MỤC LỤC CHƯƠNG 1 HỢP ĐỒNG TMQT VÀ TMQT CỦA VN 2 Câu 1 Hiệp định thương mại EVFTA tác động TMQT, ĐTQT ở VN 2 Câu 2 Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ Trung Quốc tác động đến TMQT, Câu 3: Cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam........................................................ 31 Câu 4: Covid 19 ảnh hưởng đến cán cân thương mại của VN như thế nào? ................. 38 CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM ....................................................... 43 Câu 5: Phân tích môi trường bên trong ĐTQT của Việt Nam. Trong các yếu tố đó, theo em yếu tố nào là quan trọng nhất? ................................................................................. 43 Câu 6: Tác động tích cực, tiêu cực của FDI ở Việt Nam............................................... 51 Câu 7: Tác động của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.................................................... 55 CHƯƠNG 3: TRAO ĐỔI QUỐC TẾ VỀ SỨC LAO ĐỘNG VÀ KHCN.................. 63 Câu 8: Tác động của việc di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm viĐTQT.
Trang 1MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: HỢP ĐỒNG TMQT VÀ TMQT CỦA VN 2
Câu 1: Hiệp định thương mại EVFTA tác động TMQT, ĐTQT ở VN 2
Câu 2: Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc tác động đến TMQT, ĐTQT của Việt Nam 18
Câu 3: Cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam 31
Câu 4: Covid 19 ảnh hưởng đến cán cân thương mại của VN như thế nào? 38
CHƯƠNG 2: ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 43
Câu 5: Phân tích môi trường bên trong ĐTQT của Việt Nam Trong các yếu tố đó, theo em yếu tố nào là quan trọng nhất? 43
Câu 6: Tác động tích cực, tiêu cực của FDI ở Việt Nam 51
Câu 7: Tác động của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài 55
CHƯƠNG 3: TRAO ĐỔI QUỐC TẾ VỀ SỨC LAO ĐỘNG VÀ KHCN 63
Câu 8: Tác động của việc di chuyển lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc 63
Trang 2CHƯƠNG 1: HỢP ĐỒNG TMQT VÀ TMQT CỦA VN Câu 1: Hiệp định thương mại EVFTA tác động TMQT, ĐTQT ở VN
I, Tổng quan về hiệp định EVFTA
Giới thiệu chung về hiệp định EVFTA:
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU), gọi tắt
là Hiệp định EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 được
kỳ vọng là một trong những đòn bẩy kinh tế, là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh, thúc đẩy
tự do hóa thương mại, hợp tác liên kết, góp phần vực dậy nền kinh tế sau những tác động nặng nề của đại dịch Covid-19
Quá trình đàm phán, kí kết hiệp định EVFTA:
- Vào tháng 10 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Chủ tịch Ủy ban Châu Âu đã đồng ý khởi động đàm phán hiệp định EVFTA sau khi hoàn tất các công việc kỹ thuật Trên cơ sở đó, hai bên đã chính thức tuyên bố khởi động đàm phán Hiệp định EVFTA ngày 26 tháng 6 năm 2012 Với tinh thần đàm phán tích cực, linh hoạt của
cả EU và Việt Nam sau 14 vòng đàm phán chính thức và nhiều phiên đàm phán giữa
kì, đến tháng 12/2015 đã kết thúc đàm phán và bắt đầu rà soát pháp lý để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định
- Sau nhiều lần rà soát, phê duyệt ngày 30 tháng 6 năm 2019: Việt Nam và EU chính thức ký kết EVFTA Ngày 08 tháng 6 năm 2020: Quốc hội Việt Nam phê chuẩn Hiệp định EVFTA Và Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020 mở ra những cơ hội
và triển vọng to lớn, đây cũng là thời điểm đặc biệt quan trọng của quan hệ đối tác hợp tác toàn diện Việt Nam-EU
- Hiệp định gồm 17 chương, 8 phụ lục, 2 nghị định thư, 2 biên bản ghi nhớ và 4 tuyên bố chung điều chỉnh nhiều vấn đề, bao gồm:: Thương mại hàng hóa, Quy tắc xuất
xứ, Hải quan và thuận lợi hóa thương mại, Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Phòng vệ thương mại, Cạnh tranh, Doanh nghiệp nhà nước, Mua sắm của Chính phủ, Sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý), Phát triển bền vững, Hợp
Trang 3tác và xây dựng năng lực, Pháp lý-thể chế Hiệp định cũng bao gồm cách tiếp cận mới, tiến bộ hơn về bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư
- Hiệp định EVFTA được khởi động và kết thúc trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam - EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại Hiệp định này sẽ tiếp tục tạo động lực thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế và giúp tạo thêm nhiều việc làm tại Việt Nam và EU
- Về mặt chiến lược, việc đàm phán và thực thi các Hiệp định này cũng gửi đi một thông điệp tích cực về quyết tâm của Việt Nam trong việc thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới trong bối cảnh tình hình kinh tế địa chính trị đang có nhiều diễn biến phức tạp và khó đoán định
Quan hệ giữa VN-EU
- Trong khu vực châu Á, Việt Nam là một trong số ít quốc gia có Hiệp định thương mại với EU (sau Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore) Vì thế, Hiệp định Thương mại tự
do Việt Nam – EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/8/2020 đã mở ra những
cơ hội và triển vọng to lớn đưa quan hệ Việt Nam-EU lên tầm cao mới, là sự kiện có ý nghĩa đúng vào dịp kỷ niệm 30 năm Việt Nam-EU thiết lập quan hệ ngoại giao (1990-2020) và là kết quả của sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong suốt một thập kỷ từ khi Việt Nam và EU tiến hành đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA)
- Việc ký và thực thi Hiệp định EVFTA và Hiệp định EVIPA đưa Việt Nam trở thành đối tác hàng đầu của EU trong ASEAN và là một trong những nước châu Á-Thái Bình Dương mà EU có quan hệ sâu rộng nhất cả về chính trị, kinh tế, thương mại, hợp tác phát triển, môi trường, năng lượng bền vững và an ninh quốc phòng
- Với dân số 500 triệu người và GDP 16 nghìn tỷ USD, EU là thị trường rộng lớn
và tiềm năng, là một trong các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, sau Hoa Kỳ
và Trung Quốc Đối với EU, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 17 trên thế giới, thứ 8 trong các đối tác ở châu Á và lớn thứ hai trong ASEAN.Hiệp định EVFTA là cơ hội vàng giúp hai bên đẩy mạnh hợp tác và cùng phát triển
- Ủy viên Thương mại của EU, Phil Hogan, tuyên bố Việt Nam hiện nằm trong nhóm gồm 77 nước có quan hệ thương mại với EU theo các điều kiện ưu đãi song phương Thỏa thuận này giúp tăng cường liên kết kinh tế của EU với khu vực năng động ở Đông Nam Á và có tiềm năng sẽ góp phần phục hồi kinh tế sau cuộc khủng hoảng COVID-19
Trang 4- Hiệp định EVFTA thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của cả Việt Nam và EU trong việc thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan hệ giữa 2 bên phát triển sâu rộng và thực chất hơn Việc tham gia Hiệp định EVFTA khẳng định cam kết của Việt Nam đối với hệ thống thương mại tự do quốc tế, thúc đẩy đàm phán FTA của Việt Nam với các đối tác quan trọng khác, đánh dấu giai đoạn hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng của Việt Nam Đồng thời, EVFTA cũng tạo ra sức hấp dẫn cho Việt Nam trong thu hút đầu tư từ một đối tác đầu tư FDI hàng đầu thế giới, với nguồn vốn, công nghệ
và quản lý tiên tiến bậc nhất hiện nay
II, Tác động của hiệp định EVFTA đến Việt Nam
1, Tác động tích cực đến kinh tế
1.1.Đối với TMQT
Bên cạnh các tác động chung tới các khía cạnh khác nhau của nền kinh tế (các chỉ số kinh tế vĩ mô), Hiệp định EVFTA có tác động khác nhau đối với các ngành do mức độ mở cửa, lợi thế cạnh tranh, năng lực của từng ngành là khác nhau Ngoài ra, tác động gián tiếp thông qua sức ép cải cách thể chế cũng sẽ mang lại những ảnh hưởng tích cực tới nền kinh tế Cụ thể:
Thứ nhất, tác động đến xuất khẩu
- Tham gia Hiệp định EVFTA dự kiến giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam sang EU tăng thêm khoảng 42,7% vào năm 2025 và 44,37% vào năm 2030 so với không có Hiệp định Xét về tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới,
dự kiến kim ngạch của Việt Nam sẽ tăng trung bình 5,21-8,17% (cho giai đoạn 05 năm đầu thực hiện), 11,12-15,27% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo) và 17,98-21,95% (cho giai đoạn 05 năm sau đó)
- về xuất khẩu, hiện tại EU là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, tuy nhiên thị phần hàng hóa của Việt Nam tại khu vực này còn rất khiêm tốn, bởi năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam còn hạn chế (nguyên nhân làm cho giá
cả sản phẩm hàng hóa xuất khẩu cao là do nguyên liệu chủ yếu được nhập khẩu; quy
mô nhà xưởng, cơ sở vật chất của DN khá nhỏ không đáp ứng được đơn hàng EU)
- Năm 2019, EU-27 là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 2 thế giới với trị giá nhập khẩu từ ngoài khối đạt 1.934 tỷ Euro Xét tương quan xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này, hàng hóa Việt Nam mới chỉ chiếm thị phần khoảng 1,8%
Trang 5Như vậy, dư địa để hàng hóa Việt Nam tăng thêm thị phần còn khá lớn khi tính cạnh tranh tăng cao nhờ thuế nhập khẩu ưu đãi được cắt giảm theo EVFTA
- Số liệu thống kê cho thấy, năm 2019, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước thành viên EU (28 nước) đạt trên 56,4 tỷ USD, chiếm gần 11% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 41,54 tỷ USD, giảm 0,81% so với năm 2018, chiếm 15,7% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Trong khi nhập khẩu từ EU của Việt Nam là 14,9 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 5,9% kim ngạch(7)
- Sau khi EVFTA đi vào thực thi, hàng hóa được xóa bỏ tới trên 99% thuế quan, các DNNVV sẽ có nhiều cơ hội tăng khả năng cạnh tranh về giá của hàng hóa khi xuất
khẩu vào EU Các ngành dự kiến sẽ được hưởng lợi nhiều nhất là những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam mà hiện EU vẫn đang duy trì thuế quan cao như dệt
may3, giày dép và hàng nông sản Thị trường EU chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép Việt Nam và luôn ở mức hơn 30%
