CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ NHỰA TẠI TP. HCM
3.7. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỪ BÊN NGOÀI
3.7.1. Nguyên liệu nhựa phế thải và hệ thống thu mua phế liệu 3.7.1.1. Thuận lợi
- Nguồn nguyên liệu đa dạng và số lượng lớn. Mỗi ngày thành phố phát sinh một lượng chất thải rắn sinh hoạt 5000-6000 tấn, trong đó khoảng 10-20% là thành phần nhựa và nylon có thể tái chế. Nhựa và nylon chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần có thể tái chế của chất thải rắn sinh hoạt. Bên cạnh đó, mỗi ngày còn có một lượng lớn nhựa phế thải chất lượng cao và đồng nhất từ 1000-1500 tấn rác thải công nghiệp.
- Giá nguyên liệu phế thải thấp. Theo kết quả khảo sát các cơ sở thu mua và tái chế nhựa, giá nhựa phế liệu dao động trong khoảng 2.500-8.000 đ/kg và giá nylon phế liệu dao động trong khoảng 300-6.000 đ/kg. So với các loại nguyên liệu chính phẩm thì nguyên liệu thứ phẩm, nhất là những loại nguyên liệu có nguồn gốc từ chất thải có giá rẻ hơn rất nhiều và đây chính là một trong những lợi thế nhất định của nguyên liệu tái chế.
- Hệ thống thu mua phế liệu hoạt động hiệu quả với mạng lưới chân rết đa cấp, địa bàn thu mua rộng khắp, tính đa dạng và linh hoạt cao và thu mua triệt để các chất thải có thể tái chế.
3.7.1.2. Khó khăn
- Hệ thống thu mua nhựa phế liệu gồm nhiều cơ sở nhỏ lẻ. Đây là một thế mạnh nhưng cũng là một nhược điểm gây khó khăn cho hoạt động tái chế chất thải nói chung và tái chế nhựa nói riêng. Nhựa phế thải được thu mua từ rất nhiều nguồn, thành phần và chất lượng rất khác nhau. Do không có sự quản lý đồng bộ, đa số các cơ sở thu mua chất thái chỉ làm công đoạn phân loại mà không theo một qui định nào nên chất lượng nguyên liệu đầu vào cho các cơ sở tái chế là không đồng nhất.
Điều này gây rất nhiều khó khăn cho công đoạn tái chế vì phải điều chỉnh các điều kiện tái chế cho phù hợp với từng loại nguyên liệu đầu vào. Quan trọng hơn, chính điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm tái chế.
- Lẫn nhiều tạp chất. Nhựa và nylon phế thải, đặc biệt là từ rác sinh hoạt, không được phân loại ngay từ nguồn nên thường lẫn nhiều tạp chất, thường là lẫn rác thực phẩm, đất cát. Điều này gây khó khăn cho công việc tái chế vì phải trải qua nhiều công đoạn làm sạch và tách các thành phần. Nếu không được làm sạch cẩn thận, các tạp chất này ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm nhựa tái chế. Bên cạnh đó, tạp chất trong nhựa và nylon phế thải từ rác sinh hoạt gây nhiều khó khăn cho quá trình lưu trữ trữ và vận chuyển. Quá trình phân huỷ các thành phần hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, chủ yếu là mùi hôi và nước rỉ rác.
- Nguồn cung cấp không ổn định. Nhìn chung, cũng như các loại phế thải khác, nguồn cung cấp nhựa phế thải không ổn định về số lượng và chất lượng do phụ
thuộc vào quá trình phát sinh chất thải của quá trình sản xuất và sinh hoạt. Chính sự phụ thuộc này làm cho ngành tái chế chất thải nói chung và ngành tái chế nhựa nói riêng khó có thể lên được kế hoạch sản xuất cụ thể và không dám mở rộng quy mô tái chế. Đây là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của ngành tái chế.
3.7.2. Các yếu tố kinh tế
- Sự cạnh tranh của các sản phẩm nhựa cùng ngành hàng là rất quyết liệt. Các mặt hàng cùng chủng loại với mẫu mã đa dạng, đẹp, chất lượng cao, giá cả cạnh tranh có khả năng đè bẹp những sản phẩm nhựa tái chế nếu như không các loại sản phẩm này không có những đầu tư cải tiến phù hợp. Đây là một khó khăn cho các sản phẩm nhựa tái chế trong việc duy trì và mở rộng thị phần. Mặt khác, nó lại là một thách thức buộc các cơ sở tái chế nhựa có những đầu tư cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Lợi nhuận từ sản xuất các sản phẩm tái chế không cao, nên khó có khả năng thu hút đầu tư cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm nhằm mở rộng khả năng tiêu thụ.
- Hiện nay, đa số các cơ sở tái chế nhựa đều nằm ở thành phố Hồ Chí Minh nhưng thị trường tiêu thụ các sản phẩm của ngành tái chế nhựa hiện nay chủ yếu là ở các tỉnh vùng ven thành phố và các tỉnh. Các loại sản phẩm nhựa tái chế là nguyên liệu thô (hạt nhựa tái chế) thì được tiêu thụ ngay tại thị trường thành phố nhưng các sản phẩm nhựa tái chế hoàn chỉnh thì đa phần phải tiêu thụ ở thị trường các tỉnh. Các cở sở tái chế nhựa có thuận lợi về thị trường rộng khắp và chấp nhận chất lượng và giá cả sản phẩm nhựa tái chế nhưng cũng có khó khăn về vận chuyển sản phẩm đến thị trường tiêu thụ.
3.7.3. Xã hội
- Chương trình phân loại rác tại nguồn bắt đầu được xã hội quan tâm và đang từng bước được mở rộng. Đây là một thuận lợi cho các cơ sở thu mua phế liệu cũng như tái chế chất thải trong quá trình thu mua và phân loại nhựa phế liệu.
- Người tiêu dùng. Mặc dù đại bộ phận người tiêu dùng hiện nay chưa có tâm lý ủng hộ các sản phẩm tái chế nói chung và các sản phẩm nhựa tái chế nói riêng, sản phẩm nhựa tái chế vẫn được chấp nhận và giữ vững chỗ đứng trên thị trường do tâm lý xã hội tiêu dùng chuộng giá rẻ. Thị trường khoảng 30 triệu dân với mức thu nhập thấp là một cơ hội cho sản phẩm nhựa tái chế mặc dù chât lượng thấp nhưng giá rẻ và sản phẩm đa dạng. Mặc khác, yêu cầu giá rẻ là một áp lực buộc các cơ sở tái chế nhựa cắt giảm tối đa các chi phí, trong đó có chi phí cho xử lý ô nhiễm.
- Ngân hàng: là tổ chức rất quan trọng trong việc cung cấp sự hỗ trợ cho các cơ sở tái chế nhựa để họ có thể mở rộng sản xuất, nâng cao công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh và thành công trong việc sản xuất kinh doanh. Theo luật Việt Nam,
52 nhỏ trong cơ hội vay vốn đầu tư cải tiến công nghệ và mở rộng sản xuất. Bên cạnh đó, cũng không có sự khuyến khích nào từ các ngân hàng về việc cho vay để tiến hành các hoạt động bảo vệ môi trường.
- Các cơ quan thuế: chức năng duy nhất của các quan thuế là tính toán và tiến hành thu thuế cũng như các loại phí của các doanh nghiệp theo luật định. Hiện nay, các loại thuế đánh vào các doanh nghiệp bao gồm thuế xuất khẩu (tính trên lượng hàng xuất khẩu), thuế giá trị gia tăng (VAT) và thuế thu nhập (dựa trên lợi nhuận của công ty). Các cơ quan thuế hoàn toàn không có các chính sách khuyến khích người nộp thuế để họ thực hiện các giải pháp về môi trường như miễn giảm thuế cho các cơ sở góp phần vào việc xử lý và giảm thiểu ô nhiễm cho môi trường. Đây cũng chính là một khó khăn, trở ngại lớn cho các cơ sở ngành tái chế nhựa.
- Các viện nghiên cứu: mặc dù các đơn vị nghiên cứu có sự quan tâm nghiên cứu về kỹ thuật tái chế chất thải nói chung và chất thải nhựa nói riêng, các công trình nghiên cứu này nhìn chung vẫn chưa được triển khai sản xuất thực tế cũng như không đến đươc với các cơ sở tái chế.
3.7.4. Chính sách
- Hiện nay, trong hệ thống quản lý chất thải rắn của Thành phố chưa đề cập đến lĩnh vực tái chế. Đây là một hoạt động kinh tế hoàn toàn độc lập vì nó nằm trong một lĩnh vực tư nhân năng động. Mặc dù hoạt động tái chế chiếm tỷ trọng khá cao (10- 15%) trong xử lý chất thải rắn của thành phố nhưng vẫn chưa được quan tâm đúng mức của chính quyền thành phố. Cụ thể là thành phần kinh tế nhà nước vẫn chưa tham gia, đầu tư vào lĩnh vực này. Cho đến nay, thành phố vẫn chưa có chính sách, quy chế khuyến khích và hỗ trợ thiết thực các cơ sở tái chế nhựa, và vì vậy chưa thu hút được đầu tư của các doanh nghiệp cũng như các thành phần kinh tế khác, các cơ sở tái chế hiện nay cũng không có động lực và hỗ trợ cần thiết để nâng cấp công nghệ và mở rộng sản xuất.
- Hoạt động tái chế được liệt vào danh sách các ngành nghề sản xuất, kinh doanh không cấp mới giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, không cấp mới hoặc điều chỉnh giấy phép đầu tư trong khu dân cư tập trung. Nhưng nhiều cơ sở thu mua, tái chế nhựa vẫn mọc lên trong khu dân cư hoặc trong khu quy hoạch mà vẫn không bị quản thúc và xử l ý vi phạm bởi địa phương hay các cơ quan quản lý môi trường.