Thông thường trong tổ chức họ thường ở các vị trí tổ trưởng, trưởng nhóm… + Theo phạm vi hoạt động : hai loại - Nhà quản trị tổng hợp là những người chịu trách nhiệm toàn bộ về quá trình
Trang 1MỘT SỐ NỘI DUNG ÔN TẬP CƠ BẢN Câu 1: Khái niệm nhà quản trị, các cách phân loại nhà quản trị, vai trò của nhà quản trị, các kỹ năng cần thiết của một nhà quản trị
Trả lời:
1 Khái niệm nhà quản trị:
Quản trị là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức đã đề ra trong điều kiện biến động của môi trường và sự thay đổi của các nguồn lực
Nhà quản trị làm việc trong một tổ chức, đại diện cho tổ chức chỉ huy điều hành thực hiện công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Nhà quản trị là những người có quyền và có trách nhiệm điều khiển công việc của người khác, được bố trí vào những vị trí có tầm quan trọng khác nhau trong tổ chức
2 Các cách phân loại nhà quản trị:
+ Theo cấp bậc quản trị: 3 cấp
- Nhà quản trị cấp cao: là những người chịu trách nhiệm quản trị toàn diện đối với
tổ chức Nhà quản trị cấp cao thường tiêu biểu cho các vị trí tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị…
- Nhà quản trị cấp trung: là những người chịu trách nhiệm quản trị những bộ phận phân hệ của tổ chức Nhà quản trị cấp trung có thể là trưởng phòng, trưởng các bộ phận, quản đốc
- Nhà quản trị cấp cơ sở: là những nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc quản trị chịu trách nhiệm thi hành những kế hoạch hành động do quản trị viên cấp trung đề ra, họ kiểm tra đôn đốc và chịu trách nhiệm hàng ngày trước kết quả hoạt động của nhân viên Thông thường trong tổ chức họ thường ở các vị trí tổ trưởng, trưởng nhóm…
+ Theo phạm vi hoạt động : hai loại
- Nhà quản trị tổng hợp là những người chịu trách nhiệm toàn bộ về quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Họ là những người định ra đường lối chính sách chiến lược cho tổ chức
- Nhà quản trị chức năng là những người chịu trách nhiệm trong phạm vi lĩnh vực chức năng mà mình phụ trách
3 Vai trò của nhà quản trị:
Trong thực tế nhà quản trị phải làm nhiều công việc khác nhau, thậm chí ứng xử các cách khác nhau với cấp trên, cấp dưới, với khách hàng, cơ quan chủ quản, cộng đồng Henry Mentzberg đã nghiên cứu những họat động bình thường của nhà quản trị và cho rằng mọi nhà quản trị đều thực hiện mười loại vai trò khác nhau Mười loại vai trò đó tập trung trong ba nhóm lớn:
a) Vai trò quan hệ con người
Trang 2- Vai trò người đại diện: là người đại diện là biểu tượng cho tập thể, có tính chất nghi lễ trong tổ chức
- Vai trò người lãnh đạo: Phối hợp động viên và kiểm tra công việc của nhân viên dưới quyền
-Vai trò liên lạc: quan hệ kết nối giữa các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của
tổ chức
b) Vai trò thông tin
- Vai trò thu thập và tiếp nhận thông tin: Là người thu thập và xử lý các thông tin
để ra các quyết định
- Vai trò phổ biến thông tin: Là người phổ biến cho mọi người, mọi bộ phận liên quan
- Vai trò cung cấp thông tin: Là người có trách nhiệm và quyền lực thay mặt tổ chức phát ngôn những tin tức ra bên ngoài với mục đích giải thích hay bảo vệ các họat động của tổ chức
- Vai trò người phân phối nguồn lực: Khi nguồn lực khan hiếm mà nhu cầu sử dụng ngày càng cao, đòi hỏi nhà quản trị phải dùng đúng nguồn lực, phân phối nguồn lực cho các bộ phận hợp lý và tính hiệu quả cao
- Vai trò người đàm phán: Nhà quản trị phải thương thuyết trong các hoạt động kinh doanh, trong các quan hệ với các đơn vị khác, với xã hội…
Các vai trò này có quan hệ mật thiết đối với nhau và bất cứ lúc nào trong họat động của nhà quản trị có thể phải thực hiện nhiều vai trò một lúc Tầm quan trọng của các vai trò có thể thay đổi tùy thuộc cấp bậc của nhà quản trị đó trong tổ chức
4 Các kỹ năng cần thiết của một nhà quản trị:
- Kỹ năng kỹ thuật: Là khả năng cần thiết để thực hiện một công việc cụ thể; biểu
hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhà quản trị như soạn thảo một văn bản hành chính, lập một hợp đồng kinh tế, lập trình quản lý, ra một quyết định quản trị,
… Mặc khác, kỹ năng này còn đòi hỏi ở người quản trị phải hiểu biết chuyên môn của đơn vị mình phụ trách, chẳng hạn một cán bộ quản trị ngân hàng phải am hiểu các nghiệp vụ ngân hàng của mình Nhà quản trị có được trình độ chuyên môn nghiệp vụ thông qua việc theo học tại các cơ sở đào tạo
- Kỹ năng quan hệ con người: là khả năng một người có thể làm việc được với
những người khác Hay nói cách khác là khả năng làm việc chung động viên điều khiển con người làm việc Kỹ năng quan hệ con người có liên quan tới quan hệ với con người, tạo thuận lợi và thúc đẩy con người hoàn thành các công việc chung
Trang 3Kỹ năng này thể hiện việc thông qua các hình thức, phương pháp tác động tới con người như lời nói, chữ viết, thái độ ứng xử, … có sức thuyết phục, tập hợp (quy tụ) được những người đứng xung quanh mình hoàn thành tốt những mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất Kỹ năng này đòi hỏi ở người quản trị phải có năng lực và uy tín nhất định
- Kỹ năng tư duy và ra quyết định: là kỹ năng phân tích giải quyết vấn đề phức
