- Trung Quốc cho rằng trong điều kiện cụ thể, nền kinh tế không phải càng thuần khiết XHCN càng tốt, mà cần đa dạng hóa các loại hình sở hữu trong điều kiện lấy chế độ công hữu làm chủ t
Trang 1Đề cương : Kinh tế chuyển đổi trung quốc Tóm tắt chương 1 :
Câu hỏi 1 : Trình bày và phân tích nội dung đường lối cải cách kinh tế ở Trung Quốc.
I Khái quát nguyên nhân cải cách và mở cửa
Trung Quốc phê phán những quan điểm tả khuynh về kinh tế, chính trị của thời kì trước đây- nguyên nhân gây nên sự trì trệ về kinh tế - xã hội
– Về phương diện kinh tế: Trung Quốc xem xét toàn diện thực trạng kinh tế- xã hội
+ Nông nghiệp: 700 triệu nông dân với lao động thủ công là phổ biến
+ Công nghiệp: nhiều ngành sản xuất còn lạc hậu mấy chục năm, thậm chí còn ngành lạc hậu hàng trăm năm so với công nghiệp ở các nước phương Tây Trình độ xã hội hóa sức sản xuất rất thấp kém, kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên còn chiếm tỉ trọng tương đối lớn hơn trong nền kinh
tế
=> Nếu tiếp tục kéo dài sẽ đưa đất nước vào con đường bế tắc, khủng hoảng
– Về phương diện lí luận: Trung Quốc cho rằng trong quá trình nghiên cứu, C.Mác đã có
dự đoán thiên tài về mặt xã hội tương lai khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ cao Nhưng thực
tế, nền kinh tế Trung Quốc còn ở trình độ thấp Trung Quốc thừa nhận tình trạng đóng cửa lâu ngày nền kinh tế cũng gây trì trệ cho sản xuất và gây tình trạng tụt hậu trong phát triển kinh tế
Tự nhận thức lý luận và đánh giá thực tiễn là cơ sở cho việc khởi thảo đường lồi cải cách và mở cửa của Trung Quốc
II Nội dung cải cách và mở cửa
Trong giai đoạn đầu cải cách, Trung Quốc chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa, và từ năm 1992, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
- Trung Quốc cho rằng, trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa không phải do kế hoạch điều tiết đơn nhất, mà có thể kết hợp giữa kế hoạch với thị trường Trung Quốc coi đây là kết luận cơ bản rút
ra từ thực tiễn xậy dựng kinh tế trong những năm qua
- Đường lối kinh tế của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khẳng định kinh tế XHCN là “kinh tế hàng hóa có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu” và “ thực hiện kinh tế kế hoạch cùng với việc vận dụng quy luật giá trị và phát triển kinh tế hàng hóa không phải là bài xích nhau mà là thống nhất nhau Đối lập chúng với nhau là sai lầm”
- Từ tháng 10 năm 1992,tại đại hội XIV, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dứt khoát lựa chọn thể chế kinh tế thị trường XHCN là mục tiêu của cải cách kinh tế Trung Quốc đã tiến hành giá cả ,
tỷ giá, thuế, và hướng tới hình thành đồng bộ các loại thị trường vốn, lao động, công nghệ thông tin bất động sản, để cơ chế thị trường hoạt động thông suốt
Trung Quốc chủ trương khôi phục và duy trì một nền kinh tế nhiều thành phần
Trang 2- Trung Quốc cho rằng trong điều kiện cụ thể, nền kinh tế không phải càng thuần khiết XHCN càng tốt, mà cần đa dạng hóa các loại hình sở hữu trong điều kiện lấy chế độ công hữu làm chủ thể, quy mô sở hữu phải dựa vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Việc lựa chọn và xác lập các hình thức sở hữu không thể xuất phát từ ý tưởng chủ quan mà xuấtphát từ yếu tố khách quan của lực lượng sản xuất quyết định
- Đổi mới nhận thức về chế độ sở hữu dưới CNXH, phá bỏ quan niệm truyền thống là giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh “càng thống nhất càng tốt” để xác lập quan niệm mới là quyền sở hữu về kinh doanh có thể tách rời nhau
- Các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước cũng được chú trọng
