Môn Chính trị học
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN CHÍNH TRỊ HỌC ĐẠI CƯƠNG
Câu 1 Chính trị học là gì? đối tượng, chức năng, nhiệm vụ của Chính trị học.
Khái niệm:
Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị của xã hội với tư cách là một chỉnh thể nhằm làm sáng tỏ những quy luật và tính quy luật chung nhất của chính trị; nghiên cứu cơ chế tác động và những phương thức, thủ thuật chính trị
để hiện thực hoá tính quy luật và những quy luật đó trong xã hội được tổ chức thành nhà nước Theo Lênin: cái quan trọng nhất trong chính trị là “ tổ chức cơ quan nhà nước ”
Chính trị là: Sự tham gia của nhân dân vào các công việc của nhà nước, các định hướng của nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nhân dân hoạt động của nhà nước
Bất kỳ vấn đề xã hội nào cũng mang tính chính trị vì việc giải quyết nó trực tiếp hoặc gián tiếp đều gắn với lợi ích của giai cấp, với vấn đề quyền lực
Vậy quan điểm trên đòi hỏi ta phải tiếp cận chính trị với tư cách: Là một hình thức hoạt động xã hội đặc biệt Là một loạt quan hệ xã hội đặc thù
Trang 2Một hệ thống những quan hệ xã hội đặc biệt liên quan đến vấn đề nhà nước: jchính học nghiên cứu:
Mối quan hệ giữa các giai cấp ( thực chất là quan hệ về lợi ích chính trị mà các giai cấp theo đuổi)
Hệ thống Đảng chính trị, mối quan hệ qua lại giữa chúng dẫn đến hình thành,
lý luận chung chính trị cộng kinh nghiệm hoạt động và việc vận dụng những kinh nghiệm đó vào việc xác định Đảng, Nhà nước và tính chất nhà nước, cơ cấu và cơ chế sử dụng quyền lực nhà nước
Nhà nước quan hệ dân tộc và các tầng lớp xã hội khác nhau ( hình thành lý luận dân tộc và vận dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc )
Việc lựa chọn và sử dụng con người thích hợp để giải quyết những nghĩa vụ chính trị cụ thể
Quan hệ giữa các quốc gia ( hình thành học thuyết chính trị quốc tế )
Chức năng
Là phục vụ cuộc sống của con người ở Việt Nam là phục vụ cho công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận, các quan điểm của Đảng chính sách của nhà nước XHCN, và ứng dụng thực tiễn để tăng cường lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước, góp phần phát triển và hình thành Văn Hóa chính trị, nhân cách chính trị cho mỗi cá nhân trong xã hội
Nhiệm vụ:
Với tư cách là một khoa học, chính trị học góp phần làm đúng đắn những tính quy luật và những quy luật cơ bản nhất của đời sống chính trị trong khuôn khổ một nước cũng như trên quy mô quốc tế Trên cơ sở đó hình thành những lý luận,
cơ sở khoa học về tổ chức chính trị, cải cách mô hình, cơ chế thực thi quyền lực , lýgiải mối quan hệ giữa các chủ quyền chính trị
Chính trị học góp phần luận chứng và hình thành cơ sở khoa học cho các hoạt động chính trị, cho việc hoạch định mục tiêu, chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng và nhà nước, công cụ cơ sở khoa học để hình thành các quyết sách và quyết định chính trị của đảng và nhà nước, cá nhân Thẩm định các quyết định chính trị từ phương diện khoa học ( đây là nhiệm vụ quan trọng nhất vì khi đã có
cơ sở khoa học để đánh giá các chính sách của Đảng, nhà nước là đúng đắn sẽ hình thành lòng tin, thể hiện tự giác của nhân dân
Trang 3Nghiên cứu đề xuất cơ chế, phương thức để thực thi các quyết sách và quyết định chính trị nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Góp phần xác định một hệ thống các quan điểm là cơ sở trong công cuộc đổi mới ( Việt Nam xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần dựa trên chính sách khoa học nào? quyền lực nhà nước thống nhất dựa trên chính sách khoa học nào? )
Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, các nhà lãnh đạo chính trị để thực thi những mục tiêu đề ra, phấn đấu cho sự phát triển của đảng và nhà nước ta ( Chính trị học
là khoa học chân thực sẽ cung cấp cho các nhà lãnh đạo những tư chất: Có sáng kiến và khả năng tìm tòi, có năng lực đàm thoại chính trị để lãnh đạo những con người, tổ chức có những tâm lý, tính chất, nhu cầu khác nhau Ngoài ra chính trị học và các khoa học khác cũng cung cấp cho những cán bộ chính trị những tri thức thực tiễn chính trị, khoa học và nghệ thuật chính trị)
Câu 2 Những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV.