tạp Kỹ năng này đòi hỏi nhà quản trị phải hiểu rõ mức độ phức tạp của môi trường, nhìn thấy được bức tranh toàn cảnh về xu thế biến động và thực trạng của
tổ chức từ đó đưa ra các giải pháp giảm thiểu sự phức tạp xuống mức độ có thể đối phó được Kỹ năng tư duy và ra quyết là kỹ năng khó thực hiện nhất trong ba kỹ năng cơ bản của nhà quản trị Nhà quản trị phải có khả năng xác định vấn đề, hiểu
rõ và giải thích được dữ liệu, thông tin, sử dụng thông tin để đưa ra các giải pháp Các nhà quản trị đều phải có đầy đủ ba kỹ năng, nhưng tầm quan trọng của mỗi loại kỹ năng tùy theo cấp bậc của nhà quản trị trong tổ chức Kỹ năng kỹ thuật có vai trò quan trọng lớn nhất ở cấp quản trị cơ sở có vai trò giảm dần ở cấp quản trị
cấp trung và có ý nghĩa khá nhỏ ở cấp quản trị cấp cao
5 Khoa học và nghệ thuật trong quản trị
a) Tính khoa học của Quản trị :
Tính khoa học của quản trị xuất phát từ tính quy luật của các quan hệ quản trị trong quá trình hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp Tính khoa học được thể hiện cụ thể:
- Thứ nhất, quản trị phải đảm bảo phù hợp với sự vận động của các qui luật
tự nhiên, xã hội Điều đó đòi hỏi việc quản trị phải dựa trên sự hiểu biết sâu sắc các qui luật khách quan chung và riêng của tự nhiên và xã hội
- Thứ hai, trên cơ sở đó mà vận dụng tốt nhất các thành tựu khoa học, trước hết là triết học, kinh tế học, toán học, tin học, điều khiển học, công nghệ học, … và các kinh nghiệm trong thực tế vào thực hành quản trị
- Thứ ba, quản trị phải đảm bảo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi
tổ chức trong từng giai đoạn cụ thể Điều đó cũng có nghĩa, người quản trị vừa phải kiên trì các nguyên tắc vừa phải vận dụng một cách linh hoạt những phương pháp, những kỹ thuật quản trị phù hợp trong từng điều kiện, hoàn cảnh nhất định
b) Tính nghệ thuật của quản trị :
Tính nghệ thuật của quản trị xuất phát từ tính đa dạng, phong phú, tính muôn hình muôn vẻ của các sự vật hiện tượng trong các hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp Tính nghệ thuật của quản trị được thể hiện:
- Thứ nhất quản trị là quá trình tác động tới nhu cầu của con người mà nhu cầu con người hết sức đa dạng và phong phú và phức tạp
- Thứ hai quản trị là quá trình tác động lên mối quan hệ con người, những mối quan hệ nay đan xen phức tạp đòi hỏi nhà quản trị phải xử lý khéo léo linh hoạt và không có câu trả lời chung cho các tình huống giải quyết mối quan hệ
- Thứ ba tính nghệ thuật của quản trị còn phụ thuộc vào kinh nghiệm và những thuộc tính tâm lý của cá nhân từng nhà quản trị
Nghệ thuật quản trị thường được cụ thể hóa trong các nhóm nghệ thuật:
Trang 4- Trong nghệ thuật sử dụng người
- Nghệ thuật giáo dục con người
- Nghệ thuật giao tiếp, đàm phán trong kinh doanh
- Nghệ thuật ra quyết định quản trị
Nghệ thuật là cái gì đó hết sức riêng tư của từng người, không thể “nhập khẩu” từ người khác Nó đòi hỏi ở người quản trị (mà trước hết là người lãnh đạo) không những biết vận dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học hiện có vào hoàn cảnh cụ thể của mình mà còn tích lũy vốn kinh nghiệm của bản thân, của người khác để nâng chúng lên thành nghệ thuật – tức biến nó thành cái riêng của mình
Câu 2 : Nội dung chính trong lý thuyết quản trị của:
a-Frederick Winslow Taylor (1856 1915) –
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, Taylor là một công nhân bình thường phấn đấu thành một nhà quản trị sản xuất nhà máy Midvale Steel Works, và theo học lấy bằng kỹ sư bằng cách học Đại học ban đêm ở Viện kỹ thuật Stevens, Hoa Kỳ Taylor đã quan sát và phát hiện ra rằng, hầu hết các nhà quản trị trước đó làm theo kinh nghiệm, cứ làm sai thì sửa Hơn nữa nhiều công tác quản trị thường phó mặc cho công nhân như phương pháp làm việc, tiêu chuẩn công việc, khuyến khích công nhân, … Từ đó, Ông cho ra đời hai tác phẩm: “Quản trị phân xưởng” (Shop Management) xuất bản năm 1906 và đặc biệt là “Những nguyên tắc quản trị khoa học” (Principles of Scientific Management) xuất bản năm 1911, với 4 tư tưởng chủ yếu mà sau này có nhiều người gọi đó là 4 nguyên tắc chung của quản trị
1- Các nhà quản trị từ cấp cơ sở trở lên nên dành nhiều thời gian và công sức để lập kế hoạch hoạt động của tổ chức cho công nhân làm việc và kiểm tra hoạt động thay vì cùng tham gia công việc cụ thể của người thừa hành Ý tưởng này, lần đầu tiên hình thành chuyên môn hoá lao động quản trị, tách lao động quản trị khỏi sản xuất để hệ thống này thực hiện các công việc đích thực của mình đó là các chức năng quản trị; làm theo phương pháp khoa học thay vì theo kinh nghiệm
2- Các nhà quản trị phải đầu tư để tìm ra những phương cách hoạt động khoa học
để hướng dẫn công nhân, thay vì để công nhân tự ý chọn phương pháp làm việc riêng của họ
3- Các nhà quản trị nên sử dụng các biện pháp kinh tế để động viên công nhân hăng hái làm việc Trong đó Ông đề ra phương pháp trả lương theo sản phẩm 4- Phân chia trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi một cách hợp lí giữa những nhà quản trị và người thừa hành Tránh trút hết trách nhiệm cho người công nhân