- Trung Quốc áp dụng chính sách khoán không chỉ trong nông nghiệp, mà cả trong lĩnh vực công thương nghiệp
- Trung Quốc cho phép cạnh tranh, giải thể những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và thi hành chế
độ hợp đồng lao động trong hoạt động kinh tế, coi đây là tác động quan trọng cho sản xuất phát triển
- Quá trình cải cách doanh nghiệp ở Trung Quốc còn gắn liền với ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật
- Trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần và phát triển kinh tế thị trường cần kết hợp phân phối theo lao động và phân phối theo yếu tố sản xuất, cho phép cổ vũ một bộ phận người dân, một số vùng được giàu lên trước bằng con đường kinh tế hợp pháp
Trung Quốc chủ trương điều chỉnh lại cơ cấu nền kinh tế vốn mất cân đối từ trước, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện “Bốn hiện đại hóa”
- Trung Quốc chuyển thứ tự ưu tiên phát triển từ công nghiệp nặng- công nghiệp nhẹ- nông nghiệp sang nông nghiệp- công nghệ nhẹ- công nghiệp nặng
- Trung Quốc coi trọng vấn đề hiện đại hóa, coi hiện đại hóa công nghiệp là tiên đề để hiện đại hóa các ngành kinh tế khác
- Hiện đại hóa công nghiệp bao gồm: hiện đại hóa công nghệ và hiện đại hóa cơ cấu kinh tếTăng cường lấy nông nghiệp làm cơ sở cho phát triển và công nghiệp nặng phải hỗ trợ cho công nghiệp nhẹ tăng trưởng ổn định
Trung Quốc chủ trương thực hiện chính sách mở cửa
- Hội nghị lần thứ 12 của Đảng cộng sản Trung Quốc (9/1982) đã khẳng định: “Chính sách mở cửa là đường lối chiến lược không thay đổi, là một điều kiện cơ bản để hiện đại hóa” Đặc biệt từnăm 1992, Trung Quốc chủ trương đẩy nhanh nhịp độ mở cửa nhằm thu hút vốn và tranh thủ khoa học- kĩ thuật của nước ngoài
Trung Quốc chủ trương tiến hành cải cách thể chế chính trị
Trang 3- Mục tiêu phấn đấu của Đảng cộng sản Trung Quốc là kiện toàn chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế, nhận định chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng thực hiện của nhà nước, tinh giản bộ máy quản lý
- Trong xây dựng đội ngũ cán bộ, tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực của họ được đánh giá bằng lòng nhiệt thành, quyết tâm và những hành động có hiệu quả trong cải cách kinh tế
=> Trên đây là toàn bộ những nội dung cơ bản về cải cách và mở cửa ở Trung Quốc Qua thực
tế, nó đã tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ làm sống động nền kinh tế trên nhiều lĩnh vực
· Liên hệ với đường lối cải cách kinh tế ở Việt Nam
Điểm giống nhau:
- Sau những điểm yếu bộc lộ từ mô hình kế hoạch hóa tập trung, thì cuộc cái cách mở cửa ở Việt Nam và Trung Quốc có điểm chung là tìm kiếm mô hình mới, thiết thực để xây dựng thành công chế độ XHCN ở mỗi nước
- Về mặt lý luận: Đều lấy lý luận của chủ nghĩa Mác – Lenin làm cơ sở cho hệ tư tưởng của mình và đều kiên định đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản
- Về đặc trưng: Đều có 3 mặt chung
+ Chế độ công hữu bao gồm: Nhà nước, tập thể và kinh tế quốc hữu và kinh tế tập thể trong sở hữu hỗn hợp
+ Chế độ phân phối: phân phối theo lao động
+ Chế độ chính trị: chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa chuyên chính vô sản lấy liên minh công nông làm lòng cốt
- Về chính sách: Đều có các chính sách đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh ngoại thương, lợi dụng vốn và kỹ thuật tiên tiến nước ngoài từ đó phát triển kinh tế thị trường có
sự điều tiết và quản lý của nhà nước, thúc đẩy sản xuất, lưu thông, tăng trưởng kinh tế
Điểm khác nhau:
Đặc điểm Việt Nam Trung Quốc