Nét độc đáo của lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam là cũng từ thế kỷ Xtrở đi, Nho giáo có nguồn gốc từ Trung Hoa nhưng đã trở thành vũ khí để người Việt Nam chống lại sự xâm lược và đồng hoá, đồng thời nó cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam sử dụng để tổ chức quản lý và xây dựng nhà nước độc lập, vì
sự phát triển của dân tộc
Trải qua năm thế kỷ, từ Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, đã mở nền độc lập cho đến Lê Lợi chiến thắng quân Minh xây dựng triều Lê, chế độ phong kiến Việt Nam đã từng bước phát triển và lên đến đỉnh cao vào thế kỷ XV dưới triều Lê Thánh Tông Sự phát triển đó đã khẳng định và củng cố thành tựu dựng nước và giữ nước của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, tạo lập cơ sở vật chất và tinh thần của quốc gia văn minh, thịnh vượng, là yêu cầu cần thiết cho sự tồn tại của một quốc gia đã trưởng thành
Trải qua năm thế kỷ, lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam đã phát triển mạnh
mẽ trong khuôn khổ của ý thức hệ Nho giáo, đưa chế độ phong kiến Việt Nam phát triển lên đến đỉnh cao của nó Sự phát triển ấy được khẳng định qua những văn kiện
Trang 4quan trọng, trong đó bao gồm các tư tưởng chính trị cơ bản nhất, phản ánh được những giá trị phổ biến nhất trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam với các đại biểu xuất sắc như:Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi,
Lê Thánh Tông
Lý Thái Tổ tên thật là Lý Công Uẩn là vị hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028 Năm
1010, Lý Công Uẩn, vị vua sáng lập triều Lý đã quyết định dời kinh đô từ Hoa Lư
về Thăng Long Gắn liền với sự kiện chính trị trọng đại này là việc ra đời bài Chiếudời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Thái Tổ Là văn kiện chính trị ra đời trong thời bình, định hướng cho công cuộc xây dựng đất nước nhưng xét cho cùng là để giữ nước Thăng Long là nơi "trung tâm mưu toan nghiệp lớn, tỉnh kế muôn đời cho con cháu", "là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời Nhận thức chính trị sâu sắc đó của Lý Công Uẩn
đã góp phần củng cố quốc gia thống nhất, làm cho chính quyền trung ương mạnh
mẽ để quản lý đất nước có hiệu quả, góp phần quyết định xây dựng quốc gia thịnh vượng lâu dài Chiếu dời đô là mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của tư duy chính trị Việt Nam, phản ánh ý chí vươn lên mạnh mẽ của dân tộc, quyết tâm giữ vững nền độc lập và tự chủ của nước nhà
Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị cũng như hoạn quan rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt Năm 1076, tư tưởng chính trị căn bản trên nguyên tắc giữ vững nền độc lập và chủ quyền đất nước, đã được thể hiện một cách sâu sắc trong bài Thơ thần bất hủ mà Lý Thường Kiệt đã sửdụng một cách sáng tạo trong cuộc chiến đấu chống quân Tống trên phòng tuyến sông Như Nguyệt:
Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
Tư tưởng chủ đạo của bài thơ là quyết tâm giữ vững nền tự chủ của dân tộc Bài thơ có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập, đã đem lại niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống xâm lược, vào tiền đồ phát triển lâu dài của đất nước Bài thơ hay nhất của người Việt thời bình minh của nền tự chủ đã gắn
Trang 5liền nền độc lập của đất nước với địa vị chí tôn của ngôi vua: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư" - đó chính là quyền lực tuyệt đối của các vua Đại Việt theo tư tưởng chính trị đế quyền Nho giáo Tư tưởng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia mà ông nêu cao vào cuối thế kỷ XI đã trở thành tài sản tinh thần vô giá, là động lực mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do và xây dựng đất nước giàu mạnh của các thế hệ người Việt Nam.