Trang 5Những nét phát họa đó chưa đủ để xem là một lý thuyết hoàn thiện Song, nhờ có những bước đặt nền móng đầu tiên này mà các nhà quản trị sau này đã vun đắp thành những lý thuyết quản trị nổi tiếng Người có công đóng góp không kém phần quan trọng cho lý thuyết “Quản trị khoa học” đó là Henry L.Gantt
b- Henry L.Gantt (1861 1919) –
Henry L.Gantt cùng làm việc với Taylor trong các nhà máy Midvale, Simonds và Bethlebem Steel Ông cho rằng, hệ thống trả lương theo sản phẩm do Taylor đề xướng không có tác động khuyến khích nhiều cho công nhân Do đó, Ông ta đã bổ sung chế độ trả lương có thưởng Theo đó, công nhân làm vượt định mức trong ngày họ được thưởng thêm tiền, kể cả người quản trị trực tiếp
Một đóng góp khác của L.Gantt là “biểu đồ Gantt” Một kỹ thuật diễn tả thời gian
kế hoạch của công việc bằng cách phân tích thời gian cho từng cônng việc và biểu diễn chúng trên một biểu đồ mà nhìn vào đó, nhà Quản trị có thể thấy được tiến trình thực hiện công việc, từ đó có thể điều chỉnh công việc đạt tới mục tiêu một cách tốt nhất Tuy là một sáng kiến đơn giản nhưng biểu đồ Gantt đã có nhiều hữu ích, do đó nó được sử dụng khả phổ biến trong Quản trị ngày nay
c- Ông bà Gilbreth: Lilian Gilbreth (1878 1972) và Frank Gilbreth (1868 – –
1924)
Cùng quan điểm với Taylor và Gantt, ông bà Gilbreth cho rằng năng suất lao - động quyết định đến hiệu quả Nhưng, con đường để tăng năng suất lao động không phải tác động vào người công nhân, mà bằng cách giảm các động tác thừa
Để chứng minh cho luận điểm của mình, ông bà Gilbreth đã khám phá ra rằng - trong 12 thao tác mà một người thợ xây thực hiện để xây gạch lên tường, có thể rút xuống còn 4, và nhờ đó mà mỗi ngày một người thợ xây có thể xây được 2.700 viên gạch thay vì 1000 viên, mà không cần phải hối thúc
Ông – bà Gilbreth cũng cho rằng, làm giảm các động tác thừa không những làm tăng năng suất lao động mà chúng còn có liên quan trực tiếp đến sự mệt nhọc của công nhân, do đó giảm bớt số lượng thao tác cũng làm giảm mệt nhọc cho người công nhân Vì vậy, ông bà Gilbreth là một trong những người đầu tiên quan tâm - đến khía cạnh tâm lý con người trong quản trị, nhận định đó được thể hiện khá rõ trong luận án Tiến sĩ “Tâm lí quản trị” mà bà Lilian Gilbreth đã bảo vệ thành công năm 1914, nhưng rất tiếc là do nhiều nguyên nhân khác nhau mà tư tưởng của Bà lúc bấy giờ chưa được các nhà quản trị quan tâm đúng mức
Là lý thuyết Quản trị đầu tiên, nó đánh dấu một bước ngoặc mới trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp Những tư tưởng của lý thuyết “Quản trị khoa học” là nền tảng cho các lý thuyết quản trị sau này, cho đến ngày nay những ý kiến đề xuất của Taylor và đồng nghiệp được các nhà thực hành Quản trị áp dụng rộng rãi và đem lại nhiều kết quả tốt
Tuy nhiên, nhiều nhà phê bình hiện nay cho rằng, nói chung tư tưởng của Taylor
và các tác giả thuộc lý thuyết “Quản trị khoa học” là thiếu nhân bản, xem con người như một đinh ốc trong cổ máy Còn GS Koontz thì gọi lý thuyết quản trị
Trang 6của Taylor là lý thuyết “Cây gậy và củ cà rốt” Nhưng, cũng có ý kiến bênh vực cho rằng, tư tưởng của Taylor là sản phẩm của thời đại Ông sống
a - Henri Fayol (1841 1925) –
Henri Fayol là một nhà công ngiệp Pháp Năm 1916, Ông xuất bản tác phẩm
“Quản trị công nghiệp và quản trị chung” (Administration inductrielle et generale) trình bày nhiều quan niệm mới về quản trị Trong đó, Ông trình bày lý thuyết quản trị của mình một cách có hệ thống, tổng hợp và ở trình độ cao hơn so với các lý thuyết khác cùng thời
+ Ông phân chia công việc doanh nghiệp ra thành 6 loại
Sản xuất (kỹ thuật sản xuất)
Thương mại (mua bán, trao đổi)
Tài chính (tạo và sử dụng vốn có hiệu quả)
An ninh (bảo vệ tài sản và nhân viên)
Kế toán
Quản trị
Những đề xuất này của ông có ý nghĩa rất to lớn cho thực hành Quản trị Ngày nay, hầu hết các loại hình doanh nghiệp đều tổ chức bộ máy dựa trên các phát hoạ chung của Fayol Tùy theo từng loại hình và qui mô doanh nghiệp, sự phân chia có thể khác nhau, nhưng nhìn chung họ đều tổ chức theo từng nhóm công việc để quản trị
+ Đề ra 14 nguyên tắc quản trị:
Phân chia công việc
Tương quan giữa thẩm quyền và trách nhiệm
Trang 7Nhận xét về Fayol, các GS Koontz và O’Donnell của Đại học California cho rằng, chính Fayol bằng những tư tưởng rất phù hợp với hệ thống quản trị kinh doanh hiện đại, thực sự xứng đáng được xem là cha đẻ của khoa học quản trị kinh doanh ngày nay, chứ không phải là Taylor
b- Maz Weber (1864 1920) –
Maz Weber là một nhà Xã hội học, người sáng lập ra xã hội học hiện đại và có nhiều đóng góp vào Quản trị học Ông tiếp cận quản trị bằng việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế và chính trị vĩ mô
Lý thuyết quản trị của Weber là phát triển tổ chức hợp lý mà Ông đặt tên là Hệ thống thư lại (Bureaucracy) là hệ thống quản trị hữu hiệu cho tất cả các tổ chức chính quyền, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, … Lý thuyết này cho phép một tổ chức được sắp xếp một hệ thống quản trị theo thứ bậc chặt chẽ, hành xử theo quyền hành chức vụ được qui định rõ ràng