Công cuộc đổi mới đất nước về Kinh tế- xã hội Công cuộc đổi mới toàn bộ nền kinh tế đất nước bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) và được khẳng định tại Đại hội lần thứ VII (6/1991) là “ Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Và Việt Nam đã tiến hành những bước quan trọng trong việc áp dụng cơ chế thị trường như: Tự do hóa giá cả, thị trường tỷ giá hối đoái, thực hiện khoán trao quyền sử dụng đất cho nông dân…
Đã hình thành tư tưởng đổi mới thể chế kinh tế trước Việt Nam cả chục năm, vì vậy phải
tự lần mò thử nghiệm con đường xã hội chủ nghĩa cho riêng mình
Trang 4Cơ chế, chế độ quản lý Việt Nam chỉ có một chế độ đó là Xã Hội Chủ Nghĩa Trung Quốc có cơ chế quốc sách là “một nước hai chế độ” đó là hai khu vực kinh tế, một bên là Trung Hoa đại lục thực hiện chế độ XHCN, một bên là Hồng Kông, Đài Loan và Ma Cao thực hiện chế độ TBCN với các chủ trương về cải cách kinh tế có khác nhau, bổ sung cho nhau à Đây là điều kiện thuận lợi để TQ phát triển nhanh chóng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Kim chỉ nam dẫn đường cho công cuộc cải cách đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và tưtưởng Mác- Lê Nin cùng với sự vận dụng sáng tạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện thành công cuộc cải cách kinh tế và giành được những thắng lợi to lớn Dựa trên và kế thừa tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác, tình hình thực tế của
TQ, cùng với lý luận của Đặng Tiểu Bình à mở đường cho công cuộc cả cách mở cửa, giúp TQ phát triển như ngày hôm nay
Có thể nói tiến trình tư tưởng thể chế kinh tế thị trường XHCN ở Trung Quốc đã có những ảnh hưởng nhất định đến thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Nó là ví dụ điểm hình là có vai trò quan trọng trong việc định hướng kinh tế của mỗi nước XHCN
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thời kỳ này đặc biệt là sau năm 1986, đảng và nhà nước ta đã học tập rất nhiều những bài học bổích và phát triển có hiệu quả trong sự phát triển nền kinh tế của Trung quốc Việt Nam chấp nhậnmột nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần (cả kinh tế XHCN, kinh tế tiểu thủ công, kinh tế tư bản tư nhân, ) đẩy mạnh cải tạo XHCN làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của Lực lượng sản xuất, xóa bỏ đi những quan điểm nóng vội chủ quan, bỏ qua những bước
đi cần thiết
Khẳng định được vị trí hàng đầu của nông nghiệp, lâm ngư nghiệp cũng như các ngành Công nghiệp nhẹ, tiểu thủ Công nghiệp, còn Công nghiệp nặng thì phát triển có chọn lọc
Xóa bỏ đi được cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, từ nhiều năm nay sang cơ chế
KHHTT theo phương thức hạch toán xây dựng XHCN Từ đó, mở cửa nền kinh tế nhằm hương
ra thế giới tiếp thu nguồn lực xã hội tiên tiến, kinh nghiệm về quản lý tổ chức đa dạng hóa kinh
Giới thiệu các hình thái thị trường và áp dụng cạnh tranh từ bên ngoài nhằm loại bỏ những hạn chế của hệ thống thương mại truyền thống và các hình thức độc quyền khác nhau Cũng giống như nhiều nước đang phát triển đã trãi qua những thay đổi căn bản từ nền kinh tế kế hoạch hóa truyền thống sang nền kinh tế định hướng thị trường, trung quốc phải đối mặt với những khó khăn gay gắt trong việc ngừng duy trì hệ thống cũ, thay vào đó là cách quản lý mới dựa vào thị
Trang 5trường, cơ chế thị trường, các thể chế kinh tế định hướng thị trường, nhân tài và kinh nghiệm quản lý Nhờ quá trình mở cửa, trung quốc đã học hỏi nhiều được nhiều nhân tố “phần mềm” quan trọng của một nền kinh tế thị trường, những yếu tố này có ý nghĩa hơn nhiều so với vốn hữu hình, các sản phẩm hay công nghệ Những yếu tố này có thể khích lệ mạnh mẽ hơn nữa những tài năng, sự năng động và sáng tạo, theo đó mang lại giá trị về mặt xã hội hơn là những vốn hữu hình.