Trần Hưng Đạo, tên thật là Trần Quốc Tuấn, tước hiệu Hưng Đạo đại vương, là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288
Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - vị tổng chỉ huy quân đội nhà Trần trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông, là anh hùng kiệt xuất của dân tộc Đường lối chính trị cũng như chiến lược và chiến thuật mà ông vạch ra cho cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại thời Trần đã được thực tiễn chứng minh là đúng đắn Tác phẩm của ông hiện chỉ còn lại bài Hịch tướng sĩ
Tư tưởng chính trị độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia của Trần Quốc Tuấn thể hiện rất rõ khi ông nhận thấy rằng, nguyên nhân lớn nhất của chiến thắng
là “vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” Nói “vua tôi đồng tâm”
là nói cả bộ máy nhà nước đều nhất trí, quyết tâm đánh giặc, vua không do dự, quân không hai lòng, binh sĩ và chủ tướng một dạ sống chết có nhau như cha con một nhà, người người đều xăm chữ “sát Thát” trên tay Nói “anh em hỏa thuận” là nói sự đoàn kết nhất trí của tập đoàn cầm quyền, tập đoàn cầm quyền mà chia rẽ lúcgiặc đến thì còn có thể nào chiến thắng được nữa Đó là tư tưởng chính trị toàn dân kháng chiến, chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện
Tư tưởng chính trị bao trùm, chi phối đường lối cứu nước và toàn bộ hoạt động thực tiễn của ông là tư tưởng chính trị "khoan dân" Ở cương vị ông, nhà lãnh đạo vào hàng số một của đất nước lúc bấy giờ, tư tưởng "khoan dân" còn là một đường lối trị nước đúng đắn và sáng suốt
Tư tưởng dựa vào dân được Trần Quốc Tuấn khái quát trong mệnh đề nổi tiếng: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ Trấn nước" Thời bình, cần chuẩn bị để sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh, chớ không thể lơ đễnh Cách chuẩn bị hay nhất là “khoan thư sức dân” là lo liệu cho dân an cư lạc nghiệp, sống no ấm trong thời bình thì trong thời chiến nhà nước mới
Trang 6có thể đứng vững như cây có rễ sâu, dựa vào sức dân để mà tổ chức cuộc chiến tranh cứu nước thắng lợi.
