên liệu thô
Các loại sản phẩm tái chế là các nguyên liệu thô hình thành chủ yếu từ các cơ sở thu mua phế liệu Tại đây các loại phế liệu được phân thành các thành phần riêng biệt, làm sạch sẽ và bán cho các đầu mối tiêu thụ
Bảng 2.10:Một số loại nguyên liệu thô được tạo thành từ quá trình tái chế
TT Loại sản phẩm là nguyên
liệu thô
Đơn giá (đồng /kg)
Khối lượng (tấn /tháng)
Trang 36- Chủng loại nguyên liệu thô là rất đa dạng bất cứ loại chất thải rắn nào cũng đều có thể tái chế để tạo thành nguyên liệu và theo kết quả khào sát thì có khoảng 20 loại nguyên liệu thô được hình thành từ chất thải rắn
- Mặc dù chất lượng các loại nguyên liệu thô hình thành từ việc tái chế chất thải rắn không bằng các loại nguyên liệu chính phẩm nhưng đối với một số ngành sản xuất
và nhu cầu cụ thể thì sản phẩm được sản xuất từ các loại nguyên liệu này vẫn có thể đáp ứng Điều này có thể kiểm chứng qua một số loại sản phẩm được sử dụng cho một
số ngành sản xuất như đông nam dược (sử dụng thuỷ tinh ), sản xuất vật liệu xây dựng (nhựa), đồ chơi (vải vụn)…
- Cũng như các loại nguyên liệu chính phẩm khác, các loại nguyên liệu thô hình thành từ việc tái chế chất thải rắn đều có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau để tạo ra nhiều sản phẩn khác nhau như giấy, nhựa, sắt …
- Một trong những vấn đề quyết định đến việc tiêu thụ sản phẩm là giá và đây lại là thế mạnh tuyệt đối của các loại nguyên liệu thô được tạo thành tử chất thải rắn
So với các nguyên liệu chính phẩm, giá nguyên liệu này rất rẻ chỉ từ 20 – 40 %
- Một số đặc điểm về các loại nguyên liệu chất thải rắn cho thấy một tiềm năng
to lớn của nó trong thị trường nguyên liệu nếu như biết sử dụng hợp lý và có các biện pháp (quản lý và công nghệ ) thích hợp
2.5.1.2 Sản phẩm tái chế là sản phẩm cuối cùng
Tuy nguồn nguyên liệu sử dụng cho sản xuất là các loại chất thải nhưng những sản phẩm tạo thành là rất phong phú về chủng loại, đa dạng về kiểu dáng, nhiều về khối lượng
Có thể đánh giá về sản phẩm được tạo thành thông qua thị trường tiêu thụ Mặc
dù hầu hết các cơ sở tái sinh tái chế đều nằm tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng thị trường tiêu thụ các sản phẩm của ngành tái chế hiện nay chủ yếu nằm ở các tỉnh ven thành phố điều này cho chúng ta thấy rằng đa số đây là những sản phẩm “cấp thấp” Tuy nhiên nếu nhìn một cách mang tính chiến lược và xa hơn thì chắc chắn những sản phẩm này cũng có chỗ đứng trên thị trường vì một số ưu thế vượt trội của nó
Chủng loại các sản phẩm rất là đa dạng Theo kết quả khảo sát 100 cơ sở tái sinh chất thải thì số lượng sản phẩm tạo thành là hơn 40 loại
2.5.1.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm tái chế
Hiện nay đa số các cơ sở tái sinh tái chế chất thải đều nằm trong thành phố Hồ Chí Minh nhưng thị trường tiêu thụ các sản phẩm của ngành tái chế hiện nay là các
Trang 37
tỉnh thành phố Đối với các loại sản phẩm tái chế là nguyên liệu thô thì được tiêu thụ ngay tại thị trường thành phố nhưng sản phẩm tái chế hoàn chỉnh thì đa phần phải tiêu thụ ở thị trường các tỉnh
2.5.1.4 Thị trường tiêu thụ sản phẩm thô
