CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ NHỰA TẠI TP. HCM
3.8. HOẠT ĐỘNG THU MUA TÁI CHẾ TẠI CÁC CƠ SỞ TÁI CHẾ
Hình 3.1: Vòng tuần hoàn của nhựa
Trước tiên nhựa phế liệu sẽ được thu mua trực tiếp thông qua những người nhặt rác và thu mua phế liệu lẻ. Rồi được bán cho các vựa ve chai, sau khi phân loại sẽ được giao lại cho các cơ sở chuyên mua nhựa phế liệu, sau khi mua về cơ sở này sẽ phân loại nhựa thành nhiều loại: theo thành phần hoá học (PP, PS, HD, PS, …); theo màu sắc. Sau đó sẽ cho từng loại nhựa vào máy tán nhuyễn trước khi ngâm xà phòng hoặc chất tẩy rửa. Đem phơi nắng đến khi khô hẳn rồi bán lại cho các cơ sở khác chuyên gia công tạo hạt màu có nhu cầu cần sử dụng. Các cơ sở chuyên sản xuất các sản phẩm nhựa sẽ sẽ đặt mua các hạt này để nấu và thổi thành các sản phẩm mới sau đó bán ra thị trường.
Cứ như thế nhựa sẽ được tái chế qua nhiều lần và sau mỗi lần tái chế như thế phẩm chất nhựa sẽ giảm rất nhiều. Các hạt keo được tạo từ nhựa phế phẩm sẽ có rất nhiều khuyết điểm :
Không đủ chất lượng
Có kèm theo mùi hôi
Màu của nhựa sẽ không đẹp, không tươi và không bóng
Độ dẻo, độ trong sẽ giảm cùng với số lần tái chế
3.8.2. Nguồn nguyên liệu của các cơ sở tái chế nhựa
Hiện nay, nguyên liệu đầu vào của các cơ sở tái chế nhựa có nhiều loại: loại nhựa và nylon phế liệu chưa qua sơ chế được các cơ sở mua trực tiếp và loại đã qua sơ chế mua lại từ các cơ sở thu mua phế liệu.
Hoạt động thu mua nhựa và nylon phế liệu của các cơ sở thu mua phế liệu
Hiện nay, phế liệu nhựa được thu gom bởi một mạng lưới chân rết khắp thành phố nhằm có thể tận thu tối đa những phế liệu nhựa mà các cơ sở tái chế có thể tái chế.
Các nguồn phế liệu này được được phát sinh từ hoạt động hàng ngày của các hộ gia Người thu mua
ve chai dạo Cơ sở thu
mua phế liệu Cơ sở phân
loại phế liệu
Cơ sở gia công, tạo hạt Các cơ sở nấu và
thổi thành sản phẩm Thị trường
54 Trong 182 cơ sở có thu mua phế liệu nhựa đã khảo sát thì có 4 cơ sở chỉ chuyên thu mua phế liệu nhựa và 178 cơ sở ngoài thu mua phế liệu nhựa còn thu mua các loại phế liệu khác. Các vựa thu mua phế liệu này đa số thu mua phế liệu nhựa từ những người thu mua, lượm ve chai dạo hoặc từ những cá thể ở gần vựa đem lại bán. Đặc biệt có những vựa chỉ thu mua hàng thanh lý, phế liệu từ các cơ quan xí nghiệp.
Giá thu mua các loại phế liệu này không chênh lệch lớn lắm giữa các vựa thu mua mà sự chênh lệch giá cả này chỉ do sự cạnh tranh nguồn thu và quy mô giữa các vựa. Giá thu mua phế liệu nhựa dao động trong khoảng từ 2500 đến 8000 đồng/kg.
Các loại phế liệu sau khi thu mua sẽ được các cơ sở phân loại và bán lại cho các cơ sở tái chế. Sự chênh lệch giữa giá mua và bán thường không lớn chỉ trong khoảng 50 - 500 VNĐ/kg.