Như vậy, lý thuyết Hệ thống thư lại của Weber thể hiện rõ nét kiểu quản lý “Hành chính”; nó làm cho việc quản trị được tiến hành một cách qui củ, bài bản và chặt chẽ; phân định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các bên, của mỗi cấp trong hệ thống tổ chức Song, áp dụng quản trị theo Hệ thống thư lại trong các tổ chức doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dễ mắc phải bệnh quan liêu, giấy tờ cứng nhắc, không thích hợp với môi trường biến động; triệt tiêu động lực thúc đẩy
sự nhiệt tình, năng động của cấp dưới, không khai thác hết các nguồn lực phát triển của doanh nghiệp
Câu 3 Khái niệm và phân loại môi trường kinh doanh Tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trả lời:
- Khái niệm:
Môi trường quản trị là tổng hợp các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan có
mối quan hệ tương tác lẫn nhau, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của tổ chức
Môi trường hoạt động của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố từ bên trong cũng như từ bên ngoài thường xuyên tác động ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
- Phân loại môi trường kinh doanh:
+ Theo phạm vi cấp độ môi trường (hình bên)
+ Theo mức độ phức tạp và biến động của môi trường:
- Môi trường đơn giản, ổn định
- Môi trường đơn giản, năng động
- Môi trường phức tạp, ổn định
- Môi trường phức tạp, năng động
Trang 8- Tác động của môi trường kinh doanh đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
+ Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài Môi trường vĩ mô:-
1 Môi trường chính trị pháp luật-
- Chính trị: Chính trị là yếu tố đầu tiên mà các nhà đầu tư, nhà quản trị các doanh nghiệp quan tâm phân tích để dự báo mức độ an toàn trong các hoạt động tại các quốc gia, các khu vực nơi mà doanh nghiệp đang có mối quan hệ mua bán hay đầu
tư, giúp các nhà quản trị nhận diện đâu là cơ hội hoặc đâu là nguy cơ của doanh nghiệp để đề ra các quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh trên các khu vực thị
trường thuộc phạm vi quốc gia hay quốc tế
- Luật pháp :Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất lượng là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các doanh nghiệp buộc các doanh
nghiệp phải kinh doanh chân chính, có trách nhiệm
Pháp luật đưa ra những quy định cho phép, không cho phép hoặc những đòi hỏi buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ trong hệ thống luật pháp như thuế, đầu tư sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ như Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông ra đời cho phép mọi thành phần kinh tế được tham gia cung cấp các dịch vụ chuyển phát thư đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp xâm nhập vào lĩnh vực cung cấp các dịch vụ Bưu chính nhưng lại tạo nguy cơ cho VNPT khi phải đối mặt với ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải hiểu rõ tinh thần của luật pháp và chấp hành tốt những quy định của pháp luật, nghiên cứu để tận dụng được các cơ
Trang 9hội từ các điều khoản của pháp lý mang lại và có những đối sách kịp thời trước những nguy cơ có thể đến từ những quy định pháp luật tránh được các thiệt hại do
sự thiếu hiểu biết về pháp lý trong kinh doanh
- Chính phủ: Chính phủ có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ và các chương trình chi tiêu của mình Trong mối quan hệ với các doanh nghiệp chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát, khuyến khích, tài trợ, quy định, ngăn cấm, hạn chế vừa đóng vai trò khách hàng quan trọng đối với doanh nghiệp (trong chương trình chi tiêu của chính phủ) và sau cùng chính phủ đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp như cung cấp thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác Để tận dụng được cơ hội, giảm thiểu nguy cơ các doanh nghiệp phải nắm bắt cho được những quan điểm, những quy định, ưu tiên những chương trình chi tiêu của chính phủ và cũng phải thiết lập một quan hệ tốt đẹp, thậm chí có thể thực hiện sự vận động hành lang khi cần thiết nhằm tạo ra 1 môi trường thuận lợi cho hoạt động của
doanh nghiệp
2.Môi trường kinh tế
Sự tác động của các yếu tố của môi trường này có tính chất trực tiếp và năng động hơn so với một số các yếu tố khác của môi trường tổng quát Những diễn biến của môi trường kinh tế bao giờ cũng chứa đựng những cơ hội và đe doạ khác nhau đối với từng doanh nghiệp trong các ngành khác nhau và có ảnh hưởng tiềm tàng đến các chiến lược của doanh nghiệp
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế:
Nền kinh tế ở giai đoạn có tốc độ tăng trưởng cao sẽ tạo nhiều cơ hội cho đầu tư
mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại khi nền kinh
tế sa sút sẽ dẫn đến giảm chi phí tiêu dùng đồng thời làm tăng lực lượng cạnh tranh Thông thường sẽ gây nên chiến tranh giá cả trong ngành
- Lãi suất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế
Lãi suất và xu hướng của lãi xuất trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư và do vậy ảnh hưởng tới hoạt động của các doanh nghiệp Lãi xuất tăng sẽ hạn chế nhu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới mức lời của các doanh nghiệp Đồng thời khi lãi xuất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn và do vậy làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm xuống
- Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái cũng có thể tạo vận hội tốt cho doanh nghiệp nhưng cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của doanh nghiệp đặc biệt nó tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu Thông thường chính phủ sử dụng công
cụ này để điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế
- Lạm phát
Lạm phát cũng là 1 nhân tố quan trọng cần phải xem xét và phân tích Lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vào nền kinh tế Khi lạm phát quá cao
Trang 10sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra những rủi ro lớn cho sự đầu tư cuả các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Trái lại thiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bị trì trệ Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tư vào nền kinh tế , kích thích thị trường tăng trưởng
- Hệ thống thuế và mức thuế
Các ưu tiên hay hạn chế của chính phủ với các ngành được cụ thể hoá thông qua luật thuế Sự thay đổi của hệ thống thuế hoặc mức thuế có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ đối với các doanh nghiệp vì nó làm cho mức chi phí hoặc thu nhập của doanh nghiệp thay đổi
3 Môi trường văn hoá xã hội
Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà những chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng, bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể Đặc điểm mà các nhà quản trị cần chú ý là sự tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, thậm chí nhiều lúc khó mà nhận biết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng: "nó xác định cách thức người ta sống làm việc, sản xuất, và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ" Như vậy những hiểu biết về mặt văn hoá xã hội sẽ là những cơ -
sở rất quan trọng cho các nhà quản trị trong quá trình quản trị chiến lược ở các doanh nghiệp Các khía cạnh hình thành môi trường văn hoá xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các hoạt động kinh doanh như: (1) Những quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, về lối sống, về nghề nghiệp; (2) Những phong tục, tập quán, truyền thống (3) Những quan tâm và ưu tiên của xã hội; Trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội
Những thay đổi trong môi trường dân số sẽ tác động trực tiếp đến sự thay đổi của môi trường kinh tế và xã hội và ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Những thông tin của môi trường dân số cung cấp những dữ liệu quan trọng cho các nhà quản trị trong việc hoạch định chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường, chiến lược tiếp thị, phân phối và quảng cáo Những khía cạnh cần quan tâm của môi trường dân số bao gồm: (1) Tổng số dân của xã hội, tỷ lệ tăng của dân số, (2) Kết cấu và xu hướng thay đổi của dân số về tuổi tác, giới tính, dân tộc nghề nghiệp, và phân phối thu nhập; (3) Tuổi thọ và tỷ lệ sinh tự nhiên; (4) Các xu hướng dịch chuyển dân số giữa các vùng
4 Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên; đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừng biển,
sự trong sạch của môi trường, nước và không khí, Có thể nói các điều kiện tự nhiên luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của con người (đặc biệt
là các yếu tố của môi trường sinh thái), mặt khác nó cũng là một yếu tố đầu vào hết sức quan trọng của nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng, du lịch, vận tải Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên
Trang 11trở thành một yếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
5 Môi trường công nghệ
Đây là một trong những yếu tố rất năng động chứa đựng nhiều cơ hội và đe doạ đối với các doanh nghiệp:
* Những áp lực và đe doạ từ môi trường công nghệ có thể là:
(1) Sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe doạ các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu (2) Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện hữu bị lỗi thời và tạo
ra áp lực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnh tranh
(3) Sự ra đời của công nghệ mới càng tạo điều kiện thuận lợi cho những người xâm nhập mới và làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành
(4) Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời công nghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắn thời gian khấu hao
(2) Sự ra đời của công nghệ mới có thể làm cho sản phẩm có nhiều tính năng hơn
và qua đó có thể tạo ra những thị trường mới hơn cho các sản phẩm và dịch vụ của công ty
+ Phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài - Môi trường vi mô:
- Khách hàng
Là những người tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, là yếu tố quyết định đầu ra của các doanh nghiệp
Công ty cần phải nghiên cứu kỹ những khách hàng của mình ần làm rõ:C
✓ Khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp là ai? Nhu cầu và thị hiếu của họ là gì? Những khuynh hướng trong tương lai của họ là gì?
✓ Ý kiến của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp ra sao?
✓ Mức độ trung thành của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp?
✓ Áp lực của khách hàng hiện tại đối với doanh nghiệp và xu hướng sắp tới như thế nào?
Trang 12- Những người cung ứng
Là những người cung cấp các nguồn lực như: vật tư, thiết bị, vốn, nhân lực cho hoạt động kinh doanh, kể cả các cơ quan cấp trên như: bộ chủ quản, liên hiệp xí nghiệp có quyền đưa ra các chính sách và quy định đối với hoạt động của doanh nghiệp Những người cung ứng có ảnh hưởng lớn đến kết quả, hiệu quả hoạt động của một doanh nghiệp Để giảm thiểu rủi ro, các doanh nghiệp phải tạo ra được mối quan hệ gắn bó với những nhà cung ứng khác nhau về một loại nguồn lực
- Đối thủ cạnh tranh
Mọi công ty đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh khác nhau Các nguy cơ cạnh tranh trên th c tự ế:
✓ Cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện hữu trong ngành
✓ Nguy cơ xâm nhập mới
✓ Các sản phẩm thay thế
Một điều hết sức quan trọng là khả năng đối thủ cạnh tranh có thể thích nghi với những thay đổi Các doanh nghiệp cần xem xét khả năng phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước các diễn biến của các tiến bộ công nghệ, lạm phát và sự can thiệp mạnh của Chính phủ Ngoài ra, cần xem xét tới khả năng thích nghi của họ đối với các thay đổi liên quan đến từng lĩnh vực hoạt động marketing đang mở rộng hoặc
họ có quản lý được dây chuyền sản phẩm phức tạp hơn không? Sự am hiểu về các đối thủ cạnh tranh chính có tầm quan trọng đến mức có thể nó cho phép đề ra thủ thuật phân tích đối thủ cạnh tranh và duy trì hồ sơ về các đối thủ trong đó có các thông tin thích hợp và các thông tin về từng đối thủ cạnh trạnh chính được thu nhận một cách hợp pháp
+ Các yếu tố của môi trường bên trong:
- Yếu tố nhân lực: biểu hiện ở
✓ Tổng nhân lực hiện có của doanh nghiệp
✓ Cơ cấu nhân lực Trình độ chuyên môn, trình độ lành nghề của lực lượng , nhân lực
✓ Tình hình phân bố và sử dụng nhân lực Khả năng thu hút nhân lực…,
✓ Vấn đề phân phối thu nhập, các chính sách động viên người lao động
Trang 13Nhân lực là một phần chính yếu trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên có năng lực là tiền đ để dảm bảo ề thành công cho doanh nghiệp
- Khả năng tài chính: Khả năng này được thể hiện chủ yếu qua:
✓ Khả năng nguồn vốn hiện có so với yêu cầu thực hiện các kế hoạch, chiến lược của doanh nghiệp
✓ Khả năng huy động các nguồn vốn từ bên ngoài
✓ Tình hình phân bổ và sử dụng nguồn vốn
✓ Việc kiểm soát các chi phí Dòng tiền (thu và chi),
✓ Các quan hệ tài chính trong nội bộ và trong quan hệ với các đơn vị khác Khả năng tài chính của doanh nghiệp uyết định đến việc đầu tư, mua sắm hay qphân phối của doanh nghiệp Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành nhằm duy trì và nâng cao sức mạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường
- Khả năng nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Khả năng này được thể hiện chủ yếu qua:
✓ Khả năng phát triển sản phẩm mới
✓ Khả năng cải tiến kỹ thuật
✓ Khả năng ứng dụng công nghệ mới
Để thực hiện được các mặt trên, đòi hỏi các doanh nghiệp thường xuyên phải thu thập thông tin về thị trường, khách hàng, để hình thành nên những ý tưởng về sản phẩm mới và phải thường xuyên cập nhật các thông tin về sự phát triển của khoa học và công nghệ mới Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp với một hệ thống máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ làm ra sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh Ngược lại không một doanh nghiệp nào mà ợc coi là có khả năng cạnh tranh cao đưtrong khi trong tay họ là cả một hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu
- Văn hóa doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là những chuẩn mực, khuôn mẫu có tính truyền thống, những dạng hành vi, những nguyên tắc, thủ tục có tính chính thức mà mọi thành viên của tổ chức phải noi theo, phải thực hiện Văn hóa doanh nghiệp biểu hiện ở:Triết lý Những luật lệ Bầu không khí làm việc., ,
Để doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn lực con người, thì doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hóa đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của tất cả mọi người vào việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức ây dựng VHDN còn là một yêu cầu tất yếu của chính sách Xphát triển thương hiệu vì thông qua hình ảnh văn hóa doanh nghiệp sẽ góp phần
Trang 14quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp VHDN chính là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp
Câu 4: Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm của quyết định quản trị, quá trình ra quyết định quản trị, công cụ ra quyết định
Trả lời:
1 Khái niệm:
Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo của nhà quản trị nhằm định ra đường lối tính chất họat động của tổ chức nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh đã chín muồi trên cơ sở phân tích các quy luật khách quan đang vận động chi phối đối tượng trên khả năng thực hiện của đối tượng
Quyết định quản trị là hành vi sáng tạo, là sản phẩm của chủ thể quản trị nhằm định ra mục tiêu chương trình, tính chất hoạt động của người hoặc cấp thực hiện quyết định đó để giải quyết một vấn đề trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động của đối tượng quản trị và phân tích thông tin về hiện trạng của hệ thống
2 Ý nghĩa và đặc điểm của quyết định quản trị:
Một quyết định đúng đắn và kịp thời sẽ mang lại hiệu quả, niềm tin, sự ổn định và phát triển; ngược lại quyết định sai hoặc không đúng lúc sẽ gây ra những thiệt hại lớn, mất lòng tin và kìm hãm sự phát triển
Những quyết định thiếu suy nghĩ là kết quả của thái độ thiếu trách nhiệm, của bệnh quan liêu; những quyết định sai là do trình độ hạn chế hoặc do thiếu đạo đức công tác Vì vậy, cần phải có những yêu cầu đặc biệt đối với người ra các quyết định và phải xây dựng các nguyên tắc và phương pháp luận chung cho việc thông qua các quyết định quản trị
Các đặc điểm của quyết định quản trị:
- Các quyết định quản trị tác động trực tiếp và toàn diện vào tập thể những người lao động; chỉ chủ thể quản trị (người lãnh đạo hoặc cơ quan tập thể lãnh đạo) mới
- Ra quyết định quản trị mới chỉ ra khả năng, muốn biến khả năng thành hiện thực phải tổ chức thực hiện quyết định
3 Quá trình ra quyết định quản trị:
Trang 15- Làm sáng tỏ nghĩa là người ra quyết định đánh giá tác động đã được nhận biết và nguyên nhân thực sự của vấn đề cũng như những triệu chứng không chính xác của nó
- Hợp nhất nghĩa là người ra quyết định liên kết những hiểu biết của mình với mục tiêu hiện tại hay tương lai của tổ chức
Vấn đề ra quyết định được hiểu như là một nhiệm vụ mà tổ chức cần phải giải quyết, nếu không tổ chức sẽ khó có thể phát triển được Không phải mọi vấn đề trong tổ chức đều trở thành vấn đề quyết định Không phải mọi cơ hội đều trở thành vấn đề quyết định Chỉ những vấn đề chín muồi mới trở thành vấn đề quyết định, đó là vấn đề cấp bách và có thể can thiệp có hiệu quả bằng một quyết định
Bước 2: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá
Tiêu chuẩn cần được xác định bằng các chỉ tiêu số lượng và chất lượng, phản ánh kết quả đạt mục tiêu của tổ chức hay kết quả mong muốn của việc giải quyết vấn
đề quyết định Thường các tiêu chuẩn được chọn từ các chỉ tiêu: chi phí nhỏ nhất, năng suất cao nhất, sự dụng thiết bị nhiều nhất, sử dụng vốn sản xuât tốt nhất…tùy theo mục tiêu của nhiệm vụ đề ra Ngoài ra còn có các chỉ tiêu như: chất lượng sản phẩm làm ra, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
Bước 3: Tìm kiếm phương án
Tìm kiếm phương án của quyết định, số lượng các phương án tùy thuộc vào tính thời gian và tầm quan trọng của vấn đề cần ra quyết định Tìm các phương án phân tích để loại bỏ những phương án không có tính khả thi, nhóm các phương án tương tự là quá trình của bước tìm kiếm phương án
Bước 4: Đánh giá phương án
Chỉ ra ưu nhược điểm và hạn chế của từng phương án, còn gọi là phân tích phương
án Bước đánh giá phương án có hai nhiệm vụ: Thứ nhất xác định số đo hiệu quả của từng phương án; Thứ hai loại đi các phương án không đáng giá Phương án không đáng giá là phương án không đạt các tiêu chuẩn hiệu quả hoặc có những hạn chế mà tổ chức không thể khắc phục được
Bước 5: Lựa chọn phương án tối ưu
Bước tiếp theo của quá trình đề ra quyết định là lựa chọn phương án Trong số các phương án đáng giá cần phải chọn ra phương án thõa mãn cao nhất tiêu chuẩn hiệu quả, đồng thời có thể khắc phục được yếu tố hạn chế
Bước 6: Ra quyết định
Trang 16Quyết định cuối cùng thực chất là thi hành giải pháp đã chọn Sự thành công của một quyết định phụ thuộc vào khả năng biến kế hoạch thành hành động Các phương án tốt nhất được xem là phương án quyết định Người lãnh đạo trực tiếp ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết theo phương án quyết định đó
4 Công cụ ra quyết định:
a Công cụ định lượng toán học
Định lượng toán học là một phương pháp ra quyết định hiện đại ngày càng có ý nghĩa quan trọng Thực chất của phương pháp này là vận dụng toán học vào quá trình đề ra quyết định
Công cụ 1: Các mô hình thống kê
Vận dụng các mô hình toán xử lý các bài toán quản trị (đặc biệt trong quan trị sản xuất), sử dụng các công cụ khác nhau như dự đoán kinh tế, lý thuyết xác suất và thống kê toán, lý thuyết điều tra chọn mẫu, lý thuyết phục vụ đám đông, lý thuyết tồn kho dự trữ …Ngoài ra trong quá trình ra quyết định quản trị còn sử dụng đến các sơ đồ PERT, sơ đồ Gantt
Công cụ 2: Cây quyết định
Là phương pháp ra quyết định cho phép nhà quản trị đánh giá các vấn đề theo một trật tự lô gic Thông qua đó tìm ra giải pháp tối ưu cho dự định tương lai
- Những người ra quyết định thường sử dụng phương pháp này để đưa ra các quyết định trong những môi trường kinh doanh nhiều rủi ro nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp Nó được áp dụng khá thành công trong các lĩnh vực như quản trị tài chính, marketing và định giá mở rộng nhà máy, tung sản phẩm mới ra thị trường Các yếu tố cơ bản tạo nên cây quyết định là những giả thiết và xác suất xảy ra của chúng xuất phát từ kết quả ước tính Cây quyết định thường có nhiều nhánh, mỗi nhánh là một giải pháp mà người ra quyết định có thể lựa chọn
b Công cụ định tính
* Kỹ thuật Delphi
Là kỹ thuật được sử dụng trong việc ra quyết định theo nhóm khi các thành viên không được triệu tập tới cuộc họp Đây là kỹ thuật các thành viên không đối mặt nhau lên để tránh những áp lực lên nhau Kỹ thuật này gồm một số bước sau: B1 Vấn đề được xác định và các thành viên được yêu cầu đưa ra ý kiến qua một phiếu câu hỏi được chuẩn bị kỹ
B2 Mỗi thành viên hoàn tất câu hỏi phiếu câu hỏi một cách độc lập theo quan điểm và phương án của mình
B3 Những kết quả của lần trả lời thứ nhất được tập hợp lại và in ra
B4 Mỗi thành viên nhận được bản in kết quả đã xử lý
Trang 17B5 Sau khi xem xét lại kết quả lần thứ nhất các thành viên được yêu cầu cho các giải pháp Kết quả là các thành viên thường đưa ra những ý kiến mới so với ý kiến ban đầu của họ
B6 Tiếp tục thực hiện bước 4 và bước 5 cho đến khi có sự thống nhất ý kiến của các thành viên
Kỹ thuật Delphi ngăn chặn sự tiếp xúc trực tiếp của các thành viên nhằm tránh gây ảnh hưởng lẫn nhau khi tiếp xúc trao đổi trực tiếp Nó khai thác tối đa trí tuệ, kiến thức của các chuyên gia giỏi về một lĩnh vực
* Kỹ thuật tập thể danh nghĩa
Là kỹ thuật được sử dụng trong việc ra quyết định tập thể tìm ra giải pháp trên cơ
sở đánh giá các phương án của mỗi cá nhân, bao gồm các bước sau:
B1 Các thành viên họp lại trước khi thảo luận mỗi người tự ghi lại ý kiến của mình về vấn đề cần ra quyết định
B2 Sau đó mỗi người lần lượt trình bày những ý kiến của mình và cứ tiếp tục như vậy cho tới khi không còn ý kiến, tất cả những ý kiến đều được ghi lại đầy đủ B3 Tập thể thảo luận các ý kiến đưa ra và đánh giá các ý kiến đó
B4 Mỗi thành viên độc lập cho điểm các ý kiến, quyết định sau cùng là những ý kiến được nhiều điểm nhất
* Kỹ thuật động não
Là kỹ thuật ra quyết định tập thể được dùng trong quá trình tìm tòi sáng kiến của mỗi người tham gia thảo luận về quyết định Kỹ thuật được thực hiện như sau: B1 Các thành viên tham gia quá trình ra quyết định tham dự cuộc họp có vị chủ toạ làm chủ
B2 Chủ toạ nêu vấn đề cần ra quyết định Sau đó đưa ra một khoảng thời gian quy định dành cho các thành viên suy nghĩ để đưa ra ý kiến
B3 Sau khoảng thời gian đó các thành viên lần lượt nêu ý kiến của mình
Trong cuộc họp không có sự phê bình hay phân tích về các ý kiến đưa ra, các ý kiến đuợc ghi lại và phân tích sau
B4 Cuộc họp kết thúc, quyết định được đưa ra sau khi tiến hành phân tích các ý kiến
Câu 5: Khái niệm và vai trò của chức năng hoạch định, các loại kế hoạch, các
công cụ sử dụng trong quá trình hoạch định (ma trận SWOT, BCG)