- Xuất khẩu của một số ngành sang thị trường EU được dự báo tăng mạnh như: Nhóm hàng nông sản: gạo (tăng thêm 65% vào năm 2025), đường (8%), thịt lợn (4%), lâm sản (3%), thịt gia súc gia cầm (4%), đồ uống và thuốc lá (5%); nhóm ngành sản xuất: dệt (67%), may mặc (81%), da giày (99%); Nhóm ngành dịch vụ tăng: vận tải thủy (100%), vận tải hàng không (141%), tài chính và bảo hiểm (21%), các dịch vụ phục vụ kinh doanh khác (80%)…
- Ngay sau khi EVFTA có hiệu lực từ đầu tháng 8-2020, mặc dù diễn biến dịch bệnh tại EU và các nước trên thế giới rất phức tạp nhưng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU các tháng 8, 9, 10/2020 lần lượt đạt 3,25 tỷ USD, 3,07 tỷ USD và 3,3 tỷ USD, tăng 4,2%, 8,7% và 6,3% so với cùng kỳ năm 2019 Đến tháng 11-2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 12,4 tỷ USD, tăng 1% so với cùng
kỳ năm 2019 và cải thiện so với mức giảm 5,9% trong 7 tháng đầu năm 2020 Nhờ đó, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sau giai đoạn sụt giảm mạnh trong 7 tháng đầu năm 2020 do tác động của đại dịch COVID-19 đã dần thu hẹp kể từ tháng 8-
2020
- Tuy nhiên, tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – EU vẫn giảm 1%, đạt 45,3 tỷ USD và riêng xuất khẩu giảm 3,3%, đạt 31,9 tỷ USD trong bối cảnh tình hình dịch bệnh tại EU vẫn diễn biến phức tạp và bùng phát trở
Trang 6lại, đặc biệt là từ đầu quý 4/2020, tác động nặng nề đến tình hình kinh tế khu vực và nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người dân
- Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và EU 10 tháng năm 2020 ước tính đạt 40,7 tỷ USD, giảm 1% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó xuất khẩu đạt 28,9
tỷ USD, giảm 3%; nhập khẩu đạt 11,8 tỷ USD, tăng 4,2% Kim ngạch các nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam đều tập trung ở thị trường EU
- Một số mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang EU ghi nhận mức tăng trưởng khả quan so với trước khi EVFTA có hiệu lực Kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong 4 tháng sau khi EVFTA có hiệu lực tăng 47,4% so với cùng kỳ năm 2019, tăng mạnh hơn so với mức tăng 15,3% trong 7 tháng đầu năm 2020; xuất khẩu hàng thủy sản tăng 8,7% so với mức giảm 15,6%; xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 24,7% so với mức giảm 16,4%
- Tuy nhiên, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU có sự sụt giảm mạnh trong năm 2020 là điện thoại và linh kiện (đạt 10,06 tỷ USD, giảm 18,6%); hàng dệt may (đạt 3,68 tỷ USD, giảm 15%) do xu hướng chung của thị trường (giảm tương ứng 0,4% và 9,2% so với năm 2019)(9) Nguyên nhân chủ yếu được đánh giá là vì nhu cầu tiêu dùng tại thị trường EU giảm do tác động của dịch bệnh COVID-19 Mặc dù vậy, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU có xu hướng giảm chậm lại, chỉ giảm 7,2% trong 4 tháng sau khi EVFTA có hiệu lực, so với mức giảm 15,3% trong 7 tháng đầu năm 2020(10)
- Kể từ khi EVFTA có hiệu lực vào tháng 8/2020, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang EU đã dần được cải thiện và tăng 18% trong 3 tháng đầu năm 2021 Ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu – Bộ Công Thương, hiện nay, thế giới vẫn đang ở trong tình trạng chịu tác động rất nặng nề của dịch Covid-19, cộng thêm những hệ quả khác từ dịch bệnh như vấn đề thiếu container rỗng, hay việc tăng giá cước tàu biển và gần đây nhất là sự cố của kênh đào Suez… nhưng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong quý I/2021 vẫn ghi nhận mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm
2020 Ước tính, kim ngạch xuất nhập khẩu quý I đạt 152,65 tỷ USD, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 77,34 tỷ USD, tăng 22%; nhập khẩu hàng hóa đạt 75,31 tỷ USD, tăng 26,3% Cán cân thương mại hàng hóa quý I/2021 ước tính xuất siêu 2,03 tỷ USD
Trang 7- Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 3, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao 22% trong quý I/2021 Đồng thời, mức tăng trưởng này cũng tương đối cao so với các nền kinh tế khác trong khu vực châu Á Cụ thể, trong 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của Indonesia tăng 8,56%, Singapore tăng 1,1%, Hàn Quốc tăng 10,5%, Nhật Bản tăng 9%, Thái Lan giảm 1,16%
-Đặc biệt, Bộ Công Thương cho biết, cùng với nhu cầu tăng trở lại, giá hàng hóa xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng Cụ thể, giá xuất khẩu bình quân nhiều mặt hàng tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm 2020 như: Gạo tăng 18,6%, đạt 547 USD/tấn; cà phê tăng 6,8%, đạt bình quân 1.801 USD/tấn; chè tăng 10,2%, đạt bình quân 1.604 USD/tấn; cao su tăng 14,1%, đạt bình quân 1.660 USD/tấn; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 9,3% Đặc biệt, giá hạt tiêu tăng mạnh nhất, tăng tới 31,5%, đạt bình quân 2.879 USD/tấn
- Cho đến nay, cam kết của EU trong EVFTA là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho ta trong các hiệp định FTA đã được ký kết Theo cam kết, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU Tiếp đó sau 07 năm, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của ta Đối với 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại của Việt Nam, EU dành cho ta hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.Vì vậy, EVFTA mở ra
cơ hội rất lớn cho DNNVV Việt Nam tham gia thị trường rộng lớn này và tạo sân chơi bình đẳng giữa DN Việt Nam và DN của EU
Thứ 2, tác động đến nhập khẩu
- Các DN Việt Nam cũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý hơn từ EU Các DNNVV sẽ có cơ hội được tiếp cận với nguồn máy móc, thiết bị, công nghệ/kỹ thuật cao từ các nước
EU, qua đó để nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng sản phẩm của mình
+ Đặc biệt, ngành da giày, các DN sẽ nhập được công nghệ giày dép tốt từ các nước có nền sản xuất giày dép phát triển như Đức, Italia Đồng thời, nhập khẩu được nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất sản phẩm giày dép ở phân khúc hạng trung và cao cấp
+ Trong ngành nông nghiệp, các DNNVV có thể tiếp cận máy móc thiết bị phục vụ cho nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp quy mô
Trang 8lớn để giúp DN cắt giảm chi phí trong sản xuất, từ đó gia tăng sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa
- Đối với kim ngạch nhập khẩu từ EU, trong 4 tháng sau khi EVFTA có hiệu lực, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ EU đạt 5,06 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2019, cao hơn so với mức tăng 3% trong 7 tháng đầu năm 2020 (trước khi EVFTA có hiệu lực)
- Trong 4 tháng (tháng 8 đến tháng 11) sau khi EVFTA có hiệu lực, nhập khẩu một số mặt hàng từ thị trường EU tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2019, như thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 106,216 nghìn USD tăng 27,2% ; sản phẩm từ sắt thép đạt 72,451 nghìn USD tăng 18%;dược phẩm đạt 562,759 nghìn USD tăng 19,1%; thuốc trừ sâu và nguyên liệu; kim loại thường Trong khi nhập khẩu nhiều mặt hàng vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019 Cụ thể, nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng từ thị trường EU mặc dù vẫn giảm, nhưng mức giảm đã chậm lại, với mức giảm trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11-2020 là 8,3%, thấp hơn so với mức giảm 19,4% trong 7 tháng đầu năm 2020
- Xét về tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thế giới, dự kiến kim ngạch của Việt Nam tăng trung bình 4,36-7,27% (cho giai đoạn 05 năm đầu thực hiện), 10,63-15,4% (cho giai đoạn 05 năm tiếp theo) và 16,41-21,66% (cho giai đoạn 05 năm sau đó)
- Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể
khoảng 33,06% vào năm 2025 và 36,7% vào năm 2030 Về mặt vĩ mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019-2023); 4,57-5,30% (năm 2024-2028) và 7,07-7,72% (năm 2029-2033)
- Nhóm hàng được dự báo tăng nhập khẩu nhiều nhất từ EU là phương tiện và thiết bị vận tải, chiếm khoảng 12% tổng giá trị nhập khẩu tăng thêm, nhóm hàng máy móc thiết bị (10%), dệt may và điện thoại và linh kiện điện tử (6-7%), nông, lâm, thủy
sản (5%) Xét về tổng thể, EVFTA sẽ góp phần giúp đa dạng hóa thị trường của ta
để không bị phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường nào, từ đó giúp bảo đảm an ninh kinh tế của Việt Nam
Thứ ba, Về lợi thế cạnh tranh
Trang 9- EVFTA cũng tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn trong thời gian ngắn hạn và trung hạn cho Việt Nam so với các nước ASEAN tại thị trường EU Là đối tác thương mại lớn với nhiều nước ASEAN, nhưng đến nay, mới chỉ có Việt Nam và Singapore đã kết thúc đàm phán FTA với EU Thực tế, lĩnh vực thương mại hàng hóa, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam và Singapore sang EU khác nhau Đối với các nước ASEAN khác, tiến trình đàm phán FTA với EU hiện đang tạm dừng hoặc bắt đầu chậm hơn Việt Nam Như vậy, trong giai đoạn 10 đến 15 năm tới, với việc được hưởng mức thuế nhập khẩu thấp hơn, các cơ chế tạo thuận lợi thương mại ưu đãi hơn từ EVFTA, các DN Việt Nam
sẽ có lợi thế hơn hẳn so với các nước ASEAN khi tiếp cận thị trường EU
- Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng thuế theo Quy định về chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập GSP (thấp hơn thuế MFN là 3,5%; đối với thuế tuyệt đối là 30%), tuy vậy mức thuế này còn rất cao Việc hiệp định EVFTA được ký kết sẽ giúp hàng xuất khẩu của Việt Nam có sức cạnh tranh lớn so với hàng hóa cùng chủng loại từ các nước đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc và một số nước ASEAN do chênh lệch thuế nhập khẩu từ 10-15% và có thể cạnh tranh bình đẳng về giá với những nước hiện EU không áp dụng thuế quan và hạn ngạch như Campuchia, Myanmar, Bangladesh
- Cụ thể, các nhóm ngành hàng quan trọng được hưởng lợi sau khi Hiệp định có hiệu lực đó là: dệt may, giày dép, thủy sản, gạo
+ Đối với ngành dệt may, trong vòng 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU
sẽ xóa bỏ thuế quan với 77,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, 22,7% kim ngạch còn lại sẽ được xóa bỏ sau 7 năm
+ Với ngành giày dép, EU cam kết giảm thuế xuống 0% đối với 42,1% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực Sau 3 năm và 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực thì tỷ lệ này sẽ lần lượt là 73,2% và 100%