Thị trường tiêu thụ nguyên liệu thô chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh Có thể nhận thấy đây là một thị trường cực kỳ rộng lớn và khả năng tiêu thụ lớn do một số các đặc điểm sau:
- Đa số các cơ sở tái sinh tái chế đều tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh và tất nhiên nguyên liệu sử dụng là các loại chất thải tiêu thụ hàng năm rất lớn (hàng chục tấn mỗi tháng) Theo kết quả khảo sát tại 100 cơ sở tái sinh tái chế thì số lượng chất thải (chưa kể phần nguyên liệu ) được mua vào tương đương với lượng thu mua của các cơ sở thu mua phế liệu
- Ngoài các cơ sở tái sinh tái chế thì trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn có rất nhiều cơ sở sản xuất vừa và nhỏ và một trong những cơ sở này có sử dụng nguyên liệu được tạo thành từ chất thải rắn
- Đa số các nguyên liệu này có chất lượng không đồng bộ, do mỗi cơ sở có sự phân loại khác nhau, giá cả mua vào và bán ra cũng khác nhau, dẫn đến việc đóng gói không theo quy cách Việc vận chuyển đi xa sẽ khó khăn và làm tăng chi phí, do đó việc tiêu thụ tại chỗ là tối ưu và hiệu quả nhất
Theo kết quả khảo sát (Đề tài “Xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải thành phố
Hồ Chí Minh ”) các loại nguyên liệu thô được tiêu thụ dựa trên các quan hệ mua bán lâu năm Một số các đối tượng chọn mua các loại nguyên liệu này gồm:
Các cơ sở thu mua: tiêu thụ khoảng 75% lượng hàng tiêu thụ của các cơ sở thu
mua Các cơ sở này mua các loại nguyên liệu thô về để sản xuất hoặc bán lại cho các
cơ sở tái chế
Các cơ sở tái chế: tiêu thụ khoảng 10% lượng hàng trực tiếp từ các cơ sở thu
mua Phần lớn nguyên liệu còn lại được thu mua từ các cơ sở mua bán trung gian và các cơ sở đem đến bán trực tiếp Rất ít cơ sở tái chế mua loại nguyên liệu thô (chất thải
đã được phân loại, xử lý sơ bộ ) vì giá thành cao hơn so với mua chất thải
Các đơn vị đặt hàng: khoảng 10% lượng nguyên liệu thô được tiêu thụ bởi các
cơ sở sản xuất đặt hàng vì chúng đòi hỏi chất lượng nguyên liệu tương đối cao và đa số các cơ sở thu mua khó có thể đáp ứng
Khách hàng ngoài chợ: số lượng nguyên liệu thô được bán ngoài chợ là rất ít
(khoảng 5%) do chất lượng không ổn định khách hàng cũng ít chọn loại nguyên liệu này
2.5.1.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm tái chế (sản phẩm cuối cùng)
Như đã trình bày, thị trường là thước đo đánh giá sản phẩm và vì vậy sản phẩm
Trang 38
34
không nằm ngoài quy luật Theo kết quả khảo sát thì đa số các sản phẩm tái chế hoàn chỉnh đều được tiêu thụ ở thị trường các tỉnh và các vùng ven thành phố Hồ Chí Minh
do chất lượng sản phẩm thấp mà nguyên nhân có thể là:
- Công nghệ chế biến lạc hậu và sử dụng lao động chân tay là chính
- Mẫu mã nghèo nàn
- Chất lượng thấp do không có ứng dụng khoa học kỹ thuật, theo khảo sát thì hấu hết các sản phẩm tạo thành đều cung cấp cho các nhu cầu cơ bản bình thường
- Thường ít được phối trộn với các nguyên liệu chính phẩm do sợ làm tăng giá thành sản phẩm
- Trên cơ sở đặc tính của sản phẩm tái chế và sức tiêu thụ của chúng ở thị trường các tỉnh lân cận và vùng ven thành phố Hồ Chí Minh ta có một số nhận xét sau:
- Đây là một thị trường rộng lớn với không gian trải dài dài gồm miền Tây Nam
Bộ, một phần miền Đông Nam Bộ, miền Trung và Tây Nguyên
- Khả năng tiêu thụ các sản phẩm tái chế hoàn chỉnh ở thị trường này là rất mạnh là do mức thu nhập của người dân tại các tỉnh là tương đối thấp nên nhu cầu sử dung sản phẩm tái chế là rất cao (đa số các tỉnh đều có GDP đầu người
< 500USD/năm)
- Tiềm năng tiêu thụ các sản phẩm tái chế do sự phát triển kinh tế ở khu vực các tỉnh lân cận và vùng ven thành phố Hồ Chí Minh nên đời sống ngưởi dân ngày càng được nâng cao Đi đôi với đời sống người dân ngày càng được nâng cao thì sức tiêu thụ hàng hoá ngày càng nhiều nhất là các mặt hàng thiết yếu cho đời sống hàng ngày và các sản phẩm tái chế đa số đều thuộc những loại hàng này
Như vậy có thể nói rằng mặc dù những sản phẩm tái chế có những yếu điểm nhất định nhưng thị trường và khả năng tiêu thụ rất rộng lớn và mang tính khả thi cao
Trang 39
Chương 3
HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ NHỰA TẠI TP HCM
Hiện Việt Nam có khoảng 800 doanh nghiệp nhựa có quy mô từ trung bình trở lên trong đó các công ty tư nhân chiếm 80% Nhiều doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn như Phước Thạnh, Thành Lợi, Long Thành, Đệ Nhất, Đạt Hòa, Đại Đồng Tiến, Quán Quân, Biti's, Hừng Sáng Giá trị tài sản của những đơn vị này lên đến hàng chục triệu USD, có đơn vị hàng trăm triệu USD
Bảng 3.1: Tăng trưởng nhu cầu chế biến nhựa của VN so với các nước ASEAN
Trang 40Nguồn: ASEAN Federation of Plastic Industries (AFPI)
Ngành nhựa có ưu điểm là công nghệ cập nhật hiện đại, tốc độ quay vòng nhanh,
sử dụng lao động kỹ thuật là chính, sản phẩm đa dạng, phục vụ được nhiều đối tượng, lĩnh vực công nghiệp, cũng như trong tiêu dùng hàng ngày của xã hội Theo thống kê của UNDP, 70% nhu cầu vật chất cho đời sống con người được làm bằng nhựa, từ đó chỉ số chất dẻo trên đầu người được thỏa mãn là 30 kg/đầu người (Việt Nam hiện mới chỉ đạt khoảng 14kg/đầu người), còn đạt trên 100 kg/đầu người là quốc gia có nền công nghiệp nhựa tiên tiến
Nổi bật nhất trong những năm qua là sự vươn lên mạnh mẽ của khối các công ty
tư nhân Theo thống kê sơ bộ của Hiệp hội nhựa Việt Nam, các công ty tư nhân hiện sản xuất tới 70% sản lượng của cả nước, trong khi cách đây 5 năm con số này chỉ đạt 20%
Máy móc thiết bị ngành nhựa chủ yếu được nhập từ châu Á Các công nghệ mới hiện đại trong 8 ngành kinh tế kỹ thuật nhựa đều đã có mặt tại Việt Nam, tiêu biểu như các công nghệ sản xuất vi mạch điện tử bằng nhựa, DVD, CD, chai 4 lớp, chai Pet, Pen, màng ghép phức hợp cao cấp BOPP Ðến nay, cả nước có hơn 5000 máy bao gồm: 3000 máy ép (injection), 1000 máy thổi (bowling injection) và hàng trăm profile các loại trong đó 60-70% là máy đời mới Trên 99% máy móc thiết bị nhập thông qua cảng TP Hồ Chí Minh (tổng giá trị hơn 26 triệu USD) là máy đời mới
Công nghệ áp dụng trong ngành sản xuất nhựa Việt Nam hiện nay bao gồm:
Công nghệ ép phun (Injection Technology): Ðây là công nghệ truyền thống của ngành
sản xuất nhựa, được phát triển qua 4 thế hệ máy, thế hệ thứ 4 là các loại máy ép điện,