Trong quan hệ buôn bán với nước ngoài, Trung Quốc luôn luôn ở vị thế xuất siêu; mức xuất siêu ngày một lớn và thuộc loại nhất nhì thế giới Việt Nam luôn ở vị thế nhập siêu, tăng liên tục từ năm 2000 đến 2004 với mức đỉnh điểm gần 5,5 tỉ USD; năm 2005 tuy đã giảm xuống nhưng vẫn còn trên 4,5 tỉ USD
Tuy nhiên bên cạnh đó Trung quốc cũng tồn đọng nhiều nhược điểm tồn đọng ví du như:
+ Chính sách thương mại thiếu thất quán, thiếu ổn định và liên tục
+ Chiến lược quá chú trọng xuất khẩu gây ra những cản trở đối với nhập khẩu ở mức độ nhất định Trước năm 1994, vấn đề chủ yếu của nền kinh tế và thương mại Trung Quốc là thiếu ngoại hối và cung cấp ổn định
Chúng ta cũng nên nhìn nhận và tránh mắc phải sai lầm từ những nhược điểm tồn động của Trung Quốc
Câu 2 : TRÌNH BÀY CÁC BƯỚC CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở TRUNG QUỐC LÀM RÕ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC
⦁ TIẾN TRÌNH TƯ TƯỞNG THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở TRUNG QUỐC
-Sự phá sản của đường lối xây dựng xã hội kiểu cũ ở Trung quốc những năm 1960-1970+ Do xác định mô hình thể chế kinh tế XHCN là mô hình kế hoạch hóa, nên ngay ở giai đoạn đầu khôi phục đất nước sau chiến tranh, nền kinh tế kế hoạch đã có tác dụng nhanh chóng trong việc tập trung nhân lực, tài lực, để đảm bảo các mục tiêu kế hoạch đã được
đề ra
+ Nhưng ở thể chế này, do nhà nước tập trung cao độ, quản lí xí nghiệp quá cứng nhắc, không phân biệt chức năng quản lí nhà nước về nền kinh tế với quản lí kinh doanh, duy trì chế độ công hữu đơn nhất, loại bỏ sản xuất hàng hóa và tác dụng quy luật giá trị… nêncàng ngày càng làm mất đi sức sống của kinh tế XHCN
+ Các chủ trương như Đại nhảy vọt, Ba ngọn cờ hồng, toàn dân làm gang thép … đã đưa Trung quốc vào thảm họa đói nghèo cùng với tư tưởng cực tả còn đẩy Trung quốc vào cuộc cuồng phong “cách mạng văn hóa vô sản” đã đưa Trung quốc đến bờ vực thảm họa diệt vong
Mặt khác, vai trò của Trung Quốc trên thế giới bị giảm sút khi trung quốc đại lục chỉ là
“người khổng lồ rỗng ruột” bị cô lập với thế giới bên ngoài
Trang 6+ Tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ, sự điều chỉnh thích ứng mới của CNTB, sự lạc hậu trì trệ của CNXH thế giới.