+ Về ngành thủy sản (trừ cá ngừ đóng hộp và cá viên), EU sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 86,5% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong vòng 3 năm, 90,3% trong vòng
5 năm và 100% trong vòng 7 năm Đối với cá ngừ đóng hộp, EU dành Việt Nam hạn ngạch thuế quan là 11.500 tấn/năm; đối với cá viên, hạn ngạch thuế quan là 500 tấn/năm
+ Với ngành hàng gạo, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch 80.000 tấn gạo/năm (gồm 30.000 tấn gạo xay xát, 20.000 tấn gạo chưa xay xát và 30.000 tấn gạo thơm) Đặc biệt, EU sẽ tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm (cam kết này giúp Việt Nam có
Trang 10thể xuất khẩu ước khoảng 100.000 tấn vào EU hàng năm) Đối với sản phẩm từ gạo,
EU sẽ đưa thuế suất về 0% sau 3 đến 5 năm
- Ngoài ra, đối với các sản phẩm rau quả tươi, rau củ quả chế biến, cà phê, hạt tiêu, túi xách, vali, sản phẩm nhựa, sản phẩm gốm sứ thủy tinh về cơ bản được xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực
- Ở chiều ngược lại, hàng hóa của Việt Nam nhập từ các thành viên EU cũng đa dạng Điển hình như năm 2019, nước ta nhập khẩu mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện
tử và linh kiện từ Iceland với trị giá đến gần 2,3 tỷ USD Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; dược phẩm; hàng tiêu dùng; ô tô nguyên chiếc; mặt hàng thực phẩm: Trứng, sữa, mật ong, thịt gà, thịt bò, rau củ xứ lạnh… từ các thành viên EU
- Với việc xóa bỏ ngay lập tức 85,6% dòng thuế giữa Việt Nam với EU, nhiều ngành hàng của Việt nam sẽ có lợi thế vì giảm được chi phí nhập khẩu nguyên liệu sản xuất
Thứ tư, EVFTA tạo điều kiện cơ cấu lại thị trường xuất khẩu, nhập khẩu
Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu với khu vực châu Á (chiếm khoảng 80% kim ngạch nhập khẩu và 50% kim ngạch xuất khẩu) EVFTA sẽ giúp doanh nghiệp có điều kiện thâm nhập, khai thác các thị trường mới, thị trường còn nhiều tiềm năng cho xuất khẩu của Việt Nam
Thứ năm, EVFTA tạo cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu
- EVFTA là điều kiện quan trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm dần việc gia công lắp ráp, tham gia vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó bước sang giai đoạn phát triển các ngành điện
tử, công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp xanh
- Nguồn vốn đầu tư nước ngoài để tận dụng EVFTA hứa hẹn mang lại cơ hội hợp tác về vốn, chuyển giao công nghệ và phương thức quản lý hiện đại, hiệu quả hơn cho doanh nghiệp Việt Nam
Thứ sáu, EVFTA tạo động lực phát triển công nghiệp phụ trợ
- Quy tắc xuất xứ trong EVFTA đối với hàng dệt may là quy tắc tương đối chặt
“từ vải trở đi”, tức vải nguyên liệu được dùng để may quần áo phải được dệt tại Việt Nam hoặc các nước thành viên EU Đồng thời, sản phẩm dệt may cần đáp ứng tiêu chí
Trang 11phép sử dụng linh hoạt 10% (theo trọng lượng) sợi hoặc xơ và 8% (theo giá trị) nguyên liệu dệt may khác không có xuất xứ được sử dụng trong quá tình sản xuất Đây là thách thức không nhỏ của ngành do hiện nay ngành vẫn phải chủ yếu dựa vào nhập khẩu vảai
và nguyên phụ liệu do chưa chủ động nguồn cung trong nước, trong khi các đơn hàng chủ yếu làm gia công và việc sử dụng vải và nguyên liệu theo chỉ định của khách hàng nước ngoài
- Quy tắc xuất xứ là thách thức cho xuất khẩu nhưng cũng bao hàm cơ hội khi tạo
áp lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu
1.2 Về hoạt động đầu tư
- Với các cam kết tự do hóa đầu tư trong EVFTA, các doanh nghiệp EU sẽ được hưởng ưu đãi hơn khi đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam Đồng thời, những điều chỉnh, sửa đổi quy định pháp luật của Việt Nam để phù hợp với EVFTA trong một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ cũng sẽ góp phần giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp EU nói riêng được hưởng sự bảo hộ cao hơn đối với hoạt động đầu tư sáng tạo
Do vậy, EVFTA được đánh giá sẽ tạo ra những cơ hội lớn để Việt Nam có thể thu hút các nhà đầu tư từ EU, nhất là trong các lĩnh vực như công nghiệp chế biến, chế tạo, sử
dụng công nghệ cao, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, dịch vụ
- Khi tích cực và chủ động tham gia EVFTA, Việt Nam có lợi thế trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của các DN châu Âu Nông nghiệp, công nghệ cao sẽ là những lĩnh vực tiềm năng được nhiều DN châu Âu quan tâm, trong đó, ngoài việc tập trung nguồn vốn còn đẩy mạnh chuyển giao giải pháp công nghệ cao trong nông nghiệp, sản xuất chế biến nông sản, thực phẩm
- Về đầu tư của EU vào Việt Nam: Năm 2019, EU có 2.375 dự án (tăng 182 dự
án so với năm 2018) từ 27/28 quốc gia thuộc EU) còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 25,49 tỷ USD (tăng 1,19 tỷ USD) chiếm 7,70% số dự án của cả nước và chiếm 7,03% tổng vốn đầu tư đăng ký của các nước
- Trong đó, Hà Lan đứng đầu với 344 dự án và 10,05 tỷ USD, chiếm 39,43% tổng vốn đầu tư của EU tại Việt Nam (tăng 26 dự án và 692,76 triệu USD vốn đầu tư) Vương quốc Anh đứng thứ 2 với 380 dự án và 3,72 tỷ USD tổng vốn đầu tư, chiếm 14,58% tổng vốn đầu tư (tăng 29 dự án và 210,10 triệu USD vốn đầu tư) Pháp đứng
Trang 12thứ 3 với 563 dự án và tổng vốn đầu tư 3,60 tỷ USD, chiếm 14,13% tổng vốn đầu tư (tăng 23 dự án nhưng giảm 72,07 triệu USD vốn đầu tư)
- Một số tập đoàn lớn của EU đang hoạt động có hiệu quả tại Việt Nam như: BP (Anh), Shell Group (Hà Lan), Total Elf Fina (Pháp Bỉ), Daimler Chrysler (Đức), Siemen, Alcatel Comvik (Thuỵ Điển) Đáng chú ý, xu thế đầu tư của các DN châu
Âu chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhưng gần đây có xu hướng phát triển tập trung hơn vào các ngành dịch vụ (bưu chính viễn thông, tài
chính, bán lẻ )
- Trong 9 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư của EU vào Việt Nam đạt 752 triệu USD, tăng hơn 100 triệu USD và 180 dự án so với trước khi EVFTA có hiệu lực Ngay sau khi EVFTA có hiệu lực, Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã đưa ra những câu hỏi khảo sát về mức độ tác động của Hiệp định đối với kế hoạch kinh doanh và đầu tư của các doanh nghiệp của các quốc gia thành viên Theo đó, 1/3 số lượng người trả lời cho rằng, Hiệp định này là một phần quan trọng trong quyết định đầu tư vào Việt Nam của họ với hai yếu tố hàng đầu được dự đoán sẽ thúc đẩy tăng trưởng là cắt giảm thuế quan (33%) và tiếp cận thị trường dễ dàng hơn cho các nhà đầu tư (13%)(13) Cũng theo đại diện của EuroCham, khi EVIPA có hiệu lực sẽ cùng với EVFTA mang lại cho các nhà đầu tư EU sự tin tưởng tốt hơn khi lựa chọn kinh doanh tại Việt Nam, đồng thời giúp thu hút thêm vốn đầu tư lớn hơn từ các quốc gia EU trong tương lai
- Tuy vậy, Việt Nam cũng đang đứng trước một số thách thức trong quá trình thực thi EVFTA nhằm tăng cường thu hút FDI từ EU một cách hiệu quả, như cải cách về thể chế, chính sách, cơ chế quản lý; nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, cải thiện trình
độ công nghệ và nguồn nhân lực; nâng cao năng lực cạnh tranh, khả năng hợp tác với đối tác EU của các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu
- Về đầu tư Việt Nam vào EU: Nhìn chung, đầu tư Việt Nam sang EU là không
nhiều, chủ yếu tập trung vào một số nước như Hà Lan, Séc, Đức Tính đến ngày
31/12/2018, Việt Nam có 78 dự án đầu tư sang 10 nước EU (Anh, Ba Lan, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Pháp, Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha và Slovakia) với tổng vốn đăng
ký đạt khoảng 320,20 triệu USD
Trang 13- Trong đó, chủ yếu sang Đức với 29 dự án với tổng vốn đăng ký trị giá 120,3 triệu USD, sang Anh và Quần đảo Virgin thuộc Anh (20 dự án trị giá 144,5 triệu USD), sang Pháp (10 dự án trị giá 5,4 triệu USD), sang Slovakia (2 dự án trị giá 36,4 triệu USD)
1.3 Đối với ngân sách nhà nước (NSNN)
- Cắt giảm thuế quan theo Hiệp định EVFTA sẽ có tác động hai chiều đến nguồn thu NSNN, cụ thể: Giảm thu NSNN do giảm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu; Tăng thu NSNN do có thu thêm từ thu nội địa dưới tác động tích cực của thương mại, đầu
tư và tăng trưởng kinh tế Dự kiến, tổng mức giảm thu NSNN từ giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo lộ trình của Hiệp định EVFTA là 2.537,3 tỷ đồng
Mặt khác, thu NSNN tăng lên do thu nội địa từ tác động tăng trưởng của EVFTA là 7.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2020-2030 Số thu sẽ tăng dần theo mức độ tác động của Hiệp định tới tăng trưởng Như vậy, lợi ích của Hiệp định EVFTA về thu ngân sách có thể sẽ được phát huy tốt hơn trong trung và dài hạn
1.4 Tác động pháp luật, thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh
- Hiệp định EVFTA là cơ hội để Việt Nam tiếp tục cải cách thể chế-pháp luật theo hướng tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài cũng như các hoạt động kinh doanh khác, bao gồm các giao dịch xuyên quốc gia, các loại hình dịch vụ cung cấp qua biên giới
- Những điều chỉnh, sửa đổi quy định pháp luật để phù hợp với Hiệp định
EVFTA trong một số lĩnh vực như sở hữu trí tuệ cũng sẽ góp phần giúp các DN được
hưởng sự bảo hộ cao hơn đối với thành quả đầu tư cho hoạt động sáng tạo Đây là
động lực để các DN tiếp tục đầu tư nhiều hơn vào hoạt động sáng tạo nhằm đổi mới công nghệ và tạo môi trường tốt cho việc thu hút chuyển giao công nghệ của nước ngoài để nâng cao chất lượng sản phẩm của Việt Nam
Trang 14 Thứ 1, Bên cạnh ưu đãi về thuế quan, Hiệp định EVFTA cũng đưa ra những
điều kiện chặt chẽ mà nếu không có sự chuẩn bị từ bây giờ, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam khó có thể hưởng được mức thuế ưu đãi 0%
- Hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi thuế quan theo EVFTA thì cần thoả mãn quy tắc xuất xứ, thương hiệu mà EVFTA đưa ra Nguyên liệu phải đáp ứng được
một tỷ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại EU và/hoặc Việt Nam) Đây là một thách thức lớn đối với các DNNVV Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc ASEAN.