Đường lối chính trị khoan dân của ông được thực hiện làm cho đế chế
Nguyên Mông, đế chế mạnh nhất đương thời thất bại thảm hại Tư tưởng dựa vào dân của ông còn là nền tảng cho việc xây dựng quân đội thường trực và lực lượng
vũ trang nhân dân Thời Trần, ngoài quân đội thường trực ra, ở nước ta lúc đó còn
có những đội dân binh cùng với nhân dân khắp mọi nơi nhất tề đứng dậy chống giặc theo lệnh của triều đình Nhà Trần đã tạo nên thế trận "cử quốc cự địch" nghĩa
là cả nước chống giặc, như lời Phan Huy Chú – nhà sử học nổi tiếng thời Nguyễn sau này đã nhận xét: "Trăm họ đều là quân lính nên mới phá được giặc to, làm mạnh được thế nước"
Nguyễn Trãi, hiệu là Ức Trai, là một nhà chính trị, nhà văn, người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của nhà Minh với Đại Việt Khi cuộc khởi nghĩa thành công vào năm 1428, NguyễnTrãi trở thành khai quốc công thần của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong Lịch sửViệt Nam
Tác phẩm của Nguyễn Trãi gồm có: Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí, Toàn bộ sự nghiệp, cuộc đời và tác phẩm của ông đều thấm nhuần tư tưởng chính trị nhân nghĩa, Tư tưởng chính trịnhân nghĩa của Nguyễn Trãi - đỉnh cao của tư tưởng dân tộc thế kỷ XV - phản ánh
sự trưởng thành về tư duy lý luận Việt Nam trước yêu cầu bức xúc của sự phát triểnđất nước và những vấn đề lịch sử đặt ra cho dân tộc ta vào thế kỷ XV
Chính vì vậy tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi mang tính khái quát và cómột ý nghĩa xã hội rộng lớn Từ quan điểm chính trị đến đạo đức, lối sống cũng như bổn phận, tinh thần trách nhiệm của con người trong gia đình và đối với xã hội.Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vượt lên trên những quan niệm về đạo nhân, nghĩa của Nho giáo thuần phong kiến, đạt tới những giá trị văn hoá có tính phổ biến của nhân loại, có ý nghĩa phương pháp luận cho suy nghĩ và hành động của nhiều thế
hệ người Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của mình,
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bìnhhữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội
Nguyễn Trãi gắn nhân nghĩa với "an dân", "việc nhân nghĩa cốt ở an dân" (Bình Ngô đại cáo) Theo ông, nhân nghĩa là chăm lo cho dân, đòi hỏi người làm
Trang 7quan ăn lộc vua phải có trách nhiệm với dân, phải gắn bó làm một với nhân dân, thương yêu dân, biết "lo trước vui sau" để cho những nơi "thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu".
Tưởng chính trị nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn định hướng cho việc xây dựng một bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, không dung hoà với tệ tham quan, lại nhũng Người làm quan "coi quân trị dân đều phải theo phép công bằng",
"đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng", "coi công việc quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo lắng của dân sinh làm điều lo thiết kỷ" Nhân nghĩa còn là tiêu chuẩn để Nguyễn Trãi lựa chọn cho thái độ của mình đối với vua
Vì vậy, tư tưởng nhân nghĩa gắn được một cách chặt chẽ với sự nghiệp cứu nước, cứu dân Nhờ dựa vào sức mạnh của dân để lo cho nước, lo cho nước là vì lợiích của dân, do đó, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi có sức mạnh to lớn, có sức sống lâu dài và luôn mang ý nghĩa thời sự trong đời sống chính trị của dân tộc
cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai
Lê Thánh Tông là hoàng đế thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam Ông trị vì từ ngày 26 tháng 6 năm 1460 đến khi qua đời năm 1497, tổng cộng 37 năm, là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Hậu Lê – giai đoạn Lê sơ trong lịch
sử Việt Nam
Lê Thánh Tông là một nhà lãnh đạo xuất sắc trên nhiều mặt, ông để lại một
di sản thơ văn phong phú, đồ sộ thể hiện một tri thức Nho học uyên bác và hiểu biếtsâu rộng Nhưng trước hết, ông là nhà lãnh đạo chính trị, nhà tư tưởng, là ông vua
"sáng lập chế độ" và "sùng Nho trọng đạo"
Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông là sự kết hợp giữa đức trị, lễ trị của Nho giáo với tư tưởng pháp trị của phái pháp gia trên lập trường yêu nước và một tinh thần dân tộc sâu sắc Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông được cụ thể hoá trên nhiều lĩnh vực cùng với với việc thi hành nhiều chính sách, biện pháp cụ thể, trong đó có những chính sách mang ý nghĩa của những cuộc cải cách nhằm mục tiêu củng cố chế độ quân chủ tập quyền, giữ vững nền độc lập dân tộc, tăng cường nền quốc phòng và thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước
Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông thể hiện rõ nét và đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hoá giáo dục, tổ chức quản lý nhà nước, luật pháp, quốc phòng, ngoại giao Trong đó, nhiều vấn đề cần được tiếp tục suy nghĩ không
Trang 8chỉ đối với người xưa mà còn đối với chúng ta hiện nay trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước.
