Đánh giá hiện trạng họat động thu gom chất thải có thể tái chế

Một phần của tài liệu kl doan thi anh ngoc 610115b (Trang 22 - 29)

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTR TẠI

2.4. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ TPHCM

2.4.3. Hoạt động tái chế chất thải rắn đô thị

2.4.3.1. Đánh giá hiện trạng họat động thu gom chất thải có thể tái chế

2.4.3.1.1. Hiện trạng các cơ sở thu mua

Qua kết quả khảo sát một số cơ sở thu mua phế liệu ta có thể toàn cảnh về cơ sở hạ tầng phục vụ cho công việc thu mua phế liệu (bao gồm cả phân lọai) như sau:

Trong số các loại phế liệu được thu mua thì giấy, nhựa, kim loại là 3 loại hình được thu mua nhiều nhất. Và hầu như cơ sở nào cũng thu mua và có cơ sở chi thu mua duy nhất 3 loại này

Phần lớn các cơ sở thu mua phế liệu phải thuê mặt bằng để họat động kinh doanh. Trong số 202 cơ sở được khảo sát thì có đến 178 cơ sở (78,2%) phải thuê mặt bằng. Đây là con số rất lớn nếu so với số lượng cơ sở tái sinh tái chế phải thuê mặt bằng (21%) – (dự án xây dựng mô hình quỹ tái chế )

Do tiền thuê mặt bằng chiếm một phần lớn trong các khỏan chi phí, phần lớn các cơ sở thu mua phế liệu có diện tích nhỏ hoặc rất nhỏ. Số lượng cơ sở có thu mua có diện tích lớn (vài trăm m2) và nhân công nhiều (6 người trở lên) không nhiều (4,5%) Bảng 2.4: Diện tích đất sử dụng và chi phí thuê đất sử dụng cho các hoạt động tái chế của 202 cơ sở thu mua phế liệu

Lọai hình tái chế Diện tích đất sử dụng (m2)

<25 25 – 50 50 – 75 75 – 100 >100 Thu mua phế liệu

Số cơ sở 32 53 37 43 37

Chi phí thuê (VNĐ/tháng)

80.000 – 2.000.000

120.000 – 3.000.000

60.000 – 3.000.000

700.000 – 4.000.000

120.000 – 3.600.000 (Nguồn: Đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải )

Họat động thu mua

Hình 2.1: Sơ đồ hệ thống Thu hồi - tái chế

Phân lọai kỹ Phân lọai sơ

Thu nhặt tại các bãi rác và có phân lọai kỹ

Thu nhặt tại các bãi rác Thu mua nhặt dọc đường

Thu mua ve chai dạo

Phế liệu giá trị + nguồn đa dạng :

 Cơ quan

 Trường học

Phế liệu ít giá trị + nguồn đa dạng:

 Rác hộ dân , rác đường phố, rác chợ

Nguồn thuần khiết ổn định :

 Cửa hàng lớn

 Xí nghiệp

 Các tỉnh

Vựa thu mua nhỏ

Vựa thu mua trung bình

Vựa thu mua lớn

Bãi chôn lấp

Các cơ sở tái chế tái sử dụng

Người môi giới

20 Từ quy trình thu gom trên ta thấy: Những người nhặt rác và người mua ve chai từ các hộ gia đình là cấp thấp nhất trong hệ thống này. Từ những gánh ve chai, phế liệu được tập trung về vựa ve chai quy mô nhỏ nằm xen kẽ trong khu dân cư.

Các vựa này thu mua tất cả các loại phế liệu, tại đây phế liệu sẽ được phân loại thành các thành phần riêng và bán lại cho các vựa thu mua phế liệu quy mô trung bình và lớn hoặc bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế. Các vựa quy mô trung bình và lớn chỉ tập trung thu mua một hay hai loại phế liệu nhất định từ các vựa nhỏ. Các phế liệu này đã qua xử lý sơ bộ như: làm sạch, ép nhỏ nên hoạt động của các vựa này tương đối đơn giản hơn. Sau đó phế liệu từ các vựa lớn được chuyển đến các cơ sở tái chế trong thành phố.

Quá trình thu mua, lưu trữ tại vựa phế liệu đã được phân thành từng loại riêng biệt. Tuy nhiên, đối với phế liệu từ sản xuất công nghiệp thì được vận chuyển đến các cơ sở sơ chế phế liệu. Sau khi phế liệu được phân loại, tiếp theo được vận chuyển đến các cơ sở tái chế. Quá trình phân loại và sơ chế phế liệu chủ yếu được thực hiện bằng thủ công và sử dụng sức người là chính. Do qui mô nhỏ nên khả năng tài chính không cao. Đa số các vựa thu gom và sơ chế đều bán cho các vựa thu mua lớn hơn lượng phế liệu trong ngày. Theo số liệu khảo sát từ đề tài “ Nghiên cứu xây dựng quỹ tái chế cho Tp.HCM” số lượng cơ sở thu mua phế liệu và sơ chế nhỏ có mức vốn dưới 5 triệu đồng/cơ sở chiếm trên 30% số lượng cơ sở hiện nay.

Lực lượng lao động thu mua hầu hết là dân di cư tự do từ nông thôn ra thành thị, lực lượng này chủ yếu là các người thu mua ve chai dạo, các người thu lượm rác dạo (thường là các trẻ em nghèo, đa số là không được đến trường ) và một số tập trung tại các bãi rác để nhặt những thứ có thể bán được cho các cơ sở thu mua. Hoạt động này hình thành tự phát không có sự quản lý của các cơ quan nhà nước, mức thu nhập bình quân của những người thu mua ve chai dạo là khoảng 20.000đ/ngày và của những người nhặt rác là từ 10.000 – 15.000đ /ngày. Những người này sẽ len lỏi vào các ngõ hẻm dể thu mua hay lượm rác. Có thể nói đây là lực lượng khá cần thiết cho đối với chương trình phân lọai rác tại nguồn

Ngoài những nguồn phế liệu từ các cơ sở thu mua lớn, các cơ sở tái chế cũng tự mua phế liệu từ những người thu mua phế liệu lẻ, mặc dù không hình thành hệ thống chân rết thu gom phế liệu như các cơ sở thu mua nhưng các cơ sở tái chế cũng có một thế mạnh riêng là giá thu mua lại cao hơn và do biết rõ được nhu cầu chất thải tái chế (nguyên liệu đầu vào) nên việc mua phế liệu đầu vào cũng dể dàng hơn. Và do vậy lượng phế liệu được bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế cũng nhiều hơn so với các cơ sở thu mua.

Các cơ sở thu mua và các cơ sở tái chế có thu mua đều phát huy thế mạnh riêng của mình để có được nguồn phế liệu cần thiết. Có thể nhận thấy đặc điểm thu mua từng lọai phế liệu của từng cơ sở như sau:

Các cơ sở thu mua phế liệu có thế mạnh trong việc mua các lọai phế liệu

Có giá trị cao như sắt, đồng, nhôm … Số lượng ít và rải rác như ve chai, chỉ vụn…

Có giá trị thấp hoặc khó tái chế như nylon…

Các cơ sở tái chế có thu mua phế liệu có thế mạnh trong việc thu mua các lọai phế liệu

Các loại phế liệu cần số lượng lớn khi tái chế như nhựa, giấy … Các loại phế liệu có giá trị thấp (ít người thu gom) như thuỷ tinh…

Bảng 2.5: Thành phần và khối lượng các lọai phế liệu thu mua tại các cơ sở thu mua tại các cơ sở thu mua tái chế

STT Lọai phế liệu

Khối lượng phế liệu được thu mua tại 202 cơ sở thu mua phế liệu (tấn/tháng)

Khối lượng phế liệu được thu mua tại 100 cơ sở tái

chế phế liệu (tấn/tháng)

1 Giấy phế liệu 1696,8 1667

2 Nhựa phế liệu 140,2 3654

3 Nilon phế liệu 39,2 -

4 Đồng phế liệu 15,2

78,5

5 Nhôm phế liệu 25,7

6 Sắt phế liệu 1004,8

7 Kẽm phế liệu 0,1

8 Chì 0,01 -

9 Thủy tinh phế liệu 48,3 336

10 Vải vụn, chỉ vụn 36,7 -

11 Ve chai 36,6 -

12 Cao su phế liệu - 34,6

(Nguồn: Đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải)

22

Bảng 2.6: Thành phần chất thải rắn sinh hoạt có thể bán được và giá trị của chúng trong dây chuyển thu gom tái sinh hiện nay STT Thành phần chất thải rắn sinh

họat có thể bán được

Giá bán các thành phần chất thải rắn sinh họat trong dây chuyền thu gom - tái sinh hiện nay (đồng/kg)

Khối lượng thu mua của vựa nhỏ (kg /

ngày) Hộ gia đình,

người nhặt rác

Người mua phế liệu dạo

Các vựa phế liệu qui mô nhỏ

Các vựa phế liệu qui mô trung- lớn

Cơ sở tái chế phế liệu

1 Giấy các lọai

Thùng cacton, giấy vụn

Báo nhỏ (Tuổi Trẻ, Công An...) Báo lớn (Sài Gòn, Nhân Dân..) Sách các lọai

Giấy cuser (giấy sai) Bao xi măng

400 – 700

đồng/kg 900

900 2.000 900 1.500 500 đ/cái

1.000 1.000 2.200 1.000 1.700 600 đ/cái

1.100 – 1.250 1.200 2.400 1.150 2.200 700 đ/cái

Nấu lại Tái sử dụng Tái sử dụng Tái sử dụng Tái sử dụng Tái sử dụng

300 200 150 150 150

50cái/ ngày Lưu ý: ngọai trừ thùng cacton và giấy vụn khối lượng lớn được các cơ sở nhà máy mua về nấu lại, các lọai giấy còn lại sẽ được lựa sạch và bán cho các đới tượng có nhu cầu để tái sử dụng (như sách bán cho các cửa hàng sách cũ, các lọai giấy khác để gói hàng tiêu dùng, gói cả thực phẩm)

2 Nhựa – mũ các loại Mũ màu

Mũ trắng

Nhựa tôn (ống PC) Ống chìm (ống mềm) Nhựa cứng(mêca)

Mũ bình (chai dầu ăn, nước suối) Áo mưa

800 – 1.500

dồng/ kg 3.000

3.200 2.800 2.000 1.300 1.500 2.000

3.200 3.500 3.000 2.200 1.500 – 3.000 1.700 2.200

3.400 3.700 3.400 2.300 3.300 3.400 2.500

Nấu lại 200

170 150 100 100 50 50

3 Nylon các lọai Nylon đen Nylon Nylon trắng

200 – 500 đ/kg

800 2.000 4.000

1.000 2.300 4.500

1.200 2.600 4.800

Nấu lại 100

50 50

4 Nhôm các loại Nhôm dẻo (lon bia) Nhôm máy

6.000 – 10.000

đồng/kg 13.000

12.000

14.000 13.000

15.000 16.000

Nấu lại 50

30

Nhôm đà Atimon Nhôm cứng

13.000 8.000 10.00

14.000 9.000 11.000

17.000 11.000 12.500

50 20 50

5 Đồng các loại Đồng thau Đồng đỏ

12.000 - 13.000 đồng

/kg 15.000

16.000

16.000 17.000

17.500 19.000

Nấu lại

20 20

6 Sắt các lọai Sắt vụn (có cả pin) Sắt cây

Sắt đặc Gang

500-700 đồng

/kg 600

1.800 800 1.200

750 2.000 1.000 1.500

900 2.400 1.300 1.800

Nấu lại Tái sử dụng Nấu lại Nấu lại

500 50 200 100

7 Chai các loại Chai nước tương Chai tương ớt Chai Mari Chai nước ngọt Chai nước mắm Chai bia

Chai rượu ngoại

100 – 200 đồng/chai

500 đồng/chai

300 100 100 200 600 1.000

350 150 150 250 700 1.100

500 300 300 450 900 1.200

Tái sử dụng tất cả

chai 100chai 50 50 50 50 50 2–4 chai/tháng

8 Miễng các loại Miễng màu Miễng trắng

1.000 đồng/kg

150 300

200 400

400 – 600 900 – 1.000

Nấu lại

200 100

9 Bình ắcqui 700 – 1000 1.800 2.000 2.300 Tái sử dụng 20

(Đề cương dự án xây dựng khu liên hiệp công nghiệp sinh thái, tái sử dụng, tái chế và tuần hoàn chất thải rắn đô thị của tp.HCM )

24 2.4.3.1.2. Nhận xét về hoạt động thu mua chất thải ở thành phố Hồ Chí Minh Tất cả các cơ sở thu mua phế liệu được khảo sát đều có quy mô vừa và nhỏ hình thành trên cơ sở quan hệ gia đình.

Cơ sở hạ tầng của các cơ sở thu mua phế liệu là rất thấp kém, đa số các cơ sở thu mua chỉ tập trung vào mua một số ít loại phế liệu nào đó chứ không dàn trải, do mặt bằng nhỏ và ít nhân công để phân loại. Ngoài ra, do đa số các vựa thu mua và sơ chế phế liệu đa số thuê mặt bằng nên đầu tư nhà xưởng không đầy đủ. Tại các cơ sở thu mua, nguy cơ gây cháy nổ rất cao do các phế liệu được lưu chứa không đúng cách và tận dụng tối đa mặt bằng để lưu chứa.

Hầu hết công đoạn phân loại là thực hiện theo phương pháp thủ công và không có bất kì một phương tiện bảo hộ lao động nào

Phương tiện chuyên chở chủ yếu là các loại xe thô sơ như xe ba gác nhỏ hoặc xe lam và thường là chở quá tải

Giá thu mua các loại phế liệu này không chênh lệch lớn lắm giữa các vựa thu mua mà sự chênh lệch giá cả này chỉ do sự cạnh tranh nguồn thu và quy mô giữa các vựa.

Các phế liệu sau khi thu mua sẽ đựơc các cơ sở phân loại và bán lại cho các cơ sở tái chế. Sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán thường không lớn lắm chỉ trong khoảng 50 – 500 VNĐ/kg

Về mặt môi trường, số lượng các cơ sở có đóng phí môi trường chiếm khoảng 54% mặc dù đa số các cơ sở có thực hiện phân loại chất thải

Tuy có đóng phí môi trường nhưng các cơ sở vẫn chưa coi trọng công tác bảo vệ môi trường và 100% cơ sở được khảo sát không có nhân viên môi trường, không có hệ thống xử lý chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn)

Về mặt nghĩa vụ thuế đối với nhà nước: các cơ sở thu mua phế liệu cũng chưa thực hiện đầy đủ, chỉ có khoảng 50% cơ sở hoạt động có đóng thuế (số liệu tham khảo từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải). Điều này cũng chứng tỏ rằng sự quản lý nhà nước đối với các cơ sở thu mua phế liệu cũng chưa được chặt chẽ lắm.

Hệ thống thu hồi cũng còn có một số bất cập như hoạt động tự phát, không có tổ chức, nằm ngoài mọi cơ chế quản lý. Bên cạnh đó, mặc dù công việc nặng nhọc, môi trường độc hại nhưng những người đồng nát không được tiếp cận với quyền lợi người lao động, thậm chí nhiều người còn chịu sự mặc cảm tự ti về công việc. Mặc dù hỗ trợ có hiệu quả cho công tác giảm thải nhưng đến nay lực lượng này chưa được thừa nhận như một lực lượng tham gia hữu hiệu vào công tác quản lý chất thải rắn. Đó vừa là lỗ hổng trong khai thác tiềm lực sẵn có vừa là sự thiệt thòi cho người lao động trong hệ thống này. Ngoài ra họ còn phải chịu khá nhiều những rủi ro khác trong công việc cũng như thiệt thòi khi gặp phải thái độ đối xử không công bằng của dân địa phương.

Một phần của tài liệu kl doan thi anh ngoc 610115b (Trang 22 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(94 trang)