- Trong ngành nông nghiệp, các DN Việt Nam muốn hưởng ưu đãi thuế khi vào
EU thì phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của từng nước về truy xuất nguồn gốc,
sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, minh bạch hóa thông tin về lao động Vì vậy, các DNNVV Việt Nam cần đặc biệt lưu ý vấn đề này Ví dụ, Chế phẩm từ ngũ cốc, tinh bột, Nguyên liệu sử dụng từ ngũ cốc, tinh bột, khoai tây, sắn phải có xuất xứ thuần túy
- Quy tắc xuất xứ phổ biến đối với sản phẩm dệt may trong EVFTA là tiêu chí hai công đoạn, hay còn gọi là “từ vải trở đi” Cụ thể, để sản phẩm dệt may được coi là có xuất xứ theo EVFTA thì vải sử dụng để tạo thành sản phẩm phải có xuất xứ Việt Nam/EU và việc cắt, may phải được thực hiện tại Việt Nam/EU Tuy nhiên, EVFTA có cam kết linh hoạt về quy tắc xuất xứ cộng gộp liên quan tới trường hợp vải từ nước có FTA: Cho phép vải có xuất xứ Hàn Quốc được coi như có xuất xứ theo EVFTA (Hàn Quốc là nước duy nhất hiện có cả FTA với Việt Nam và EU)
- Nếu không đảm bảo được quy tắc xuất xứ, hàng xuất khẩu của Việt Nam sang
EU chỉ được hưởng mức thuế đãi ngộ tối huệ quốc, chứ không phải là mức thuế suất 0% trong Hiệp định EVFTA Đây vừa là thách thức cũng vừa là động lực để thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu
Thứ 2, thâm nhập vào thị trường EU vẫn còn khó khăn từ các hàng rào phi thuế
quan về kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Trước khi EVFTA có hiệu lực, hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đã được xuất khẩu sang thị trường châu Âu nhưng chỉ chiếm thị phần rất nhỏ do một số mặt hàng bị áp thuế cao, chịu sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ về tiêu chuẩn Chính vì vậy,
Trang 15cũng không hề đơn giản vì các ngành hàng sẽ phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn cao hơn,
từ chất lượng, mẫu mã đến các vấn đề lao động, môi trường và phát triển bền vững theo yêu cầu của EU
+ Điển hình là mặt hàng nông sản, dù Hiệp định EVFTA có ưu đãi với những quy định SPS linh hoạt nhưng đa số ngành hàng nông sản của nước ta như chè, rau quả vẫn vấp phải những hạn chế, do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, thiếu tính đồng nhất trong từng lô hàng, công tác thu hoạch bảo quản chưa tốt
+ Đạo luật Kiểm soát hóa chất tồn dư trên sản phẩm đang là khó khăn nhất đối với DN xuất khẩu vào EU, nhất là các DN trong ngành thủy sản còn chịu nhiều rào cản kỹ thuật (tiêu chuẩn chất lượng, quy tắc xuất xứ) Hiện nay chỉ có một số DN lớn đạt được tiêu chuẩn này
+ Ðối với mặt hàng gạo thì khó khăn còn chồng chất hơn do từ nhiều năm nay, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào các thị trường truyền thống, không đòi hỏi quá cao về tiêu chuẩn, chất lượng Do đó, ngay sau khi EVFTA có hiệu lực, EU cấp hạn ngạch cho Việt Nam 80.000 tấn/năm với thuế suất trong hạn ngạch là 0% nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn lo ngại không sử dụng hết số hạn ngạch được cấp
do lượng gạo đáp ứng tiêu chuẩn không nhiều
- Vì vậy, trong thời gian tới, để tiếp cận được EVFTA thì hàng hóa của Việt Nam cũng phải hoàn thiện rất nhiều về chất lượng để có thể vượt qua được các rào cản này Các DNNVV Việt Nam phải luôn luôn cập nhật những yêu cầu mới và thực hiện nghiêm ngặt các tiêu chuẩn nếu không đơn hàng xuất khẩu vào EU sẽ bị loại
Thứ 3, sức ép cạnh tranh từ hàng hóa và dịch vụ của EU
- Thực hiện cam kết mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa, dịch vụ từ EU đồng nghĩa với việc DNNVV Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khó khăn hơn ngay tại thị trường nội địa Theo EVFTA, trong nông nghiệp, Việt Nam sẽ cắt giảm 24% nông sản nhập khẩu về 0% ngay năm đầu và cắt giảm 99% sau 10 năm Như vậy các DN ngành hàng gia cầm, chăn nuôi và sản phẩm từ sữa sẽ chịu áp lực cạnh tranh khốc liệt Điều này đòi hỏi các DNNVV Việt Nam phải nâng cao năng suất vật nuôi, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi và đảm bảo các sản phẩm chăn nuôi an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm
- Trên thực tế, đây là một thách thức rất lớn, bởi các doanh nghiệp EU có lợi thế hơn hẳn các DNNVV Việt Nam về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường cũng
Trang 16như khả năng tận dụng các FTA Tuy nhiên, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với những nhóm sản phẩm nhạy cảm, do đó EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các DNNVV Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh
và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
3.2 Đối với ĐTQT
- Thứ nhất, nâng cao chất lượng sản phẩm, liên kết thành các chuỗi cung ứng sản
phẩm: Nhiều DN vẫn đang phát triển theo chiều rộng, tăng về doanh thu, số lượng sản phẩm, số lượng lao động, nguồn vốn… Tuy nhiên, chưa chú trọng cải thiện về chất lượng sản phẩm cũng như chiều sâu trong công tác quản lý Hàng hóa Việt Nam chưa
có nhiều thương hiệu nổi tiếng hấp dẫn khách hàng và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường quốc tế
- Thứ hai, có nhiều thể chế pháp lý quy định hơn và phức tạp hơn: Hiệp định
EVFTA bao gồm những quy định, quy tắc chặt chẽ về thủ tục đầu tư, hải quan, thuận lợi hóa thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, các biện pháp kiểm dịch động, thực vật, sở hữu trí tuệ… đòi hỏi các DN Việt Nam cần nắm rõ và áp dụng linh hoạt, trung thực theo quy định
Bản thân các DN cũng chưa nắm bắt được đầy đủ thông tin về các FTA, cho nên khó xác định được các tác động trực tiếp của FTA lên các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Việc không hiểu rõ những thông tin cần thiết khiến DN không có những sự chuẩn bị tốt nhất trong quá trình hội nhập
- Thứ ba, thách thức từ nguồn lao động: Do quá trình dịch chuyển sản xuất, các
DN nước ngoài cũng tăng dần làn sóng đầu tư vào Việt Nam, cạnh tranh lao động giữa các ngành nghề cũng trở nên thiếu cục bộ Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trong các ngành sản xuất đòi hỏi kỹ thuật cũng trở nên thiếu ở mức báo động
trong lĩnh vực sản xuất điện tử, viễn thông, công nghiệp xe hơi…
Trang 17- Tiếp tục hoàn thiện thể chế, hành lang pháp lý, cải thiện môi trường kinh
doanh, đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường nhằm đáp ứng những cam kết và thể hiện quyết tâm của nước ta khi chấp nhận các “luật chơi” quốc tế, nhất là thị trường các nước phát triển như EU
- Có chính sách đầu tư, khuyến khích đầu tư mạnh hơn nữa để phát triển công nghiệp phụ trợ mũi nhọn nhằm đảm bảo thỏa mãn yêu cầu về xuất xứ: Nhà nước
cần xác định các ngành xuất khẩu mũi nhọn và quy hoạch phát triển các ngành, nông
nghiệp, công nghiệp phụ trợ mũi nhọn mà mình có khả năng như: sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới, thủy hải sản; dệt may, giày dép và lắp ráp
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung một số đạo luật quan trọng như: Luật Đầu tư, Luật
DN, Luật Bảo vệ môi trường, Bộ luật Lao động và một số Luật về thuế nhằm tiếp tục đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường và thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh của người dân, DN
Đối với doanh nghiệp
- Phải nỗ lực, nâng cấp nền tảng năng lực cạnh tranh của chính mình về mô hình kinh doanh, trình độ quản trị nhân lực, chất lượng hàng hóa và dịch vụ theo tiêu chuẩn quốc tế Chủ động đầu tư cho con người, máy móc và công nghệ hướng tới hoạt động nghiên cứu phát triển, thiết kế sản phẩm và nâng cao năng suất và cắt giảm chi phí đến mức tối đa nhằm củng cố tính cạnh tranh của sản phẩm tại thị trường EU Chỉ khi chủ động tham gia vào các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao thì DN Việt Nam mới được hưởng lợi thực sự từ các FTA nói chung và EVFTA nói riêng
- Doanh nghiệp cần chấp nhận, nâng cao khả năng thích ứng với những rào cản
về vệ sinh an toàn thực phẩm, chống bán phá giá, những rào cản kỹ thuật khác của các thị trường văn minh DN cần chủ động ứng phó ngay từ đầu để kiểm soát được sản phẩm của mình Điều này sẽ tạo ra một quy trình mới về tư duy chiến lược, cách điều hành bộ máy, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Kết luận: Có thể thấy cơ hội của Việt Nam trong thực thi EVFTA là rất lớn nhưng những thách thức cũng không hề nhỏ Nhưng phải khẳng định rằng thách thức của EVFTA là thách thức tích cực, là sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Điều này đòi hỏi Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân phải
Trang 18tiếp tục chủ động, tích cực và nỗ lực hơn nữa trong việc thực thi có hiệu quả các cam
kết trong EVFTA để ngày càng nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
Câu 2: Chiến tranh thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc tác động đến
TMQT, ĐTQT của Việt Nam
I, Tổng quan về chiến tranh thương mại Mỹ Trung
1 Nguyên nhân chiến tranh thương mại Mỹ-Trung:
- Nguyên nhân sâu xa Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai siêu cường quốc kinh tế lớn
nhất trên thế giới, giữa hai nước này luôn có sự cạnh tranh và hợp tác để giành quyền ảnh hưởng thế giới về các lĩnh vực Trung Quốc lại đang trỗi dậy và có toan tính muốn thay thế Hoa Kỳ để trở thành siêu cường kinh tế lớn nhất thế giới (Theo dự báo đến năm 2030, GDP danh nghĩa của Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ) Nhiều chỉ số kinh tế cơ bản có thể Trung Quốc đã vượt Hoa Kỳ như GDP tính theo ngang giá sức mua Một số ngành công nghiệp của Hoa Kỳ có dấu hiệu giảm sút, năng lực cạnh tranh kém đi