Câu 3.Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về chính trị Ý nghĩa thực tiễn của các luận điểm đó trong thời đại ngày nay
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chính trị được thể hiện trong các tác phẩm chính luận, điển hình của C Mác, Ph Ăngghen và V.I Lênin Có thể kháiquát tư tưởng chính trị Mác – Lênin về chính trị theo các phương diện sau:
1 Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, đấu tranh giai cấp (mà đỉnh cao của cuộc đấu tranh ấy là đấu tranh nhằm giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước cho một giai cấp nhất định); là việc giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp và giải tầng xã hội trong việc phân bổ các lợi ích (đặc biệt là lợi ích kinh tế)
Quyền lực chính trị tất yếu luôn thuộc về giai cấp tầng lớp xã hội đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, cho xu hướng tiến bộ của xã hội, cho lợi ích củaquảng đại quần chúng nhân dân Cuộc đấu tranh giành quyền thống trị tất yếu phải giành lấy chính quyền, (giành lấy quyền lực nhà nước): “Giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị, thì giai cấp ấy trước hết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình có thể biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến, điều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiện trong bước đầu”
Lênin đã khẳng định: “Chính trị là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, chính trị
là thái độ của giai cấp vô sản đang đấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp tư sản toàn thế giới”, “chủ nghĩa Mác thừa nhận rằng, chỉ khi nào đấu tranh giai cấp không những bao trùm lĩnh vực chính trị mà còn nắm lấy cái căn bản nhất trong chính trị, tức là việc tổ chức chính quyền nhà nước thì khi đó nó mới là một cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đầy đủ
Trang 92 Chính trị là sự tham gia vào các công việc nhà
nước; là việc vạch hướng đi cho nhà nước; việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề trung tâm, then chốt, trực tiếp nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực nhà nước Nó là công cụ cơ bản nhất để giải quyết các quan hệ kinh tế, các quan hệ giai cấp, theo hướng có lợi cho lực lượng nắm quyền: “Nhà nước, tức là giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp thống trị', “nhà nước là một tổ chức quyền lực đặc biệt, nó là tổ chức bạo lực dùng để trấn áp một giai cấp nào đó
Chính trị trong xã hội đương đại (xã hội dân chủ) không chỉ là quan, hệ giữa các giai cấp; mà còn là quan hệ giữa các cộng đồng (các nhóm lợi ích, các lực lượng xã hội, các công dân) với nhà nước: Chính trị trong ý nghĩa đó là quá trình đấu tranh để xác lập các thể chế, thiết chế quyền lực nhà nước hợp lý, có hiệu quả
vì sự ổn định và phát triển xã hội; là hoạt động của các chính đảng, các tổ chức đại diện nhóm lợi ích xã hội trong việc giành, chia sẻ (gây áp lực) và thực thi quyền lựcnhà nước vì lợi ích khách quan của các lực lượng chính trị, của các cộng đồng côngdân
Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổimới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn phải có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Để thực hiện tốt mục tiêu nói trên, một trong những giải pháp cần phải thực hiện là cần nâng cao văn hoá dân chủ, văn hoá chính trị trong Đảng và trong quần chúng, như Lênin từng căn dặn Văn hoá chính trị thể hiện trong văn hoá lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước; trong quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
3 Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế và trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định” thì chính trị không thể “không giữ vị trí hàng đầu” so với kinh tế.