+ Tất cả đã góp phần thúc đẩy ban lãnh đạo Trung quốc tìm con đường mới cho hướng đicủa Trung quốc là “CNXH mang màu sắc Trung Quốc” và trên cơ sở đó hình thành xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN ở trung quốc
- Sự hình thành lí luận chuyển sang KTTT ở Trung quốc: 3 giai đoạn
⦁ Năm 1978-1984: giai đoạn khởi đầu về nhận thức cải cách kinh tế, từ “kinh tế kế hoạch đơn thuần” sang “kinh tế kế hoạch là chủ yếu, điều tiết thị trường là bổ sung” hay còn gọi là “kinh tế hàng hóa có kế hoạch”
+ Để chống lại quan điểm "hữu khuynh" đòi xóa bỏ quan hệ "hàng - tiền", các nhà kinh tếnêu ý kiến cần phát huy hơn nữa vai trò của quy luật giá trị
+ Nhưng, do nhận thức của mọi người lúc đó về kinh tế hàng hóa còn mơ hồ nên mãi tới Hội nghị công tác Trung ương tháng 4-1997, Phó thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc lúc đó Lý Tiên Niệm mới đưa ra quan điểm "kết hợp giữa điều tiết kế hoạch và điều tiết thị trường, lấy kinh tế kế hoạch làm chính, đồng thời hết sức coi trọng vai trò bổ trợ của điều tiết thị trường"
+ Đồng thời với việc đưa ra vấn đề kết hợp điều tiết kế hoạch và điều tiết thị trường, vào khoảng tháng 1-2/1979, một số nhà kinh tế cũng nêu lên vấn đề kết hợp kinh tế kế hoạch
và kinh tế thị trường Nhà kinh tế Trần Vân đưa ra quan điểm "kết hợp kinh tế kế hoạch làm chủ thể, kinh tế thị trường là sự bổ sung quan trọng chứ không phải là sự bổ sung thứyếu"
⦁ Từ năm 1984-1989: giai đoạn chuyển sang “kết hợp kinh tế có kế hoạch với điều tiết thị trường”
Hội nghị Trung ương 3 khóa XII đã thông qua Nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về cải cách thể chế kinh tế
Nghị quyết chỉ rõ: “Nền kinh tế XHCN là nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch trên cơ sở chế độ công hữu Phát triển đầy đủ kinh tế hàng hóa là giai đoạn không thể bỏ qua của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện tất yếu để thực hiện hiện đại hóa Trung Quốc” Đây
là một đột phá quan trọng về lý luận Lần đầu tiên Trung Quốc khẳng định rõ ràng kinh tếXHCN là kinh tế hàng hóa Nó đánh dấu sự nhảy vọt về nhận thức đối với kinh tế XHCN.Ông Đặng Tiểu Bình đã đánh giá rất cao văn kiện này
Sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XII, Báo cáo Chính trị của Đại hội lần thứ XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc (11-1987) đã không còn nhắc tới kinh tế kế hoạch nữa, mà nhấn mạnh "vai trò của kế hoạch và thị trường đều là cơ chế vận hành kinh tế mới bao phủ lên toàn xã hội"
⦁ Từ năm 1989-1992, Giai đoạn kinh tế thị trường XHCN
Trang 7Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ở Trung Quốc đã xuất hiện một trận Đại luận chiến về vấn đề cải cách thất bại hay thành công? Việc phê phán trên quy mô lớn đối với lý luận kinh tế thị trường đã gây ra sự lo lắng trong cán bộ và quần chúng nhân dân Thêm vào
đó lại xảy ra sự biến động chính trị ngày 19-8-1991, rồi cuộc cải cách của Liên Xô và cácnước Đông Âu không triệt để khiến cho cải cách ở Trung Quốc trong thời gian này bị chậm lại Họ vẫn luôn băn khoăn bởi vấn đề kinh tế thị trường mang tính chất XHCN hayTBCN?
Tháng 10 /1992, Đại hội XIV của đảng cộng sản trung quốc đã trình bày lí luận xây dựngchủ nghĩa xã hội mang đặc sắc TQ của Đặng Tiểu Bình một cách hệ thống, chính thức xác định: “Mục tiêu cải cách thể chế kinh tế của TQ là xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa “, và coi thị trường là có vai trò cơ sở trong việc bố trí phân phối các nguồn lực dưới sự khống chế của Nhà nước Điều đó đã chỉ rõ phương hướng cho việc xây dựng thể chế kinh tế mới xã hội chủ nghĩa ở TQ
Từ đó từng bước thiết lập thể chế và tiến hành hàng loạt những biện pháp cải cách như: chuyển cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, tăng nhịp độ mở rộng thị trường, thả lỏng hơn giá thị trường…
⦁ Giai đoạn 1992-2001: hình thành khung cơ bản của thể chế kinh tế thị trường XHCN
Dựa vào luận điểm trên của ông Đặng Tiểu Bình Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIV (10-1992) chính thức tuyên bố: "Mục tiêu cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc là xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN"
Và chỉ rõ: "Thể chế kinh tế thị trường XHCN chính là làm cho thị trường phát huy được vai trò mang tính cơ sở trong việc bố trí các nguồn lực dưới sự điều tiết vĩ mô của nhà nước…"
Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (11-1993) đã nêu ra nội dung của việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường: "Lấy chế độ công hữu làm chủ thể, nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển; chuyển đổi thêm một bước cơ chế kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại; xây dựng hệ thống thị trường mở cửa thống nhất trong cả nước; chuyển đổi chức năng quản lý kinh tế của Chính phủ, xây dựng hệ thống điều tiết vĩ mô hoàn thiện; xây dựng chế độ phân phối thu nhập lấy phân phối theo lao động là chính, ưu tiên hiệu suất, chú trọng công bằng; xây dựng chế độ bảo hiểm xã hội nhiều tầng Những khâu chủ yếu này là một thể hữu cơ gắn với nhau, tạo nên khung cơ bản của thể chế kinh tế thị trường XHCN"
⦁ Giai đoạn từ 2002- đến nay: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN
Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (11-2002), đề ra: "Trong 20 năm đầu của thế kỷXXI, Trung Quốc tập trung toàn lực xây dựng xã hội khá giả toàn diện với trình độ cao hơn, đem lại lợi ích cho số dân tỷ mấy người, làm cho kinh tế phát triển hơn, dân chủ kiện toàn hơn, khoa học giáo dục tiến bộ hơn, văn hóa phồn vinh hơn, xã hội hòa hợp hơn, cuộc sống nhân dân sung túc hơn Đó là một giai đoạn phát triển tiếp nối tất phải trải
Trang 8qua để tiến tới mục tiêu chiến lược bước ba của công cuộc xây dựng hiện đại hóa, cũng làgiai đoạn then chốt để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN và tăng cường mở cửađối ngoại".
-NHỮNG GIẢI PHÁP
⦁ Chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1991)
Đảng Cộng sản Trung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị”, chuyển trọng tâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa Giai đoạn đầu tập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc “khoán ruộng đất”, “phát triển xí nghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiến hành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của xí nghiệp quốc hữu ở thành phố, tiến hành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh tế, xây dựng các loại thị trường Việc xây dựng các đặc khu kinh tế (SEZs) ở Trung Quốc tương đối thành công SEZs đã phát huy được vai trò “cửa sổ” và “cầu nối” có ảnh hưởngtích cực đối với trong và ngoài nước SEZs của Trung Quốc đã đạt được thành công bướcđầu trong sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường Những năm 1984 - 1991, cải cách xí nghiệp quốc hữu là trọng tâm, cải cách giá cả là then chốt trong toàn bộ cuộc cải cách Trong giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế (1979 - 1991), Trung Quốc đã tìm tòi, tổ chứcthí điểm, từng bước tiếp nhận cơ chế thị trường, sửa chữa những khuyết điểm của thể chế kinh tế kế hoạch
⦁ Xây dựng khung thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (1992 - 2002)
Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi to lớn
và sâu sắc Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô giải thể, đảng cộng sản ở các nước Đông Âu mất địa vị cầm quyền Chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước tiến hành điều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại
Tại Trung Quốc, sự nghiệp cải cách, mở cửa đối mặt với nhiều thách thức to lớn Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương gác lại các cuộc tranh luận, tiến hành “Ba điều có lợi” (có lợi cho phát triển sức sản xuất xã hội chủ nghĩa, có lợi cho đất nước, có lợi cho đời sống nhân dân), mạnh dạn xông pha vào thực tiễn và lấy thực tiễn đểkiểm nghiệm Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) nêu mục tiêu xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh mở cửa Đây được coi là cuộcgiải phóng tư tưởng lần thứ hai, là mốc qụan trọng trong tiến trình cải cách, mở cửa ở Trung Quốc
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV (năm 1993) thông qua “Quyết định về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ rõ: “lấy chế độ công hữu làm chủ thể, nhiều thành phần kinh tế khác cùng phát triển, xây dựng chế độ phân phối thu nhập, lấy phân phối theo lao động làm chính, ưu tiên hiệu quả, quan tâm tới công bằng, khuyến khích một số vùng, một số người giàu có lên trước, đi con đường cùng giàu có”(1) Đại hội XV Đảng
Trang 9Cộng sản Trung Quốc (năm 1997) đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa.
⦁ Đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa từ năm 2002 đến nay, cải cách theo chiều sâu
Năm 2001 Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Sự kiện này đánh dấu tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Trung Quốc Từ Đại hội XVI (năm 2002) Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã nêu
ra quan điểm phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy phát triển toàn diện hài hòa và bền vững kinh tế - xã hội Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 2007) nêu chủ trương từ “tam vị nhất thể” - bao gồm kinh tế, chính trị
và văn hoá sang “tứ vị nhất thể” - bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội
Bước sang thế kỷ XXI, Trung Quốc đã xây dựng được cục diện cải cách, mở cửa toàn phương vị, đa tầng nấc; hình thành các cực tăng trưởng, Trước đó, Tiểu Chu Giang với nòng cốt là Quảng Châu, Thâm Quyến được coi là cực tăng trưởng thứ nhất của Trung Quốc, hình thành trong giai đoạn đầu của cải cách, mở cửa với việc xây dựng 4 đặc khu (Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu, Hạ Môn)
Từ năm 1990, Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng Phố Đông, coi đây là “đầu tàu” lôi kéo vàkết nối các điểm tăng trưởng hạ lưu sông Trường Giang và ven biển Đông Hải Sự ra đời của Phố Đông (Thượng Hải) đánh dấu sự xuất hiện cực tăng trưởng thứ hai của Trung Quốc Ngày 6-6-2006, Chính phủ Trung Quốc đã công bố “Ý kiến về mấy vấn đề thúc đẩy mở cửa phát triển Khu mới Tân Hải Thiên Tân”, đánh dấu việc chủ trương đưa ThiênTân vươn lên trở thành cực tăng trưởng thứ ba của Trung Quốc, gắn liền các điểm tăng trưởng xoay quanh vịnh Bột Hải Tiếp đó, vùng Thành Đô - Trùng Khánh (Xuyên Du), Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ (Quảng Tây), Khu kinh tế bờ Tây (Phúc Kiến) cũng phấn đấu trở thành cực tăng trưởng tiếp theo ở Trung Quốc Năm 2008, Quốc vụ viện Trung Quốc
đã phê chuẩn “Cương yếu quy hoạch Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ”, thể hiện quyết tâm của Trung Quốc trong xây dựng cực tăng trưởng mới - cực tăng trưởng kết nối giữa Trung Quốc và ASEAN
Từ Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3 khóa XVIII thông qua Nghị quyết về cải cách toàn diện và sâu rộng, thực hiện “giấc mộng Trung Quốc”, “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa”
-LIÊN HỆ VIỆT NAM
⦁ Liên hệ Việt Nam
Làn sóng cải cách kinh tế khắp các nước trên thế giới từ cuối 1970 đã tạo nên áp lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới, thay thế nền kinh tế kế hoạch tập trung bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường mà ở đó kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo Những thay đổi này giúp Việt Namhội nhập với nền kinh tế toàn cầu Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang hàm ý là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho
Trang 10hệ thống này trong tương lai Mô hình kinh tế này khá tương đồng với mô hình kinh tế thịtrường xã hội chủ nghĩa (socialist market economy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó các mô hình kinh tế tập thể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nướcđóng vai trò chủ đạo
3.2 So sánh
⦁ Khác nhau trong tư tưởng
- Trung Quốc đã dứt khoát theo chủ nghĩa phát triển, mạnh dạn tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển, vai trò của nhà nước chỉ nhằm giải quyết những vấn đề mà kinh tế học gọi là sự thất bại của thị trường Tuy đề ra chủ trương xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nhưng trên thực tế hầu như họ gác lại một bên lý tưởng đó mà tập trung phát triển lực lượng sản xuất Cụ thể là cho kinh tế tư nhân tự do phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nước ngoài đến đầu tư trục tiếp (FDI)