Tại đây, các loại phế liệu nhựa được phân loại thành các thành phần riêng biệt, làm sạch sẽ và bán cho các đầu mối tiêu thụ, trong đó có bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế nhựa. Các loại nguyên liệu nhựa thô được tạo thành từ quá trình sơ chế được thể hiện trong Bảng 2.10.
Bảng 3.15 Nguyên liệu đã sơ chế từ các cơ sở thu mua phế liệu
Nguyên liệu đã qua sơ chế Đơn giá (đồng/kg) Khối lượng (tấn/tháng)
Nhựa 5.357 123,08
Nylon 2.041 13,10
( Nguồn tham khảo từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải ).
Có thể thấy khối lượng nguyên liệu nhựa thô thu được từ chất thải rắn là rất lớn, khối lượng lên đến hàng trăm tấn mỗi tháng (tính riêng cho 182 cơ sở thu mua phế liệu nhựa được khảo sát). Thị trường tiêu thụ nguyên liệu nhựa thô (nhựa phế liệu đã qua sơ chế) chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh. Đa số loại nguyên liệu này đều có chất lượng không đồng bộ do có nhiều cơ sở thu mua và phân loại khác nhau, giá cả mua vào và bán ra cũng khác nhau, quy trình phân loại cũng khác nhau... nên không được đóng gói theo quy cách.
Trên cơ sở thực tế khảo sát tại 182 cơ sở có thu mua phế liệu nhựa, loại nguyên liệu thô được tiêu thụ chủ yếu dựa trên các quan hệ mua bán lâu năm. Một số đối tượng thường xuyên thu mua các loại nguyên liệu này gồm:
- Các cơ sở đi thu mua: tiêu thụ khoảng 75% lượng hàng của các cơ sở thu mua phế liệu nhựa. Các cơ sở này mua các loại nguyên liệu thô về để trực tiếp sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc bán lại cho các cơ sở tái chế nhựa khác. Thế mạnh của các cơ sở thu mua này là vốn lớn, quan hệ cả với cơ sở thu mua và cơ sở tái chế nhựa.
- Các cơ sở tái chế: tiêu thụ khoảng 10% lượng hàng trực tiếp từ các cơ sở có thu mua phế liệu nhựa. Phần lớn nguyên liệu còn lại được thu mua từ các cơ sở mua bán trung gian và các cơ sở đem đến bán trực tiếp.
- Các đơn vị đặt hàng: khoảng 10% lượng nguyên liệu nhựa thô được tiêu thụ bởi các cơ sở sản xuất đặt hàng vì chúng đòi hỏi chất lượng nguyên liệu tương đối cao và đa số các cơ sở thu mua khó có thể đáp ứng.
- Khách hàng ngoài chợ: số lượng nguyên liệu nhựa thô được bán ngoài chợ là rất ít (khoảng 5%) do chất lượng không ổn định và khách hàng cũng ít chọn loại nguyên liệu này.
3.8.3. Hoạt động thu mua nhựa và nylon phế liệu tại các cơ sở tái chế nhựa
Ngoài các cơ sở thu mua phế liệu cung cấp cho các cơ sở tái chế nhựa thì các cơ sở tái chế nhựa cũng tự mình thu mua phế liệu. Nguồn cung cấp phế liệu cho các cơ sở tái chế nhựa, ngoài những nguồn từ các cơ sở thu mua lớn, họ còn lấy từ các người thu mua phế liệu bán lẻ. Mặc dù không hình thành hệ thống chân rết thu gom phế liệu như các cơ sở thu mua nhưng các cơ sở tái chế nhựa cũng có một thế mạnh riêng là giá thu mua lại cũng cao hơn và do hiểu rõ được bản chất của chất thải (nguyên liệu đầu vào) nên việc mua phế liệu cũng dễ dàng hơn. Và do vậy lượng phế liệu nhựa được bán cho các cơ sở tái chế nhựa cũng nhiều hơn so với các cơ sở thu mua. Các cơ sở thu mua và các cơ sở tái chế nhựa có thu mua đều phát huy thế mạnh riêng của mình để có được nguồn phế liệu cần thiết.
Bảng 3.16: Khối lượng các loại nhựa thu mua tại các cơ sở thu mua và tái chế nhựa Loại phế liệu
Khối lượng phế liệu nhựa được thu mua tại
182 CS thu mua phế liệu nhựa (tấn/tháng)
Khối lượng phế liệu được thu mua tại 67
CS tái chế nhựa (tấn/tháng)
Tổng cộng
Nhựa phế liệu 140,2 3.654 3.794,2
Nilon phế liệu 39,2 - -
( Nguồn tham khảo từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải ).
Theo các DN ngành nhựa, mỗi năm Việt Nam phải tái chế 100.000 tấn nhựa phế liệu thành nhựa thành phẩm. Việc sử dụng nhựa phế liệu sẽ giúp DN giảm 50% giá thành sản phẩm so với sử dụng hạt nhựa chính phẩm. Nguồn nhựa phế liệu trong nước chỉ đủ đáp ứng 50% số còn lại phải nhập ngoại. Việc thiếu hụt nguyên liệu này đã dẫn đến việc có một số các doanh nghiệp phải nhập một số phế liệu từ nước ngoài. Vấn đề này hiện nay đang làm đau đầu các cơ quan chức năng bởi khi nhập khẩu các doanh nghiệp đã không tuân thủ các quy định mà nhập cả phế thải, rác thải vào trong nước.
56 3.8.4. Hiện trạng công nghệ của ngành tái chế nhựa
Hình 3.2: Sơ đồ tái chế nhựa điển hình
Trên đây là công nghệ tái chế chung nhưng không phải tất cả các cơ sở tái chế nhựa đều tiến hành tái chế qua các công đoạn đầy đủ như sơ đồ trên. Theo khảo sát thực tế tại các cơ sở tái chế có thể thấy công nghệ được sử dụng rất đơn giản. Có cơ sở chỉ thực hiện các công đoạn phân loại nhựa phế liệu, xay, rửa và phơi sau đó bán lại cho các cơ sở ó thành hạt nhựa sau đó ép thành sản phẩm như dép nhựa, sản phẩm nhựa gia dụng, … hoặc kéo thành sợi (dây nilon). Tuy nhiên cũng có cơ sở chỉ thực hiện công đoạn ó thành hạt nhựa từ các cơ sở xay nhựa phế liệu rồi tiếp tục bán hạt nhựa đã ó cho các cơ sở gia công thành sản phẩm cuối cùng. Có thể đánh giá công nghệ tái chế nhựa như sau:
- Đối với các cơ sở tái chế thực hiện một phần của quy trình tái chế nhựa thì đa phần sử dụng công nghệ cũ và thô sơ. Nhiều thiết bị máy móc đã sử dụng hàng chục năm và chủ yếu vận hành bằng sức người.
- Đối với một số cơ sở có quy mô (ngành tái chế nhựa có cơ sở thuộc quy mô lớn) và sản xuất một số mặt hàng cao cấp thì công nghệ tương đối hiện đại Những cơ sở này đã đầu tư thiết bị mới sản xuất trên cơ sở kết hợp giữa nguyên liệu tái chế và nguyên liệu chính phẩm nhằm giảm giá thành sản phẩm nhưng vẩm đảm bảo yêu cầu về chất lượng.
Nhận xét về công nghệ tái chế
Quy mô nhỏ, chủ yếu là các cơ sở sản xuất của tư nhân với trình độ kỹ thuật và trình độ quản lí thấp, đầu tư chưa cao cả về chiều rộng lẫn chiểu sâu làm cho các sản phẩm tái chế chưa phong phú, chất lượng không cao
Phương pháp chỉ đơn thuần là tái chế cơ học ở trình độ thấp, chưa có tái chế hóa học.
Công nghệ thu gom phân loại chưa được đầu tư đúng mức, chủ yếu vẫn là lao động chân tay, tốn nhiều công lao động, năng suất và hiệu suất thấp.
Kỹ thuật xử lý như xay rửa tuyển nổi bằng nước chỉ phân ra được hai loại:
Nhẹ nổi (HDPE, LDPE, PP) và nặng chìm (PS, PET, PVC), hiệu suất phân loại chỉ đạt khoảng 60- 80%. Công đoạn giặt rửa cũng chỉ đơn thuần tiến hành bằng nước thường nên không loại bỏ hết được các chất gây bẩn, nhất là các loại hóa chất độc hại, thuốc
Nhựa phế
liệu Phân loại Xay, đánh
nhuyễn Rửa và phơi
Máy ó keo Hạt nhựa
Xào và trộn màu Ép hay kéo
thành SP
trừ sâu... Không thu gom và xử lí nước thải sau khi rửa. Công đoạn sấy khô cũng hết sức thô sơ, chủ yếu là phơi khô bằng nắng mặt trời nên chịu ảnh hưởng của thời tiết, sản phẩm dễ bị nhiễm bẩn.
Trang thiết bị thì hầu hết được chế tạo trong nước hoặc tự tạo theo kiểu bán tự động, thiếu độ chuẩn xác, tiêu hao nhiên liệu lớn, gây tiếng ồn, bụi và đa số chưa đảm bảo các điều kiện an toàn về điện. Các thiết bị hiện đại nhập ngoại rất ít.
Đa số các cơ sở sản xuất là nhỏ theo kiểu kinh tế hộ gia đình nên nhà xưởng chật hẹp, không thông thoáng, không đảm bảo điều kiện an toàn và khả năng xử lí khi xảy ra sự cố.
3.8.5. Các loại sản phẩm nhựa tái chế
Như đã trình bày, không phải cơ sở nào cũng thực hiện hết các công đoạn tái chế như quy trình. Tùy theo quy mô của cơ sở, sản phẩm tái chế tạo thành có 2 cấp độ chính: nguyên liệu hạt nhựa tái chế cho các cơ sở khác và sản phẩm nhựa tái chế hoàn thiện.
Tuy nguồn nguyên liệu nhựa sử dụng cho sản xuất là các loại chất thải nhưng những sản phẩm nhựa tạo thành rất là phong phú về chủng loại, đa dạng về kiểu dáng, nhiều về khối lượng và chất lượng. Kết quả khảo sát các cơ sở tái chế nhựa đã cho thấy một tiềm năng to lớn về sản phẩm nhựa được sản xuất bởi các cơ sở này nhất là các sản phẩm nhựa dân dụng có giá trị thấp. Một số loại sản phẩm nhựa điển hình được sản xuất từ các loại chất thải trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện trong Bảng 2.12.
Bảng 3.17: Khối lượng và các loại sản phẩm nhựa điển hình của các cơ sở tái chế nhựa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Sản phẩm Đơn vị Khối lượng
Nhựa đã xay tấn/tháng 2607,6
Keo phế liệu tấn/tháng 257,5
Yên xe đạp cái/ngày 1000
Nẹp nhựa cái/tháng 300.000
Ca nhựa cái/tháng 10000
Dây nilon tấn/tháng 15.020,3
Túi xốp tấn/tháng 38
Vỏ bình ac quy tấn/tháng 10
58 Muỗng nhựa tấn/tháng 1 Ống chỉ bằng nhựa tấn/tháng 0,8
Chai nhựa chai/tháng 2.000.000
Nắp nhựa cái/tháng 2.000.000
Dép nhựa tấn/tháng 23,4 Dây cước tấn/tháng 6 Simili tấn/tháng 13 Sản phẩm nhựa khác (các cơ sở không
ghi rõ) tấn/tháng 0,25
( Nguồn tham khảo từ đề tài nghiên cứu xây dựng mô hình quỹ tái chế chất thải ).