Trang 10Trong mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, khi quan niệm
“chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế ", chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại, tức là muốn nói đến tính quyết định của kinh tế đối với chính trị: Chính trị là cái phản ánh kinh tế – chính trị là một trong những hình thức biểu - hiện của kinh tếnhưng đó là hình thức biểu hiện tập trung nhất và cô đọng nhất
Cũng trong mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị; khi quan niệm:
“Chính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế", tức là muốn đề cập đến tính “độc lập tương đối của chính trị đối với kinh tế và sự cần thiết “ưu tiên” chính trị so với kinh tế trong những điều kiện nhất định nào đó
Tính “độc lập tương đối"của chính trị thể hiện ở chỗ, tuy kinh tế quyết định chính trị nhưng chính trị cũng tác động trở lại kinh tế
nếu chính trị đáp ứng các yêu cầu kinh tế khá quan, tác động cùng chiều và đồng thuận với sự phát triển kinh tế, khi đó sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh hơn
Nếu chính trị không bao hàm trong đó thực trạng, yêu cầu và tính quy định
về sự vận động khách quan của kinh tế, hoặc với tư duy chính trị giáo điều, duy ý chí, phản động, lỗi thời, thì nó sẽ trở thành lực lượng kìm hãm sự phát triển kinh tế
Sự cần thiết “ưu tiên chính trị so với kinh tế trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định nào đó là muốn nhấn mạnh tính nghệ thuật, sáng tạo, linh hoạt của chính trị Nghĩa là trong những trường hợp đặc biệt và trong những hoàn cảnh, điềukiện lịch sử cụ thể, Nhiều khi phải biết hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để đạt mục tiêu chính trị căn bản lâu dài, tất nhiên mục tiêu chính trị đó phải phản ánh chính quy định khách quan của kinh tế mà xét đến cùng, đạt mục tiêu chính trị căn bản lâu dài là cũng vì lợi ích kinh tế căn bản và lâu dài hơn
4 Chính trị là lĩnh vực quan hệ giữa người với người,
là vận mệnh thực tế của hàng triệu con người, là việc giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp người trong xã hội thông qua chức và hoạt động của nhà nước.
Lênin cho rằng, “quần chúng có hàng triệu, mà chính trị thì bắt đầu ở nơi có hàng triệu người; không phải ở nơi có hàng nghìn người, mà ở đâu có hàng triệu người thì ở đó mới có một chính trị nghiêm túc” Thực chất của chính trị là quan hệ
Trang 11lợi ích, nhất là lợi ích về kinh tế, giữa các tập đoàn lớn trong xã hội, tức là giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Chính trị, nếu không xuất phát và không hướng vào giải quyết các mối quan hệ nàycủa các giai cấp, tầng lớp xã hội thì không thể nắm bắt được thực trạng, xu thế vận động, phát triển của quyền lực chính trị trong xã hội, nhất là quyền lực nhà nước.
Từ thực tiễn phong phú của cách mạng, một trong những bài học kinh
nghiệm Đảng ta đã rút ra trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng ở nước ta là: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên”