- Việt Nam :không theo chủ nghĩa phát triển mà thường để ý thức hệ chính trị chi phối quá trình cải cách (lo lắng nguy cơ chệch hướng chủ nghĩa xã hội) Chẳng hạn chính sáchđổi mới quyết định năm 1986 chủ trương đa dạng hóa chế độ sở hữu tư liệu sản xuất nhưng đến năm 1990 mới có Luật doanh nghiệp trong đó thừa nhận sự tồn tại của doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên đó chỉ mới thừa nhận, phải đợi đến năm 1999 mới có Luật doanh nghiệp mới, cho phép doanh nghiệp tư nhân đầu tư trong mọi lãnh vực mà luật không cấm
b Vai trò chính quyền địa phương
- Về phía Việt Nam:
+ Sau giai đoạn sản xuất nông nghiệp khởi sắc nhờ Khoán 10 (1988), chưa thấy có sự chuyển dịch đáng kể ở nông thôn
+ Không thấy có điển hình phát triển nào được chú ý, ngoài vài tỉnh lân cận Thành phố
Hồ Chí Minh và Hà Nội
c Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Ngay từ khi quyết định cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã nhận thức sức mạnh của công nghệ, của tri thức và có chiến lược tận dụng nguồn lực của Nhật và Mỹ
- Trong thập niên 1980, trong khi hành lang pháp lý chưa được hoàn thiện, doanh nghiệp
Âu Mỹ và Nhật Bản còn e ngại, sợ rủi ro, chưa đầu tư bao nhiêu thì Hoa kiều đã tích cực
đổ vốn và đưa công nghệ vào 4 đặc khu kính tế Sang thập niên 1990, làn sóng FDI từ Đài Loan, Nhật Bản và các nước Âu Mỹ bắt đầu tích cực chảy đến Trung Quốc
Trang 11- Từ thập niên 1990 đến giữa thập niên 2000, chính sách FDI nói chung là nhằm hạn chế hoạt động của doanh nghiệp có vốn nước ngoài và luôn thay đổi nên đã đánh mất nhiều
cơ hội đẩy mạnh công nghiệp hóa
Tóm lại, qua 10 năm cải cách và phát triển theo hướng kinh tế thị trường (1992-2002), thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã bước đầu hình thành ở trung quốc
Nhờ có sự chuyển đổi trong nền kinh tế mà Trung Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế lớn
Trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong suốt 30 năm qua và đang nỗ lực để thoát khỏi đói nghèo
Tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Trung quốc đã gây ấn tượng mạnh
mẽ trên toàn thế giới đặc biệt như ở các quốc gia Ireland, Brazil, Ấn Độ cũng đem lại sự thịnh vượng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những vấn đề về thể chế gây cản trở sự phát triển của kinh tế -
xã hội
Hội nghị Trung ương 3 khóa XVI đảng Cộng sản trung Quốc đã mở đầu giai đoạn “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế thế giới, nhằm mục tiêu xâu dựng toàn diện xã hội khá giả, tiến tới hoàn thành thành công công cuộc hiện đại hóa đất nước
CÂU 3: Trình bày sáng kiến vành đai con đường và tác động của nó?
1, Sáng kiến vành đai con đường:
1.1 Giới thiệu về “Một vành đai – một con đường”
Một vành đai, Một con đường (One Belt One Road), còn được gọi là Sáng kiến Vành đai và Con đường (Belt and Road Initiative)
Về cơ bản, đây là một mạng lưới nối liền giữa các tuyến đường bộ, đường sắt, các đường ống dẫn dầu, các mạng lưới điện, các hệ thống cảng biển cùng rất nhiều dự án hạ tầng nối liền
khoảng 65 quốc gia Việc phát triển các hệ thống và dự án hạ tầng này nhằm kết nối Trung Quốc với phần còn lại của thế giới
“Một vành đai, Một con đường” bao gồm hai phần: Vành đai và Con đường “Vành đai” có nghĩa là “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa” (Silk Road Economic Belt); “Con đường” có nghĩa
là “Con đường tơ lụa trên biển” thế kỷ 21 (21st Century Maritime Silk Road)
1.2 Lịch sử hình thành
"Một Vành đai, Một Con đường", tên gọi ban đầu của BRI, được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lần đầu tiên đưa ra vào cuối năm 2013 Sau khi được Thủ tướng Lý Khắc Cường quảng bá rộng rãi trong các chuyến thăm tới châu Á và châu Âu, sáng kiến này nhanh chóng thu hút sự chú ý của dư luận Trung Quốc và thế giới
Cơ quan Dịch thuật và Biên soạn Trung ương Trung Quốc cùng Học viện Khoa học Xã hội nướcnày cuối năm 2016 đề nghị thay đổi cách dịch cụm từ này thành "Sáng kiến Vành đai và Con đường"
1.3 Mục tiêu