- Nguyên nhân trực tiếp: Chính sách bảo hộ chính quyền Tổng thống Donald
Trump với phương châm “Nước Mỹ là trên hết” và “Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại”; Hoa
Kỳ bị thâm hụt mậu dịch lớn với Trung Quốc; Tham vọng của Trung Quốc muốn trở thành quốc gia công nghệ hàng đầu của thế giới; Tình trạng vi phạm bản quyền nghiêm trọng ở Trung Quốc; Các biện pháp hạn chế đầu tư của Trung Quốc
2, Sơ lược diễn biến chiến tranh thương mại Mỹ - Trung
- Cuộc chiến khởi đầu vào ngày vào ngày 22/03/2018 khi Tổng thống
Mỹ Donald Trump tuyên bố sẽ áp dụng mức thuế 50 tỷ $ cho hàng hóa Trung
Quốc dựa theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, để ngăn chặn những
gì họ cho là hành vi thương mại không công bằng và hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ
- Đáp trả hành động của Mỹ, ngày 2/4/2018, Trung Quốc đã áp thuế nhập khẩu (15-25%) lên 128 hàng hóa (trị giá 3 tỷ USD) từ Mỹ, bao gồm: Phế liệu nhôm, máy bay, ô tô, sản phẩm thịt lợn và đậu nành (có thuế suất 25%), cũng như trái cây, hạt và ống thép (15%)
- Xung đột thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc diễn ra ngày càng căng thẳng hơn, khi Trung Quốc hủy đơn hàng mua đậu tương của Mỹ Ngày 15/6/2018, Mỹ áp đặt mức thuế 25% trên 50 tỷ USD xuất khẩu của Trung Quốc Trong đó, 34 tỷ USD sẽ bắt đầu
Trang 19vào ngày 6/7/2018, 16 tỷ USD còn lại sẽ tính từ ngày sau đó, với công nghệ quan trọng trong công nghiệp
- Với hành động đó, Bộ Thương mại Trung Quốc cáo buộc Mỹ đã châm ngòi cho một cuộc chiến thương mại và Trung Quốc sẽ đáp trả với mức thuế tương tự đối với hàng nhập khẩu từ Mỹ, bắt đầu từ ngày 6/7/2018 Đáp lại ngày 9/7/2018, Hoa Kỳ tuyên
bố áp đặt thêm 10% thuế quan đối với hàng nhập khẩu trị giá 200 tỷ USD nếu Trung Quốc trả đũa các mức thuế của Mỹ
- Bộ Thương mại Trung Quốc trả lời nhanh chóng rằng sẽ "phản công cứng rắn" Theo đó, Trung Quốc đã kích hoạt mức thuế trả đũa cho cùng một số tiền Thuế suất chiếm 0,1% tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu…
- Đỉnh điểm là vào tháng 06/2019, Mỹ thực hiện lệnh cấm vận với thương hiệu điện thoại di động lớn nhất Trung Quốc – Huawei Trung Quốc “đáp trả” bằng việc phá giá đồng Nhân dân tệ, đồng thời ngừng nhập khẩu nông sản của Mỹ Phía Hoa
Kỳ cũng đưa ra tuyên bố coi Trung Quốc là quốc gia thao túng tiền tệ
- Gần đây nhất, ngày 18/8/2020, Tổng thống Mỹ tuyên bố hủy cuộc đối thoại thương mại với Trung Quốc vì thất vọng với cách Bắc Kinh xử lý đại dịch toàn cầu
- Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn diễn ra gay gắt và chưa có dấu hiệu dừng lại Điều này đã, đang tác động không nhỏ tới nền kinh tế của cả hai nước, cũng như các nền kinh tế mở khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam
3, Quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc
- Sự leo thang căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã vượt qua biên giới của hai nước, tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó Nền kinh tế Việt Nam tuy nhỏ nhưng có độ
mở lớn, lại phụ thuộc nhiều vào xuất nhập khẩu, Trong đó, Trung Quốc và Mỹ là hai đối tác lớn nhất về ngoại thương của Việt Nam Hoa Kỳ là đối tác xuất khẩu lớn của
Việt Nam trong khi Việt Nam đã trở thành đối tác thương Mại lớn thứ 12 của Hoa Kỳ,
còn Trung Quốc là đối tác nhập khẩu lớn của Việt Nam, đồng thời là nước có chung đường biên giới với Việt Nam và hàng hóa của Việt Nam nằm trong chuỗi giá trị của Trung Quốc Vì vậy cuộc chiến thương mại này sẽ có tác động trực tiếp và gián tiếp, mang đến nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam chúng ta
Trang 20II, Tác động tới kinh tế, thương mại và những ảnh hưởng đến doanh
nghiệp Việt Nam (tích cực + tiêu cực)
Thứ nhất, Về thương mại, nếu nhìn một cách tích cực thì doanh nghiệp (DN) Việt Nam có thể tận dụng được cơ hội tại thị trường Mỹ, khi hàng hóa cùng loại của Trung Quốc bị áp thuế cao
- Theo Công ty chứng khoán Nhật Bản Nomura, trong vòng 1 năm từ quý I/2018 đến quý I/2019, Việt Nam được hưởng lợi nhiều nhất vì đã tăng xuất khẩu sang Mỹ, thay thế cho một số mặt hàng Trung Quốc bị áp thuế cao như hàng điện tử, máy móc,
đồ gỗ, giầy da và dệt may,
- Trong danh sách những mặt hàng Trung Quốc chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi đợt đanh thuế của Mỹ, nhiều hàng hóa là thế mạnh của Việt Nam, đáng chú ý là nhóm hàng công nghệ cao như thiết bị viễn thông liên lạc, bảng mạch điện tử vi tính, đồ gỗ,nông thủy sản Đây là cơ hội rất lớn để các doanh nghiệp Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu nhóm hàng công nghệ cao sang thị trường Mỹ thay thế phần nào hàng hóa Trung Quốc
- Theo báo cáo của Bộ Công Thương, mặc dù dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp trên thế giới, nhưng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2021 vẫn ghi nhận đà tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2020
-tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 95,81
tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 48,55 tỷ USD,
tăng 23,2%; nhập khẩu đạt 47,26 tỷ USD, tăng 25,9% Cán cân thương mại hàng hóa 2 tháng đầu năm ước tính xuất siêu gần 1,3 tỷ USD
- Trong 2 tháng đầu năm có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 73,8% tổng kim ngạch xuất khẩu Gồm: Điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 9,3 tỷ USD, tăng 22,8% Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,9
tỷ USD, tăng 27,3% Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,5 tỷ USD, tăng 72,6% Hàng dệt may đạt 4,76 tỷ USD, tương đương cùng kỳ năm trước Giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 15,4% Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 51% Phương tiện vận tải
và phụ tùng đạt 1,6 tỷ USD, tăng 11,6% Sắt thép đạt 1,1 tỷ USD, tăng 71,9% Thủy sản đạt 1,01 tỷ USD, tăng 0,7%
Trang 21- Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2021 với kim ngạch đạt 13,78 tỷ USD, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước Tiếp đến là Trung Quốc đạt 8,2 tỷ USD, tăng 50,5%;
- Mặc dù Việt Nam và Trung Quốc có cơ cấu hàng hóa xuất khẩu sang Hoa Kỳ giống nhau, nhưng điều này không có nghĩa là hàng hóa Việt Nam có thể dễ dàng thay thế hàng hóa Trung Quốc tại thị trường Hoa Kỳ Lý do là Trung Quốc có các nhà sản xuất lớn và lợi thế cạnh tranh về chi phí, hàng hóa có lợi thế về giá cả, mẫu mã, hình thức nên Khi thị trường Mỹ gặp khó khăn, các công ty Trung Quốc sẽ chuyển thị trường xuất khẩu sang các nước khác, bao gồm cả Việt Nam do vị trí địa lý sẽ gây sức ép cạnh tranh về giá đối với các doanh nghiệp Việt Nam (đồng NDT mất giá mạnh khiến giá hàng hóa Trung Quốc rẻ hơn) Vào thời điểm đó, các công ty Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các công ty Trung Quốc, bao gồm cả thị trường xuất khẩu
và thị trường nội địa Ngoài ra, chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ bị lung lay nếu Hoa
Kỳ áp dụng thuế quan đối với Trung Quốc rộng rãi hơn
- Bên cạnh đó, hàng hoá của Mỹ bị Trung Quốc đánh thuế cũng có khả năng tràn vào thị trường Việt Nam Một ví dụ là thịt lợn Mỹ Với việc Trung Quốc áp mức thuế
bổ sung là 25%, mức thuế đánh vào thịt lợn Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc đã lên tới 71%, và với mức thuế cao như vậy, rất khó để thịt lợn Mỹ giành được thị phần tại Trung Quốc và Việt Nam trở thành một lựa chọn thay thế hấp dẫn cho các sản phẩm này Như vậy, giá thịt lợn tại Việt Nam hiện ở mức khoảng 48.000 đến 50.000 đồng/kg, một trong những mức cao nhất thế giới, trong khi giá thịt lợn Mỹ nhập khẩu vào Việt Nam chỉ hơn 1,5 USD/kg, tương đương chỉ khoảng 35.000 đồng/kg Do đó, thịt lợn Mỹ sẽ có được lợi thế so sánh lớn trên thị trường nội địa Việt Nam
Thứ 2, Về trung hạn, Việt Nam có thể có sự gia tăng sản phẩm của một số ngành xuất khẩu có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc Để làm được điều này, Việt Nam cần có thời gian để thích nghi với các điều kiện kinh tế mới Đồng thời Việt nam
có cơ hội nhập khẩu nguyên liệu rẻ hơn khiến việt nam có thể giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu
- Năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam qua Mỹ đạt 13,99 tỷ USD, chiếm 46,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước, giảm,8% so với năm 2019 Tuy nhiên, Mỹ vẫn là thị trường chủ đạo của hàng dệt may VN Nếu cuộc chiến này ngày càng leo thang, đồng Nhân dân tệ sẽ mất giá mạnh so với USD, qua đó
Trang 22cũng mất giá so với VND giúp các doanh nghiệp nhập được vải và các nguyên phụ liệu dệt may, da giày với giá rẻ hơn Qua đó, Việt Nam có thể lấy thêm được thị phần của Trung Quốc tại thị trường Mỹ nhờ mức giá cạnh tranh hơn
- Theo đại diện Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), trong số hàng hóa mà Trung Quốc bị Mỹ áp thuế, chủ yếu là các mã hàng sợi dệt chứ chưa có hàng may mặc Hàng sợi dệt chưa phải thế mạnh của Việt Nam nên sẽ khó tận dụng cơ hội này
để vào Trung Quốc Tuy nhiên, hiện vẫn có khoảng 20 mặt hàng dệt may Việt Nam có thể có cơ hội chiếm thị phần tại Mỹ, tập trung vào các loại thảm, sợi PE đơn độ co giãn cao, xơ viscose rayon, vải dệt kim, vải canvas
- Tuy nhiên, trái ngược với dự đoán ngành dệt may Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tại thị trường Mỹ khi quốc gia này tăng thuế nhập khẩu đối với dệt may Trung Quốc, tuy nhiên khi đi vào chi tiết còn rất nhiều rào cản, xuất phát từ năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt, nhu cầu tiêu thụ và chinh sách bảo hộ của thị trường Mỹ, chưa kể một số ngành có thị trường tiêu thụ là Trung Quốc sẽ gặp thêm khó khăn Năm 2019 được đánh giá là năm đặc biệt khó khăn của ngành dệt may Việt Nam, với nhiều biển động trên thị trường
- Theo báo cáo của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành ước đạt 39 tỉ USD, giảm 1 tỉ USD 50 với mục tiêu đặt ra hồi đầu năm Nguyên nhân là căng thẳng thương mại Mỹ Trung gây ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái, khiến giá hàng hóa gia công tại Việt Nam cao hơn với một số nước trong khu vực như Hàn Quốc, Trung Quốc
Bên cạnh đó, cuộc chiến thương mại cũng đang tạo sức ép cho nguồn cung của ngành dệt may Việt Nam với việc các doanh nghiệp dệt may đang phải trả chi phí cao hơn để mua vải từ Trung Quốc, trong khi vẫn phải chịu áp lực giảm giá từ các đơn hàng xuất khẩu
- Đồng quan điểm, báo cáo của Bộ Công Thương cũng chỉ ra rằng thông thường quí IV của năm trước, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu dệt may đã có đơn hàng cho cả năm sau đó nhưng năm 2019 đơn hàng dè dặt hơn giảm so với năm 2018, lượng đơn hàng của nhiều doanh nghiệp mới chỉ bằng 80% so với cùng ki
- Tuy nhiên, đến 2 tháng đầu năm 2021 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc phục hồi trở lại, đạt 4,76 tỷ USD, tương đương cùng kỳ năm trước và kim ngạch xuất
Trang 23 Thứ 3, khi đồng USD tăng giá, NDT giảm giá sẽ có lợi cho xuất khẩu của Việt Nam trong ngắn hạn, vì VND chủ yếu theo theo giá USD
- Theo số liệu cuả Bộ Công Thương, kim ngạch thương mại hai chiều Việt - Mỹ năm 2019 ước đạt khoảng khoảng 75 tỷ USD, tăng hơn 24% so với năm trước đó Việt Nam đã mua thêm nhiều nông sản của Mỹ; thuê, mua thêm nhiều máy bay của hãng Boeing Năm 2019, thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, Việt Nam đã mua hơn
14 tỷ USD hàng hóa từ Mỹ, tăng gần 13% so với năm 2018
- Tuy nhiên, thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam vẫn tăng mạnh, từ gần 33
tỷ USD năm 2018 lên hơn 46 tỷ USD năm 2019 Việc Việt Nam có nhiều cơ hội tăng xuất khẩu sang Mỹ sẽ khiến hàng hóa Việt Nam rơi vào tầm ngắm của việc kiểm tra
của Mỹ, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất khẩu Mỹ đã đưa Việt Nam vào danh
sách cần theo dõi đối với những quốc gia thao túng tiền tệ, điều này có thể dẫn đến việc hàng hóa Việt Nam bị đánh thuế khi bán vào thị trường Mỹ, gây tổn hại cho nền kinh
tế Việt Nam
- Đi kèm thuận lợi vẫn có một số rủi ro, như: Tăng xuất khẩu sang Mỹ cũng có
nghĩa là phải tăng nhập nguyên liệu và bán thành phẩm đầu vào như linh kiện, phụ
tùng, Do đó, Việt Nam tăng nhập khẩu rất nhiều từ Trung Quốc và Hàn Quốc
- Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2019, khi cuộc chiến thương mại bắt đầu leo thang, tổng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam là 122,71 tỷ USD và tổng kim ngạch nhập khẩu là 122,76 tỷ USD, khiến Việt Nam đang từ xuất siêu chuyển sang nhập siêu
43 triệu USD Trạng thái này có nghĩa là xuất ròng giảm đi, làm chậm bớt tăng trưởng kinh tế GDP tăng 6,76% trong nửa đầu năm 2019, chậm hơn so với mức 7,1% trong năm 2018 Theo cách tính này, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung không giúp ích cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Thứ 4, hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc sẽ khó khăn hơn, bởi
vì Trung Quốc phải tập trung tiêu thụ hàng hóa nội địa Cuộc chiến thương mại Trung
- Mỹ trực tiếp gây ra sự suy giảm kinh tế thế giới, giảm cầu nước ngoài đối với hàng hóa Việt Nam và gây ra sự gia tăng trong chủ nghĩa bảo hộ thương mại, ảnh hưởng xấu đến tới các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI
- Theo ông Phan Văn Chinh - cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), quy mô xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2019 ước đạt 145,13 tỉ USD, có 24 mặt hàng
Trang 24xuất khẩu trên 1 tỉ USD Tuy nhiên có một số nước có dấu hiệu xuất khẩu giảm như Trung Quốc, Brazil, Nguyên nhân khiến xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh là do ảnh hưởng từ xung đột thương mại Mỹ - Trung Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc không
có đơn hàng mới, phải cắt giảm nhân công; đồng nhân dân tệ yếu đi làm hàng hoá nước ngoài đắt lên tương đối…
- Theo thống kê, xuất khẩu các sản phẩm điện tử, điện thoại di động, máy tính, thủy sản và nông sản của Việt Nam sang Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2019 cho thấy xu hướng giảm Trong số đó, giá trị xuất khẩu của điện thoại di động và thủy sản giảm lần lượt 62,3% và 31,5% , hai mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc giảm mạnh là gạo - giảm gần 330 triệu USD; điện thoại - giảm gần 550 triệu USD, khiến cho xuất khẩu Việt Nam giảm gần 1 tỉ USD Ông Chinh cũng cho biết xuất khẩu hiện phụ thuộc nhiều vào mặt hàng điện thoại, nên khi mặt hàng này giảm xuất khẩu đã kéo tốc độ tăng trưởng chung của xuất khẩu chậm lại
Thứ 5, Chiến tranh thương mại cũng mang đến những vấn đề như gian lận và
trốn thuế
- Việt Nam đứng trước nguy cơ trở thành địa điểm chuyển tải của hàng hóa Trung Quốc dưới hình thức tạm nhập tái xuất hoặc chế biến giả thông qua doanh nghiệp nội địa hay FDI ở Việt Nam để lấy xuất xứ Việt Nam rồi xuất khẩu sang Mỹ nhằm tránh thuế trừng phạt Cuối tháng 5/2018, một số mặt hàng thép Việt Nam
nhưng có xuất xứ từ Trung Quốc đã bị Mỹ điều tra và quyết định đánh thuế lên đến
450% (gồm 199,76% thuế chống phá giá và 256,44% thuế đối kháng)
- Vào tháng 6/2019, Hải quan Việt Nam đã thu giữ một số lượng lớn giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa giả mạo, ghi nhãn mác bao bì là "Made in Vietnam" nhằm trốn thuế và vận chuyển trái phép các sản phẩm nông nghiệp, dệt may, thép và nhôm Nếu Việt Nam không kiểm soát chặt chẽ vấn đề này sẽ khiến hàng hóa Việt Nam có thể phải đối mặt thuế nhập khẩu cao hơn của Mỹ Trước mức thuế cao hơn, các doanh nghiệp tại Trung Quốc sẽ chỉ đạo xuất khẩu nguyên liệu thô sang Việt Nam để duy trì
sự cân bằng Điều này sẽ ảnh hưởng đến ngành Công nghiệp trong nước của Việt Nam
III, Tác động tới thị trường tài chính, tiền tệ, ngân hàng
- Bên cạnh các tác động đối với nền kinh tế Việt Nam, căng thẳng thương mại Mỹ
Trang 25tranh thương mại tuy không trực tiếp tác động lên lãi suất tại Việt Nam nhưng có thể tác động gián tiếp thông qua biến động tỷ giá và áp lực lạm phát, cụ thể:
+ Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, sau khi đạt kỷ lục vào tháng 4/2018,
đã xuất hiện xu hướng giảm điểm mạnh với việc nhà đầu tư ngoại liên tục rút vốn ròng, bất chấp nền kinh tế đang có những chuyển biến tích cực Dự báo tình trạng này còn tiếp diễn, các nhà đầu tư có xu hướng hoãn lại các các dự án đầu tư bởi do chiến tranh thương mại được dự báo sẽ còn tiếp diễn
+ Đối với tỷ giá, đồng USD có xu hướng tăng giá trong khi đồng NDT giảm do một số nguyên nhân (i) Nền kinh tế Mỹ đón nhận nhiều thông tin kinh tế tích cực, (ii) Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực hiện các đợt giảm lãi suất đầu tiên sau 10 năm, và (iii)
lo ngại của giới đầu tư đối với những diễn biến của căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Chính vì vậy, tỷ giá USD/VND chịu áp lực tăng và đặc biệt áp lực lạm phát tăng lên trong ngắn hạn có thể khiến mặt bằng lãi suất tăng nhẹ Trong suốt 5 tháng đầu năm
2019, mặt bằng lãi suất ở Việt Nam vẫn giữ được ổn định cần thiết nhờ những nỗ lực của Ngân hàng nhà nước Tuy nhiên, trước những diễn biến leo thang của cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, mặt bằng lãi suất sẽ khó có cơ hội giảm trong thời gian tới Lãi suất cao khiến chi phí tài chính tăng cao, là nguyên nhân kéo giảm lợi nhuận nhiều doanh nghiệp là áp lực không hề nhỏ lên các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới
IV, Tác động tới dòng vốn đầu tư của các doanh nghiệp FDI
- Hiện nay, dòng vốn đầu tư trên toàn cầu đang có xu hướng chuyển dịch từ Trung Quốc sang các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt là khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung trở nên căng thẳng Theo báo cáo của Phòng Thương mại Mỹ tại Trung Quốc cho biết, khoảng 1/3 công ty Mỹ tại Trung Quốc sẽ hủy hoặc tạm dừng đầu tư vào Trung Quốc; đồng thời một số doanh nghiệp Mỹ tại Trung Quốc sẽ dịch chuyển một phần hoặc toàn bộ dây chuyền sản xuất khỏi Trung Quốc, mà điểm đến có
thể là các nước Đông Nam Á hoặc Mexico Xu hướng này càng gia tăng sau khi
COVID-19 bùng phát tại Trung quốc và lan ra khắp Thế giới từ đầu năm 2019, chuỗi cung ứng toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các nước áp dụng biện pháp hạn chế
để chặn dịch, Trong bối cảnh đó khiến nhiều doanh nghiệp nhận thức được sự cần thiết phải đa dạng hóa chuỗi cung ứng, đặc biệt Chính quyền tổng thống Mỹ Donald
Trang 26Trump đang thúc đẩy việc rút những chuỗi cung ứng công nghiệp toàn cầu ra khỏi Trung Quốc để mở rộng chuỗi cung ứng sang thị trường khác và khu vực ASEAN nổi lên là một điểm đến tiềm năng do có lợi thế lớn về nguồn nhân lực, Việt Nam được đánh giá là một trong những điểm đến quan trọng của dòng FDI dịch chuyển khỏi Trung Quốc nhờ vị trí chiến lược, chi phí nhân công thấp, nguồn nhân lực dồi dào, môi trường vĩ mô và tỷ giá, chính trị ổn định, lạm phát thấp, độ mở kinh tế lớn và việc mới tham gia vào hai hiệp định thương mại tự do (CPTPP và EVFTA) đã giúp các nhà sản xuất tiếp cận tốt hơn các thị trường xuất khẩu chính Ngoài ra, Việt Nam còn có vị trí địa lý thuận lợi (gần Trung Quốc) và việc dịch chuyển sang Việt Nam sẽ không làm gián đoạn chuỗi sản suất của các tập đoàn (so với việc dịch chuyển sang Ấn Độ
và một số nước xa hơn) Do đó, dù không có thương chiến Mỹ - Trung, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tìm đến Việt Nam nhằm tận dụng các ưu đãi đó và căng thẳng thương mại chỉ là yếu tố thúc đẩy mạnh hơn
Chi phí sản xuất ở Trung Quốc ngày càng tăng cao cũng khiến cho các nhà đầu
tư chuyển hướng sang những địa điểm đầu tư tiết kiệm chi phí hơn, và Việt Nam được xem là một lựa chọn thay thế Trong đó các nhà đầu tư ở Trung Quốc chuyển nhượng
và mở rộng sang các nước khác để tăng khả năng tiếp cận thị trường, đa dạng hóa rủi
ro và giảm chi phí lao động Cuộc chiến thương mại không ngừng mở rộng này sẽ chỉ thúc đẩy chuyển giao đầu tư, đặc biệt đối với các mặt hàng tiêu dùng thâm dụng lao động như quần áo, giày dép và điện tử
- Theo dữ liệu của chính phủ Việt Nam, Trung Quốc đã trở thành nhà đầu tư quan trọng tại Việt Nam Năm 2018, đầu tư Trung Quốc vào Việt Nam chiếm 6,8% vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam Đầu tư của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực xây dựng, sản xuất năng lượng…
- Theo dữ liệu Ngân hàng Thế giới công bố vào tháng 12/2018 cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 6,8% trong năm 2018, vượt qua mức tăng chung 6,3% tại các thị trường mới nổi ở Đông Á và Thái Bình Dương
- Lũy kế hết tháng 6 năm 2018, Việt Nam có khoảng 17500 dự án FDI còn hiệu lực (chiếm khoảng 3% tổng số DN cả nước đang hoạt động), với tổng đăng ký đạt 331,2
tỷ USD, vốn giải ngân luỹ kế khoảng 180,7 tỷ USD Tính theo tỷ lệ % GDP hay theo đầu người thì vốn FDI vào Việt Nam vượt Trung Quốc, Ấn Độ và phần lớn vượt các
Trang 27nước ASEAN Hiện có 128 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Đứng đầu là Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Đài Loan (Trung Quốc)
- Theo lĩnh vực đầu tư, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với
189 tỷ USD, chiếm 57,1% tổng vốn đầu tư; Tiếp theo là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 56,2 tỷ USD (chiếm gần 17% tổng vốn đầu tư); Sản xuất, phân phối điện, khí nước với 21,92 tỷ USD (chiếm 6,6% tổng vốn đầu tư) Khu vực FDI đang thu hút hơn 4 triệu việc làm, tạo ra khoảng 18,59% GDP và gần 19% tổng thu NSNN; Đồng thời, chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu hàng năm và luôn xuất siêu…
- Hơn nữa, Việt Nam đang tiến dần lên nấc thang công nghệ mới, đó cũng là lý do
để kỳ vọng dòng vốn FDI trong lĩnh vực công nghệ cao có thể tìm đến Việt Nam Mặt khác, Việt Nam là nước kiểm soát tốt đại dịch Covid-19 có số ca mắc và tử vong thấp
đã “ghi điểm” về môi trường đầu tư, đang tạo niềm tin cho các tập đoàn đa quốc gia xem Việt Nam là một trong các điểm đến an toàn để xây dựng chuỗi cung ứng toàn cầu, tránh phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc Cơ hội đón vốn ngoại lần này được cho là lớn hơn bao giờ hết Việt Nam thậm chí có thể đón cả chuỗi doanh nghiệp, không chỉ từ Hàn Quốc, Nhật Bản, mà có thể còn từ các tập đoàn lớn từ Mỹ như Apple
- Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư, năm 2019, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,02 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018 Thực tế 9 tháng đầu năm 2019 cũng đã minh chứng rằng Việt Nam là điểm thu hút đầu tư hấp dẫn Cụ thể, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước tính đến 20/9/2019, Việt Nam đã thu hút 2.759 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt hơn 10,9 tỷ USD, tăng 26,4% về số dự án và giảm 22,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018 Trong bối cảnh suy giảm
chung của dòng FDI toàn cầu, việc vẫn duy trì được mức tăng trưởng vốn thực hiện là thành quả đáng khích lệ
- Bên cạnh đó, đã có 1.037 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.789,8 triệu USD, giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 9 tháng năm nay đạt hơn 15,7 tỷ USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm 2018 Trong 9 tháng năm 2019 Hàn Quốc là nhà đầu tư lớn nhất với hơn 2,09 tỷ USD, chiếm 19,1%
Trang 28tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc hơn 2,02 tỷ USD, chiếm 18,4%; Nhật Bản hơn 1,5 tỷ USD, chiếm 14,4%
- Điều đáng chú ý trong năm 2019 là Hồng Kông liên tục đứng đầu bảng trong danh sách đối tác đầu tư của Việt Nam và chỉ bị Hàn Quốc vượt qua vào tháng cuối năm với khoảng cách rất nhỏ; So với năm 2018, FDI từ Hồng Kông năm ngoái tăng tới 2,4 lần Trong cùng thời gian trên, FDI Trung Quốc vào Việt Nam cũng đáng chú
ý khi tăng gần 1,65 lần Tổng hai đối tác này chiếm tới hơn 39% lượng FDI tới Việt Nam năm ngoái
Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng "bùng nổ chiến tranh thương mại" hiện nay dẫn đến sự phụ thuộc quá mức vào xuất khẩu và đầu tư quốc tế, tăng trưởng bền vững của Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức dài hạn Chỉ riêng trong 5 tháng đầu năm 2019, đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng nhanh, đạt 2 tỷ USD, trong đó chế biến và sản xuất chiếm 85%
Điều này có nghĩa là hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng trong tương lai, nhưng lợi ích thực sự không phải là doanh nghiệp Việt Nam Mặt khác, các nhà quản lý Việt Nam cũng cần kiểm soát chặt chẽ các dự án đầu tư từ Trung Quốc để tránh những tác động bất lợi lâu dài bởi vì nhiều dự án FDI từ Trung Quốc sang Việt Nam trước đây là các dự án có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường Ngoài ra, còn có những lo ngại về khả năng Trung Quốc tăng cường đầu tư vào Việt Nam là nhằm đạt được xuất xứ “Made in Việt Nam”, tận dụng các FTA mới của Việt Nam để hưởng lợi
về thuế và lệnh áp thuế từ Mỹ Nếu Việt Nam không kiểm soát chặt chẽ vấn đề này, rất
có thể Mỹ sẽ áp dụng những biện pháp trừng phạt lên các doanh nghiệp ở Việt Nam tương tự như đối với Trung Quốc
V, Một số đề xuất, kiến nghị
1, Đối với TMQT
Đối với cơ quan quản lý
Thứ nhất, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước, đặc biệt đối với Bộ Công
Thương, Bộ Tài chính và các hiệp hội ngành nghề nhằm xây dựng hàng rào kỹ thuật, kiểm soát chất lượng hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, đặc biệt là hàng hóa
có xuất xứ từ Trung Quốc
Trang 29- Chủ động đưa ra các biện pháp để bảo vệ hàng hóa trong nước cũng như ngăn
chặn hàng hóa nhập lậu từ nước ngoài Áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại,
sử dụng các biện pháp giải quyết và kiểm soát chất lượng hàng hóa, nhằm ngăn chặn ngay tại các cửa khẩu, hải quan; các đội quản lý thị trường cần siết chặt việc tổ chức theo dõi, bám sát địa bàn
- Các cơ quan chức năng cũng cần nghiên cứu kỹ hàng hóa của Trung Quốc có thể nhập vào Việt Nam để đề phòng trường hợp do xuất khẩu của Trung Quốc sang
Mỹ bị hạn chế, nước này sẽ chuyển hàng sang Việt Nam, từ đó xuất khẩu sang thị trường Mỹ với nhãn mác là hàng từ Việt Nam
Thứ hai, cần theo dõi sát diễn biến cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc, để
có được những đánh giá đúng bản chất của vấn đề, cũng như những ảnh hưởng đối với thế giới, khu vực và Việt Nam, đồng thời thường xuyên theo dõi sát sao động thái của Ngân hàng Trung ương các nước; Theo dõi chặt chẽ tình hình, đặc biệt là cập nhật danh mục hàng hóa bị áp thuế của cả Mỹ và Trung Quốc, cũng như động thái tỷ giá cả đồng USD và nhân dân tệ để DN có phản ứng kịp thời
Thứ ba, Tiếp tục giữ vững được các thị trường truyền thống như EU, Đông Âu; khai thác những lĩnh vực còn khả năng phát triển Chủ động xúc tiến thương mại sang
các thị trường mới nổi khác cũng là các biện pháp nên được quan tâm nhằm đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, hoặc tạo nên thị trường thay thế cho các biến động
thương mại lớn để có thể đảm bảo mục tiêu xuất nhập khẩu ổn định, giảm thiểu tối đã ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung
Thứ tư, Việt Nam phải tập trung mở rộng tiếp cận thị trường Việt Nam đã tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), hai trong số đó sẽ có hiệu
lực trong tương lai gần, đó là: Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương toàn diện và tiên tiến (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)
Bằng cách này, Việt Nam sẽ có cơ hội tăng xuất khẩu sang các thị trường khác Tuy nhiên, Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi chuỗi cung ứng kém phát triển, phụ thuộc nghiêm trọng vào nhập khẩu nguyên liệu và thiếu các ngành công nghiệp hỗ trợ Để sống sót trong cuộc chiến thương mại và tận dụng tối đa Hiệp định thương mại tự do (FTA) sắp tới, Việt Nam cần nỗ lực để xóa bỏ những rào cản này
Thứ năm, Tiếp tục có những chính sách tốt tạo điều kiện thuận lợi cho môi
trường kinh doanh và đầu tư bởi với vị trí địa lý thuận lợi, Việt Nam đang là một
Trang 30nước có tiềm năng lớn có thể thay thế vai trò sản xuất của Trung Quốc cho các
tập đoàn đa quốc gia muốn hướng tới tiêu thụ sản phẩm ở thị trường Mỹ; Tiếp cận
nhanh với các nhà đầu tư lớn trên thế giới, tranh thủ thời cơ thị trường Trung Quốc bị ảnh hưởng để xúc tiến đầu tư vào Việt Nam
Đối với doanh nghiệp
Cần tăng cường vai trò của các doanh nghiệp Việt Nam: Các doanh nghiệp
Việt Nam cần ý thức được những tác động tiêu cực của cuộc chiến tranh thương mại, cần đồng hành cùng Nhà nước trong quá trình đối phó với những biến động xấu đến từ cuộc chiến
Trước tiên, doanh nghiệp cần tăng cường chất lượng hàng hóa, đa dạng về hình thức, mẫu mã, với giá cả phù hợp để tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước và đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Tiếp đó, cần định hướng nâng cao chiến lược xuất nhập khẩu của mình theo hướng bền vững, trong đó tăng trưởng xuất khẩu cả về chiều rộng và chiều sâu
Đồng thời, DN cần tìm hiểu sâu hơn những quy định mới của Mỹ, tăng cường cập nhật danh mục hàng hóa bị áp thuế của cả Mỹ và Trung Quốc, cũng như động thái
tỷ giá của đồng USD và NDT, để kịp thời có những phản ứng phù hợp
2, Về các giải pháp thu hút FDI:
Tăng tính chủ động trong công tác xúc tiến đầu tư: Lãnh đạo các Bộ ngành
chủ động ra nước ngoài tiếp cận các tập đoàn lớn Chủ động đề xuất các ưu đãi linh hoạt cho các tập đoàn này nhằm thu hút các doanh nghiệp lớn có sức lan tỏa, nắm giữ công nghệ cao, công nghệ nguồn đầu tư vào Việt Nam
Bổ sung kinh phí cho hoạt động xúc tiến đầu tư phù hợp với quy mô, số lượng các nhà đầu tư và thị trường đầu tư cần xúc tiến
Xây dựng các hàng rào kỹ thuật hướng đến mục tiêu cải thiện chất lượng của FDI (trong chuyển giao công nghệ, trong liên kết với nền kinh tế địa phương) đồng thời
ngăn chặn các dự án FDI có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, dự án FDI vào các địa
bàn nhạy cảm về an ninh quốc phòng (bằng hàng rào quy hoạch, công nghệ…) hoặc dự
án FDI có quy mô quá nhỏ (bằng hàng rào visa xuất nhập cảnh Ví dụ: đối với các doanh nghiệp FDI tạo ra từ 100 việc làm trở lên cho người Việt Nam thì có chính sách cấp visa thông thoáng; ngược lại, đối với các doanh nghiệp FDI siêu nhỏ, tạo ra dưới
Trang 31 Xây dựng các cơ chế đặc thù tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi nhằm thu hút các dự án FDI công nghệ cao trong bối cảnh CMCN 4.0 thông qua các giải pháp cụ thể sau:
+ Chính phủ xây dựng hoặc có các chính sách khuyến khích doanh nghiệp/tổ chức xây dựng kho dữ liệu lớn
+ Đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin (5G), giao thông kết nối đi – đến các khu công nghệ cao
+ Thu hút đầu tư vào hạ tầng, dịch vụ để các khu – thành phố công nghệ cao trở thành các khu vực có chất lượng cuộc sống cao, đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực quốc tế trong lĩnh vực công nghệ cao
+ Có cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CMCN 4.0 (như cấp phép visa lao động thông thoáng), chủ động tiếp cận đội ngũ lao động chất xám là người Việt Nam ở nước ngoài
+ Thu hút và có chính sách hỗ trợ các trường Đại học đào tạo các ngành công nghệ cao, phát triển các chương trình đào tạo liên ngành (như công nghệ thông tin và tài chính, công nghệ thông tin và nông nghiệp…)
+ Đẩy nhanh tiến độ xây dựng để Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia sớm đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả của nó
Kết luận: Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có cả Việt Nam Vì vậy, với vai trò Chủ tịch ASEAN 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam cần tận dụng tốt những
cơ hội, chủ động tạo vị thế trong quan hệ song phương với Mỹ và Trung Quốc; đồng thời, phát huy vai trò tại các thể chế đa phương quan trọng như ASEAN và Liên hợp quốc Điều này giúp Việt Nam vừa tối ưu hóa vị trí chiến lược của mình, vừa củng cố
vị thế vững vàng hơn, giảm thiểu các thách thức từ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung Quốc
Câu 3: Cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam
I, Trước khi gia nhập WTO: 2000-2006, cán cân thương mại thâm hụt
Về xuất khẩu, trong giai đoạn 2001-2005, xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao, bình quân 16,3%/năm Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,4 tỷ USD (bằng
Trang 32khoảng 60% GDP), 6 tháng đầu năm 2006 đạt 18,7 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái Khi gia nhập WTO Việt Nam phải cắt giảm thuế quan, xoá bỏ các hàng
rào phi thuế quan (hạn ngạch, cấp phép xuất- nhập khẩu) xoá bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước (gọi là dành
sự đối xử quốc gia), bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, tài sản trí tuệ và bản quyền Điều đó tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia trên sân chơi chung và được đối xử công bằng Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước còn thấp, trong khi đó đối tác nước ngoài đi trước rất xa về thời gian, trình độ công nghệ, kinh nghiệm,
Do đó, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thể sẽ biến động mạnh theo hướng cơ cấu các mặt hàng công nghiệp tăng nhanh, mặt hàng chủ lực truyền thống tăng chậm
Nhóm hàng có kim ngạch thấp hiện nay như hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, túi xách, ô dù, mũ, vali, sản phẩm gốm sứ, dây điện và dây cáp điện, xe đạp và phụ tùng xe đạp chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu, sẽ tham gia vào thị trường rộng lớn hơn, có thể tăng tốc
- Hàng dệt may, giày dép chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch gặp khó khăn hơn trong việc tăng nhanh kim ngạch do phải cạnh tranh trực tiếp với hàng dệt may của Trung Quốc, Ấn Độ Bởi vì, hàng dệt may của Việt Nam là loại gia công, hàng cấp
trung bình cùng đẳng cấp với hàng dệt may các nước trong khu vực Đồng thời, thuế suất đối với hàng dệt may Việt Nam trung bình là 15%, bằng mức thuế của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan Đặc biệt, hàng Việt Nam phải cạnh tranh với hàng của nhóm các nước Caribe, Canada và Mexico chỉ chịu thuế 0% Theo các chuyên gia kinh tế, năng lực cạnh tranh hàng Việt Nam không thể bằng Trung Quốc, nhưng hiện nay hàng dệt may Trung Quốc đang bị áp đặt các biện pháp hạn chế nên hàng Việt Nam có thể tận dụng cơ hội để tăng cao
- Nhóm hàng chủ lực truyền thống như cao su, gạo, cà phê, dầu thô, than đá, rau quả chiếm khoảng 35%, tiếp tục đạt tăng trưởng cao do được tham gia trực tiếp
và bình đẳng hơn vào các thị trường lớn Khi Việt Nam vào WTO, hàng thuỷ sản
không có chuyển biến nổi bật, mức độ thách thức và cơ hội cho ngành thuỷ sản ở một chừng mực nào đó đã có từ lâu Về thách thức, tính minh bạch, rõ ràng về chất lượng sản phẩm, nguồn gốc nguyên liệu, chứng chỉ kiểm soát quá trình chế biến, sản xuất,
Trang 33vấn đề khó khăn đối với doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Về nhập khẩu, kim ngạch giai đoạn 2001-2005 đạt mức tăng bình quân 17,4%/ năm Kim ngạch nhập khẩu năm 2005 đạt 37 tỷ USD (chiếm 70,2% GDP), tăng
15,7% và 6 tháng đầu năm 2006 kim ngạch nhập khẩu đạt 20,7 tỷ USD, tăng 14% Khi gia nhập WTO, kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng trưởng mạnh mẽ Nguyên nhân chủ
yếu là do hàng công nghiệp, nông sản tăng do việc giảm thuế mạnh mẽ trong các ngành nông nghiệp và công nghiệp, trong khi đó chi phí sản xuất trong nước còn cao
do nhiều ngành công nghiệp còn non trẻ, điểm xuất phát thấp, năng suất lao động thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu, năng lực cạnh tranh còn hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực thấp, hệ thống giáo dục đào tạo kém, chịu nhiều sức ép hơn các nước đang phát triển khác do chưa phải là nền kinh tế thị trường
Khi gia nhập WTO, nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc, ASEAN, Đài Loan tăng nhanh do thuế suất sẽ giảm từ 40-50% xuống còn 5-15%, đồng thời khâu phân phối của các nước này tốt hơn của Việt Nam Quyền kinh doanh của họ trên thị trường nội địa nước ta như quyền phân phối hàng hoá, chất lượng, giá cả được ưu đãi do làm tốt khâu phân phối, hoá hàng sẽ lan toả nhanh, thương hiệu phổ biến rộng rãi trên thị trường Việt Nam
+, Cán cân dịch vụ tiếp tục có xu hướng thâm hụt Năm 2005, tổng thu, chi dịch
vụ chiếm khoảng 14% tổng kim ngạch thương mại hàng hoá dịch vụ và triển vọng có thể đạt tỷ trọng 20% trong thời gian tới Thu các ngành dịch vụ du lịch, hàng không,
tài chính tăng nhanh do gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết mở cửa hầu hết
ngành dịch vụ Hầu hết các ngành dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như tư vấn kế toán, thiết
kế, kiến trúc, xây dựng, dịch vụ liên quan đến máy tính, văn hoá giải trí được mở cửa ngay cho nhà đầu tư nước ngoài Hiện nay còn hạn chế nhà đầu tư nước ngoài vào một số ngành dịch vụ như bảo hiểm phi nhân thọ, vận tải, dịch vụ quảng cáo, phần mềm máy tính Trong ngành viễn thông, công ty nước ngoài được sở hữu phần lớn trong các liên doanh cung cấp dịch vụ viễn thông cố định, di động thực hiện thông qua thuê đường truyền, hệ thống dữ liệu, dịch vụ vệ tinh và cáp ngầm dưới biển của công
ty Việt Nam Do đó, xu hướng thu hút FDI trong lĩnh vực dịch vụ tăng mạnh sẽ góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ Tuy nhiên, chi dịch vụ vận tải, bưu chính