5 Chính trị là một khoa học, là một nghệ thuật và là văn hóa trong tư tưởng, quan hệ, hoạt động và ứng xử chính trị.
Tính khoa học của chính trị thể hiện ở tính logic khách quan của nó “Chính trị có tính logic nội tại của nó” – logic này được hình thành và bị quy định bởi quan
hệ xã hội giữa các tập đoàn lớn trong xã hội Bởi sự vận động, phát triển khách quan của các quan hệ kinh tế, bởi vận mệnh của hàng triệu con người Các quyết sách chính trị của các chủ thể lãnh đạo, quản lý phải đảm bảo sự phù hợp giữa mục tiêu chính trị với quy luật, xu hướng vận động, phát triển của xã hội loài người và lợi ích của giai cấp, của quảng đại quần chúng nhân dân
Tính nghệ thuật của chính trị thể hiện ở chỗ “chính trị giống với đại số hơn là
số học, giống toán cao cấp hơn toán là toán sơ cấp” Sự vận động của đời sống chính trị là sự tác động qua lại của nhiều mối quan hệ phức tạp và tồn tại nhiều khả năng (khách quan) Tính nghệ thuật của chính trị thể hiện ở chỗ vai trò của nhân tố chủ quan trong việc lựa chọn khả năng tối ưu và tạo lập cơ chế để hiện thực hoá khả năng đã được lựa chọn, đó là việc kiên định mục tiêu lý tưởng chính trị, nhưng mềm dẻo và linh hoạt về sách lược, phương pháp cho phù hợp với hoàn cảnh lịch
sử cụ thể, với điều kiện cụ thể, con người cụ thể Chính sách kinh tế mới của Lênin,chiến lược, sách lược tranh thủ đồng minh với phương châm “thêm bạn, bớt thù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây, là những biểu hiện sinh động về tính nghệ thuật của chính trị
Trang 12Ý nghĩa thực tiễn của các luận điểm đó trong thời đại ngày nay
Từ những quan điểm trên, có thể rút ra được những ý nghĩa thực tiễn với nước ta hiện nay như:
Quan điểm của Lênin về chính trị là một bộ phận hợp thành không thể thiếu trong học thuyết Lênin về Đảng, về chủ nghĩa xã hội Đường lối, quan điểm chính trị đúng đắn hay sai lầm của Đảng Cộng sản sẽ quyết định thành công hoặc có thể làm biến dạng chủ nghĩa xã hội Công cuộc đổi mới, cải cách đang diễn ra hết sức khó khăn, phức tạp ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng, việc kế thừa và phát triển tư tưởng lý luận của Lênin trong đó có những quan niệm của Người về chính trị trong điều kiện hiện thực lịch sử hiện nay là vấn
đề cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn và luôn gắn với thực tiễn, học thuyết Mác là học thuyết mở, mang tính lịch sử - cụ thể, luôn đòi hỏi phải sáng tạo và đổi mới trong vận dụng
Trong CNXH, quyền lực nhà nước nếu không hướng vào nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, nếu không nhằm vào các mục tiêu dân chủ và CNXH sẽ đe dọa chế độ chính trị XHCN Phương hướng chính trị đúng đắn của CNXH là đảm bảo cho nhà nước thực sự là thiết chế dân chủ XHCN chứ không phải là dân chủ tưsản Đây là nguyên tắc sống còn của chế độ XHCN
Câu 4.Nội dung chủ yếu trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh.
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là một hệ thống phong phú, đa dạng, hợp thành một chỉnh thể về lý luận và phương pháp cách mạng, về nhận thức và hành động chính trị để giải phóng dân tộc, phát triển con người và xã hội, về phương hướng, quan điểm, bước đi trong việc xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam
1 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trang 13Về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội: Độc lập dân tộc là mục tiêu; là điều kiện tiên quyết, là cơ sở, tiền đề chính trị để tiến lên chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lý tưởng, là điều kiện đảm bảo đầy đủ thực để xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là nhân tố đảm bảo độc lập dân tộc bền vững Năm 1930, là người chỉ đạo việc soạn thảo Chính cương, Sách lược vắn tắt, Người đã xác định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (tức cách mạng dân tộc dân chủ để đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa).
Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc Xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau” và khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử
Xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp,
có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới
2 Về Đảng cầm quyền.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ rằng: khả năng, vai trò cách mạng của quần chúng chỉ có thể được phát huy khi được tổ chức, tập hợp và dẫn dắt bởi một đường lối đúng đắn có “Đảng Cách mệnh” lãnh đạo, để “trong thì vận động tổ chứcdân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi" nhằm biến sức mạnh tiềm ẩn của quần chúng thành lực lượng cách mạng to lớn và
“Đảng có vững, cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững, thuyền mới chạy”
Trang 14Trên cơ sở vận dụng một cách sáng tạo về mối quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thủ, Hồ Chí Minh đã khái quát về quy luật của việc ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam là: Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Đặc điểm này thể hiện
sự vững vàng trong việc trung thành với những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về Đảng Cộng sản và sự linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo khi giải quyết mối quan hệ giai cấp – dân tộc, dân tộc – quốc tế
Đảng phải thường xuyên chăm lo, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, phải thường xuyên chăm lo việc chỉnh đốn và đổi mới Đảng “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân”, “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái
đó, vì đâu có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế mới là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắcchắn, chân chính
3 Về Nhà nước và Nhà nước của dân, do dân, vì dân.Nhà nước của nhân dân
Đó là một nhà nước thể hiện đầy đủ tư tưởng “bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra Nói tóm lại, quyền hành lực lượng đều ở nơi dân”
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là do dân
ủy quyền, nhà nước là thiết chế để bảo đảm thực thi quyền làm chủ của nhân dân Nhân dân uỷ quyền cho các đại diện do mình bầu ra thông qua chế độ bầu cử dân chủ: “Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra” và nhân dân cũng “có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
Nhà nước do nhân dân
Đó là nhà nước do nhân dân, nhân dân là lực lượng trong việc xây dựng và bảo vệ nhà nước, nhà nước do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu đại diện cho quyền lực của mình, nhà nước đó nhân dân ủng hộ, giúp đỡ, xây dựng, phê bình: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”, “sự nghiệp kháng
Trang 15chiến, kiến quốc là công việc của dân”, “không có nhân dân thì Chính phủ không
đủ lực lượng” Nhà nước có nhiệm vụ tổ chức, sắp đặt kế hoạch để mỗi công dân phát huy tốt nhất quyền và nghĩa vụ của mình; nhà nước phải tạo ra hành lang pháp
lý và môi trường tự do để phát huy tính tích cực chính trị của mỗi công dân trong quan hệ với nhà nước: “Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn
đường" Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, cán
bộ, đảng viên phải dựa vào nhân dân, đi sâu, đi sát nhân dân, lắng nghe ý kiến và học hỏi nhân dân và chịu sự kiểm soát của nhân dân
Nhà nước vì nhân dân
Nhà nước vì dân thể hiện ở chỗ đó là nhà nước luôn đặt lên hàng đầu nhiệm
vụ phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân với tinh thần: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân và mỗi cán bộ đảng viên trong bộ máy nhà nước là người “đầy tớ trung thành”, “công bộc” của nhân dân, phải luôn “yêu dân, kính dân”, “phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân”, “việc gì có lợi cho dân phải hếtsức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”
Nhà nước đó phải đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; phải đấu tranh không khoan nhượng với “giặc nội xâm”, tham
ô, lãng phí, quan liêu: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, là bạn đồng minh củathực dân phong kiến Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”
4.Về đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng
Đoàn kết là lẽ sinh tồn của dân tộc; là nhu cầu khách quan, là động lực, là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Phát huy vai trò sức mạnh của quần chúng nhân dân và của khối đại đoàn kết
là nguồn gốc thắng lợi của cách mạng: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, là then chốt của thành công”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Khái niệm Nhân dân, Dân được nhắc đến trong quan niệm của Người là
“mọi con dân đất Việt”, không phân biệt dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, không
Trang 16phân biệt “già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, quý tiện”, không phân biệt người tín
ngưỡng với người không tín ngưỡng, mà: “Bất kỳ ai tán thành hòa bình, thống nhất,độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng tacũng thật thà đoàn kết với họ” Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa sốnhân dân “đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác
Đoàn kết không chỉ dừng lại ở quan niệm, tư tưởng, lời kêu gọi, mà phải biếnthành lực lượng vật chất có tổ chức
Cách mạng muốn thành công không chỉ có đường lối đúng, mà phải cụ thể hoá đường lối đó thành những mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp cách mạng phù hợp để lôi kéo, tập hợp quần chúng trong một tổ chức để tạo thực lực cho cách mạng Tổ chức thể hiện khối đoàn kết dân tộc chính là Mặt trận Dân tộc Thống nhất
Một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng ta tổng kết trong Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng ta là: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công" Trong công cuộc đổi mới hiện nay cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới
Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành yến phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội Đại đoàn kết toàn dân tộcphải dựa trên cơ sở giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc