1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương Môn Hiến pháp và luật học

72 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Môn Hiến Pháp Và Luật Học
Chuyên ngành Hiến Pháp Và Luật Học
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 85,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi bắt đầu hành trình đến với đại học, chúng ta đều thường gặp phải một thách thức lớn đó là tài liệu học tập. Những cuốn sách, bài giảng và các tài liệu khác là những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đạt được kết quả tốt trong học tập. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm những tài liệu thích hợp và đầy đủ. Tôi hiểu rõ những khó khăn này và chính vì vậy, tôi muốn giúp các bạn bằng cách cung cấp tài liệu học tập chất lượng nhất với giá cả phải chăng. Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc tìm kiếm tài liệu học tập và cung cấp chúng cho sinh viên, tôi cam đoan sẽ không làm bạn thất vọng. Sự khác biệt của tài liệu học tập là độ đầy đủ của nó. Tại sao phải lật qua nhiều cuốn sách để tìm kiếm những thông tin cần thiết? Tài liệu học tập của tôi được sơ đồ hoá chi tiết, giúp bạn tiết kiệm thời gian và tập trung vào học tập. Không chỉ đó, tài liệu học tập của tôi còn được cập nhật thường xuyên để đảm bảo bạn nhận được những thông tin mới nhất và chính xác nhất. Và đặc biệt, tài liệu học tập của tôi có mức giá vô cùng hấp dẫn. Tôi hiểu rằng sinh viên chúng ta không có nhiều tiền để chi tiêu, vì vậy tôi cam kết sẽ mang đến cho các bạn mức giá phù hợp nhất. Bạn sẽ được sở hữu tài liệu học tập chất lượng với giá cả phải chăng. Từ bây giờ, hãy quên đi những phiền toái khi tìm kiếm tài liệu học tập và tin tưởng vào tài liệu của tôi. Chúng tôi đảm bảo rằng bạn sẽ không chỉ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc, mà còn đạt được kết quả tốt trong học tập.

Trang 1

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HIẾN PHÁP VÀ LUẬT TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC

HIẾN PHÁPĐiều 1/ phân tích nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của hiến pháp.

Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” ngày 2/9/1945, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định việc xây dựng một bản hiến pháp dân chủ là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” Ngày

20/9/1945, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh thành lập Ban dự thảo hiến pháp gồm

7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo với những nội dung mơ ước bao đời của bản thân về độc lập, tự do Ngày

2/3/1946, trên cơ sở Ban dự thảo hiến pháp của Chính phủ, Quốc hội khóa I đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, đại diện cho nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Ban dự thảo có nhiệm

vụ tổng kết các ý kiến tham gia đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét, thông qua Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống

Điều 2/ tại sao nói hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước ? Phân tích những đặc trưng cơ bản của các quan hệ xã hội do hiến pháp điều chỉnh?

Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của nhà nước, do quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, xác định những vấn đề cơ bản, quan trọng nhấtcủa nhà nước và xã hội, thể hiện tập trong ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đo Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo, Hiến Pháp vừa là bản tổngkết thành quả của cách mạng, vừa đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn kế tiếp

Quan Hệ Xã Hội Luật Hiến Pháp: Trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn

hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, chỉnh sách đổi ngoại'

Trong lĩnh vực chính trị, ngành LUẬT HIẾN PHÁP điều chỉnh các mối quan hệ

nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất liên quan tới quốc gia, lãnh thổ, quyền lực nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, ví dụ: vấn đề chủ quyền quốc gia, quyền dân tộc cơ bản, bản chất của nhà nước, nguồn gốc của quyền

Trang 2

lực nhà nước, hệ thống chính trị V.V Khi điều chỉnh các quan hệ xã hội nền tảng của lĩnh vực chính trị, ngành LUẬT HIẾN PHÁP đồng thời thiết lập nền

tảng của chế độ chính trị Trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa

học, công nghệ, an ninh, quốc phòng và chính sách đối ngoại, những quan hệ xãhội nền tảng mà ngành LUẬT HIẾN PHÁP điều chỉnh là những quan hệ xã hội liên quan tới định hướng phát triển lớn của từng lĩnh vực, ví dụ mô hình phát triển kinh tế, định hướng giá trị phát triển nền văn hoá, khoa học, công nghệ V.V Qua việc điều chỉnh các quan hệ xã hội đó, ngành LUẬT HIẾN PHÁP hình thành các chính sách cơ bản nhất, quan trọng nhất định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước trong từng lĩnh vực

Điều 3/ trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của hiến pháp việt nam năm 2013?

Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp 2013:

Ngày 6/8/2011, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 06/2011/QH13 thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gồm 30 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch Ủy ban Sau thời gian 9 tháng (từ tháng 1 đến tháng 9/2013) triển khai lấy ý kiến góp ý của nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp năm 2013 Ngày 8/12/2013, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Hiến pháp Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực

từ ngày 1/1/2014 Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của nước ta thời kỳ mới, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới của lịch sử lập hiến Việt Nam

Nội dung của Hiến pháp 2013:

Hiến pháp năm 2013 gồm Lời nói đầu, 11 chương, 120 điều

Chương I: Chế độ chính trị, gồm 13 điều (từ Điều 1 đến Điều 13)

Chương II: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, gồm 36 điều (từ điều 14 đến điều 49)

Chương III: Kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và mội trường, gồm 19 điều (từ điều 50 đến điều 68)

Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc, gồm 5 điều (từ điều 64 đến điều 68)

Chương V: Quốc hội, gồm 17 điều (từ điều 69 đến điều 85)

Chương VI: Chủ tịch nước, gồm 8 điều (từ điều 86 đến điều 93)

Chương VII: Chính phủ, gồm 8 điều (từ điều 94 đến điều 101)

Chương VIII: Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, gồm 8 điều (từ điều

102 đến điều 109)

Chương IX: Chính quyền địa phương, gồm 7 điều (từ điều 110 đến điều 116)

Trang 3

Chương X: Hội đồng bầu cử Quốc gia, Kiểm toán nhà nước, gồm 2 điều (từ điều 117 đến điều 118),

Chương XI: Hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp, gồm 2 điều (từ điều 119 đến điều 120)

Điều 4/ trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của hiến pháp việt nam năm 1946?

1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1946

Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” lịch sử ngày 02/9/1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ; một trong những nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng hiến pháp, về vấn đề hiến pháp, Người viết: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiểnpháp dân chủ”'

Ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời ban hành sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo được công bố cho toàn dânthảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo Hiến pháp chứa đựng mơ ước bao đời của họ về độc lập và tự do.Ngày 02/3/1946, trên cơ sở Bản dự thảo Hiến pháp của Chính phủ, Quốc hội (khoá I, kì họp thứ nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến đóng góp của nhân dân và xâydựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét và thông qua

Ngày 28/10/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kì họp thứ hai của Quốc hội khoá I đãkhai mạc Ngày 09/11/1946, sau hơn 10 ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội

đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Do hoàn cảnh chiến tranh mà Hiến pháp năm 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chức tổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện thực hiện Tuy nhiên, Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban thường vụ Quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 1946 để điều hành mọi hoạt động của Nhà nước

2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1946

Hiến pháp năm 1946 bao gồm lời nói đầu, 7 chương và 70 điều

Lời nói đầu xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ

Trang 4

Lời nói đầu còn xác định ba nguyên tắc cơ bản của hiến pháp Đó là những nguyên tắc sau đây:

- Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo;

- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ;

- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân

Toàn bộ 7 chương của Hiến pháp đều được xây dựng dựa trên ba nguyên tắc cơ bản trên Chính ba nguyên tắc này đã thể hiện ba đặc điểm cơ bản của Hiến pháp năm 1946

Xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết toàn dân, Điều 1 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộnghoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dần Việt Nam, không phân biệt nòi giong, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước Việt Nam Lần đầu tiên ở nước ta cũng như ở Đông Nam Á, một Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hình thức chính thể là hình thức cộng hoà Đó là bước ngoặt lớn trong sự phát triển của tư tưởng dân chủ Quy định trên đây cũng đề cao tính dân tộc của Nhà nước

Tuân thủ nguyên tắc “đảm bảo các quyền tự do dân chủ”, Hiến pháp năm 1946 rất chú trọng đến chế định công dân Điều đó thể hiện ở chỗ Hiến pháp có 7 chương thì Chương II dành cho chế định công dân Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt Nam được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ Điều 10 Hiến pháp quy định: “Cémg dãn Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuấtbản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước

và ra nước ngoài” Phải nói rằng Hiến pháp năm 1946 là một bản hiến pháp dân chủ rộng rãi Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân được pháp luật ghi nhận (Điều 6 và Điều 7 Hiến pháp năm 1946) Và cũng lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, phụ nữ được ngang quyền với nam giới trong mọi phương diện Với bản hiến pháp đầu tiên của nước ta, công dân Việt Nam được hưởng quyền bầu cử, nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình bầu ra khi họ không tỏ ra xứng đáng với danh hiệu đó.Dựa trên nguyên tắc thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân,hình thức nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 có nhiều nét độc đáo đáng chú ý Theo quy định của Hiến pháp, Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ Mặt khác, Chủ tịch nước có quyền phủ quyết Quyền đó thể hiện ở Điều 31 và Điều 54 Hiến pháp năm 1946 Điều 31 Hiến pháp năm 1946 quy định: “.Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủtịch nước Việt Nam phải ban bổ chậm nhất là 10 hôm sau khi nhận được thông tri Nhưng trong hạn ẩy, Chủ tịch cỏ quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại Những luật đem ra thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộcChủ tịch phải ban bố” Còn ở Điều 54 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Trong hạn 24 giờ sau khỉ Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước Việt Nam có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại” Như vậy, hình thức chính thể của Nhà nước ta theo Hiến pháp năm 1946 phần nào

Trang 5

giống hình thức cộng hoà tổng thong Nhưng Chủ tịch của nước ta theo Hiến pháp năm 1946 không phải do cử tri trực tiếp bầu ra mà do Nghị viện nhân dân bàu ra Mặt khác, Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết Thủ tướng chọn Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết Chính phủ chịu sự kiểm soát của Nghị viện Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức Những quy định trên cho thấy hình thức chính thể của Nhà nước ta theo Hiến pháp năm 1946 là hình thứckết hợp giữa cộng hoà tổng thống và cộng hoà nghị viện Những nét độc đáo của nó còn thể hiện ở chỗ nó không hề giống hoàn toàn hình thức chính thể của những nước cùng có hình thức pha trộn như Pháp, Phần Lan, Bồ Đào Nha Qua những nét phân tích trên chúng ta thấy rằng Hiến pháp đầu tiên của nước ta

- Hiến pháp năm 1946 là một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kì một bản hiến pháp nào trên thế giới

Về kĩ thuật lập pháp, Hiến pháp năm 1946 là một bản Hiến pháp cô đọng, khúc chiết, mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người Nó là một bản Hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện

Hiến pháp Việt Nam năm 1946 là đạo luật gốc, cơ bản được Quốc hội nước ViệtNam dân chủ cộng hoà khoá I, kì họp thứ 2 thông qua ngày 09.11.1946, gồm 7 chương, 70 điều

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, ra đời khi nhân dân Việt Nam đã đánh đổ được xiểng xích thực dân, làm chủ nước nhà, lập nên nước ViệtNam dân chủ cộng hoà, trong khi các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang

ra sức phá hoại, rắp tâm thủ tiêu chính quyền nhân dân

Điều 5/ Trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của Hiến pháp VN năm 1959?

1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1959

Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, thực dân Pháp lại gây rachiến tranh để xâm lược nước ta một lần nữa Nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến trường kì và gian khổ Với chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng nhưng đất nước còn tạm thời chia làm hai miền Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.Trong 3 năm (1955 - 1957), ở miền Bắc chúng ta đã hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế Năm 1958, chúng ta bắt đầu thực hiện kế hoạch kinh tế

3 năm nhằm phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội về kinh tế và văn hoá, chúng ta đã có những tiến bộ lớn Đi đôi với những thắng lợi

đó, quan hệ giai cấp trong xã hội miền Bắc đã thay đổi Giai cấp địa chủ phong kiến đã bị đánh đổ Liên minh giai cấp công nhân và nông dân ngày càng được củng cố và vững mạnh

Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh của nó nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi Vì vậy, trong kì họp

Trang 6

lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi Sau khi làm xong Bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958, Bản dự thảo được đưa ra thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan Quân, Dân, Chính, Đảng Sau đợt thảo luận này, Bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 01/4/1959, Dự thảo được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng Cuộc thảo luận này kéo dài trong 4 tháng với sự tham gia sôi nổi, tích cựccủa các tầng lớp nhân dân lao động Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh công bố Hiến pháp.

2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1959

Hiến pháp năm 1959 gồm có lời nói đầu và 112 điều, chia làm 10 chương

Lời nói đầu khẳng định nước Việt Nam là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến

Cà Mau, khẳng định những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam Lời nóiđầu ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), đồng thời xác định bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo

Chương I - Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, gồm 8 điều,

Chương II - Chế độ kinh tế và xã hội, gồm 13 điều quy định những vẩn đề liên quan đến nền tảng kinh tế - xã hội của Nhà nước:

Chương III - Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm 21 điều (từ Điều 22 đến Điều 42) Theo Hiến pháp, công dân Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:

Chương IV - Quốc hội, bao gồm 18 điều, quy định các van đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Chương V - Chủ tịch nước Vỉệt Nam dân chủ cộng hoà, bao gồm 10 điều (từ Điều 61 đến Điều 70)

Chương VI - Hội đồng Chính phủ, bao gồm 7 điều (từ Điều 71 đến Điều 77).Chương VII - Hội đồng nhân dãn và uỷ ban hành chính địa phương các cẩp, baogồm 14 điều (từ Điều 78 đến Điều 91)

Chương VIII - Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân, gồm 15 điều (từ Điều 97 đến Điều 111)

Chương IX quy định về Quốc kì, Quốc huy và Thủ đô

Chương X quy định về sửa đổi Hiến pháp

Theo quy định của Hiến pháp, chỉ có Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp với điều kiện phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành

Tóm lại, Hiến pháp năm 1959 là bản Hiến pháp được xây dựng theo mô hình hiến pháp Xã hội chủ nghĩa Nó là bản Hiến pháp Xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta

Trang 7

Điều 6/ Trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của Hiến pháp VN năm 1980?

1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1980

Trước tình hình đó, tháng 9/1975, Hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu lúc này là phải hoàn thành việc thong nhất nước nhà Nghị quyết của Hội nghị đã nhấn mạnh: “Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam ” Hội nghị lần thứ 24 của Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định triệu tập Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc Hội nghị đã nhất trí quyết định tổ chức tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung cho cả nước Cuộc tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín đã diễn ra ngày-25/4/1976 với sự tham gia của hơn 23 triệu cử tri, chiếm gần 99% tổng số cử tri.Tổng số đại biểu Quốc hội đã bầu là 492, trong đó 249 đại biểu miền Bắc và

243 đại biểu miền Nam.1 Tổng số đại biểu Quốc hội được tính theo tỷ lệ: 1 đại biểu/1.000 cử tri

Quốc hội chung của cả nước đã bắt đầu kì họp đầu tiên vào ngày 25/6/1976 và kéo dài đến ngày 03/7/1976 Ngày 02/7/1976, Quốc hội đã thông qua các nghị quyết quan trọng Quốc hội đã quyết định trong khi chưa có Hiến pháp mới, tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta dựa trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đồng thời Quốc hội khoá VI đã ban hành Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Ủy ban Thường

vụ Quốc hội làm Chủ tịch Sau một năm rưỡi làm việc khẩn trương, Uỷ ban đã hoàn thành Dự thảo Bản Dự thảo được đưa ra cho toàn dân thảo luận Tháng 9/1980, Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp kì đặc biệt

để xem xét và cho ý kiến bổ sung, sửa chữa Dự thảo trước khi trình Quốc hội thảo luận, thông qua Sau một thời gian thảo luận, tại kì họp thứ 7, Quốc hội khoá VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp

2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1980

Hiến pháp năm 1980 bao gồm lời nói đầu, 147 điều chia làm 12 chương

Lời nói đầu của Hiến pháp khẳng định truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, ghi nhận những thắng lợi vĩ đại mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong Cách mạng tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ xâm lược và bè lũ tay sai Lời nói đầu còn xác định những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra và nêu lên những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp năm 1980 đề cập

Trang 8

CHƯƠNG I: NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CHẾ

ĐỘ CHÍNH TRỊ

CHƯƠNG II: CHẾ ĐỘ KINH TẾ

CHƯƠNG III: VĂN HOÁ, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, KỸ THUẬT

CHƯƠNG IV: BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

CHƯƠNG V: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

CHƯƠNG VI: QUỐC HỘI

CHƯƠNG VII: HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC

CHƯƠNG VIII: HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

CHƯƠNG IX: HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ UỶ BAN NHÂN DÂN

CHƯƠNG X: TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂNCHƯƠNG XI: QUỐC KỲ, QUỐC HUY, QUỐC CA, THỦ ĐÔ

CHƯƠNG XII: HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 7/ Trình bày hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của Hiến pháp VN năm 1992 và Hiến pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 năm 2001?

1 Hoàn cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1992

Sau một thời gian phát huy hiệu lực, nhiều quy định của Hiến pháp năm 1980 tỏ

ra không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước Tình hình thực tiễncủa đất nước đòi hỏi phải có một bản hiến pháp mới, phù hợp hơn để thúc đẩy

sự tiến bộ của xã hội, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra thời kì đổi mới ở nước

ta Đảng đã chủ trương nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện những sai lầm của Đảng, của Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy tư duy độc lập, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân lao động, trên cơ sở đó để có những nhận thức mới, đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và vạch ra những chủ trương, chính sách mới nhằm xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng và văn minh Với tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, Quốc hội khoá 8, tại kì họp thứ 3 ngày 22/12/1988 đã ban hành Nghị quyết sửa đổi lời nóiđầu của Hiến pháp năm 1980 Ngày 30/6/1989, kì họp thứ V Quốc hội khoá 8 tiếp tục ban hành Nghị quyết sửa đổi 7 điều: 57, 115, 116, 118, 122, 123, 125 đểxác định thêm quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân của công dân và thành lập thêm thường trực Hội đồng nhân dân trong cơ cấu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, đồng thời củng cố thêm các mặt hoạt động của Hội đồng nhân dân

và ủy ban nhân dân Trong kì họp này Quốc hội đã ban hành Nghị quyết thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp để sửa đổi Hiến pháp một cách cơ bản, toàn diện đáp ứng ỳêu câu của tình hình kinh tế, xã hội mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp được thành lập bao gồm 28 người, do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch, ưỷ ban sửa đổi Hiến pháp

Trang 9

đã họp nhiều phiên để chỉnh lý, bổ sung và thông qua toàn văn dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Cuối năm 1991 đầu năm 1992, Bản dự thảo Hiến pháp lần ba đã được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân Trên cơ sở tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân

và ý kiến của Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng, Dự thảo Hiến pháplần 4 đã hoàn thành và được trình lên Quốc hội khoá VIII, tại kì họp thứ XI xemxét Sau nhiều ngày thảo luận sôi nổi với những chỉnh lý và bổ sung nhất định, ngày 15/4/1992, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp Việc soạn thảo và ban hành Hiến pháp năm 1992 là một quá trình thảo luận dân chủ và chắt lọc một cách nghiêm túc những ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân về tất

cả các vấn đề từ quan điểm chung đến các vấn đề cụ thể Bản Hiến pháp này là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới Đúng như nhận xét của đồng chí Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, nó là “sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước ”)

2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992

Hiến pháp năm 1992 gồm lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương

Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1992 về cơ bản cũng giống như lời nói đầu của các Hiến pháp trước, ghi nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam và xácđịnh những nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới Trong lời nói đầu cũng xác định những vấn đề cơ bản mà Hiến pháp sẽ quy định

CHƯƠNG I: NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CHẾ

ĐỘ CHÍNH TRỊ

CHƯƠNG II: CHẾ ĐỘ KINH TẾ

CHƯƠNG III: VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG IV: BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

CHƯƠNG V: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

CHƯƠNG VI: QUỐC HỘI

CHƯƠNG VII: CHỦ TỊCH NƯỚC

CHƯƠNG VIII: CHÍNH PHỦ

CHƯƠNG IX: HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN

CHƯƠNG X: TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂNCHƯƠNG XI: QUỐC KỲ, QUỐC HUY, QUỐC CA, THỦ ĐÔ, NGÀY QUỐC KHÁNH

CHƯƠNG XII: HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 8/ Bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện thông qua các quy định của Hiến pháp VN năm 2013 như thế nào?

1 Bản chất của nhà nước CHXHCNVN Việt Nam

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

Trang 10

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhândân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam theo Hiến pháp 2013

là nhà nước của dân, do dân và vì dân Cụ thể:

– Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước;

– Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của tất cả các dântộc trên lãnh thổ Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết toàn dântộc;

– Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân;– Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ và pháp quyền

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Nhà nước CHXHCN Việt Nam nằm trong tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đó là kiểu nhà nước có bản chất hoàn toàn khác với kiểu nhà nước bóc lột và là kiểu nhà nước cao nhất trong lịch sử, là nhà nước của dân, do dân

và vì dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí

thức.”(Điều 2, Hiến pháp 1992)

Nhà nước bảo đảm cho nhân dân thực sự tham gia vào quản lý nhà nước và quản lý xã hội, đảm bảo quyền ứng cử cũng như quyền bầu cử của nhân dân, thực sự có quyền lựa chọn những người đại biểu xứng đáng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước

Điều 9/ Chức năng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện thông qua các quy định của Hiến pháp VN năm 2013 như thế nào?

Chức năng của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Điều 50.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chức năng đối nội

Trang 11

Chức năng đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ đất nước Ví dụ: Đảm bảo trật tự xã hội, trấn áp những phần tử chống đối chế

độ, bảo vệ chế độ kinh tế … là những chức năng đối nội của các nhà nước

- Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, nhằm thực hiện mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, xét đến cùng là chức năng hàng đầu và

là cơ bản nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng mọi xã hội dựa trên cơ sở vật chất và kỹ thuật phát triển cao

Nhà nước ta là người đại diện cho ý chí, quyền lực của Nhân dân lao động, là người chủ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu; là người nắm trong tay các công cụ, phương tiện quản lý (chính sách, kế hoạch, pháp luật, tài chính, ngân hàng…) và quản lý việc sử dụng tài sản quốc gia Trên cơ sở đó, Nhà nước

có đủ điều kiện để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế trong nước cũng như hợp tác quốc tế

- Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấp thống trị bị lật đổ và những âm mưu phản cách mạng khác

- Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của công nhân và các tổ chức Đây là chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tất cả các chức năng khác của Nhà nước Pháp luật là phương tiện quan trọng để Nhà nước tổ chức thực hiện có hiệu quả tất cả các chức năng của mình, do đó, bảo vệ trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là hoạt động thường xuyên, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật

- Chức năng bảo vệ quyền tự do, dân chủ của Nhân dân

Chức năng đối ngoại

Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các nhà nước và dân tộc khác

Ví dụ: Phòng thủ đất nước, chống xâm lược từ bên ngoài, thiết lập các mối banggiao với các quốc gia khác …

Nhà nước ta thực hiện chức năng đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ

và giúp đỡ của nhân dân thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với phong trào cách mạng thế giới Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của chính sách đối ngoại là tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân loại thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến

bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb.ST, H.1991, tr19)

Trang 12

Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa giữ vững ổn định và xây dựng đất nước

Tất cả chức năng đối nội của nhà nước chỉ có thể được triển khai thực hiện tốt khi Tổ quốc được bảo vệ vững chắc Vì vậy, bảo vệ Tổ quốc là chức năng cực

kỳ quan trọng nhằm giữ gìn thành quả cách mạng, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, tạo điều kiện ổn định triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Chức năng củng cố , mở rộng , tăng cường tình hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở rộng quan hệ với các nước khác theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Chức năng ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản, chống chủ nghĩa đếquốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới Chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chống chính sách gây chiến và chạy đua vũ trang, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.Trong thời đại ngày nay, sự phát triển của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều vào cộng đồng thế giới Vì vậy, bất cứ nhà nước tiến bộ nào cũng đều

có nghĩa vụ ủng hộ phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới Thắng lợi củacách mạng Việt Nam không tách rời sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của nhân dân thế giới Ngày nay, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Điều 10/ Phân biệt khái niệm ”Quyền con người” và ”Quyền công dân”

Điểm giống nhau giữa quyền con người và quyền công dân

Quyền con người và quyền công dân là những quyền cơ bản, quan trọng được quy định trong Hiến pháp

Quyền công dân và quyền con người là hai phạm trù rất gần gũi với nhau nhưngkhông đồng nhất Nhân quyền và dân quyền đều là những quyền lợi mà mọi công dân đều được hưởng và được bảo vệ (trừ những người không có quốc tịch) Trong đó quyền công dân có nghĩa hẹp hơn so với quyền con người, về bản chất quyền công dân là những quyền con người được nhà nước thừa nhận

và áp dụng cho công dân nước mình Một số quyền công dân cũng là quyền con người như: quyền được có nhà ở, quyền tự do kinh doanh buôn bán, tự do ngôn luận, quyền được học tập, quyền được tham gia quản lí nhà nước và xã hôi, quyền được bảo vệ về sức khỏe…

Ở Việt Nam quyền con người và quyền công dân ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và lịch sử lập hiến nước nhà

Nó được thể hiển 1 cách nhất quán trong cả 4 bản hiến pháp, ghi nhận các

quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam Đất nước ngày càng phát triển, nhân quyền và dân quyền cũng ngày 1 được mở rộng thể hiện sự tôn trọngcủa nhà nước với quyền lợi của nhân dân,nâng cao niềm tin của nhân dân với đất nước Sự quản lí của nhà nước không nhằm hạn chế các quyền và tự do của

Trang 13

con người mà mong muốn phát triển hoàn thiện hơn các quyền con người mà nhân dân Việt Nam đáng được hưởng đã ghi nhận trong các công ước quốc tế Một cá nhân (trừ những người không quốc tịch) về danh nghĩa đều là chủ thể của cả hai loại nhân quyền và dân quyền nếu họ sinh sống trong quốc gia mà họ đăng kí quốc tịch Nếu đang sinh sống tại nước ngoài thì họ sẽ chỉ được hưởng những quyền con người cơ bản như “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” ngoài ra một số quyền lợi đặc thù như bầu cử, ứng cử thì họ sẽ không được thừa nhận và bảo vệ.

Điểm khác nhau giữa quyền con người và quyền công dân

Định nghĩa

- Quyền con người

Quyền con người (Nhân quyền) là những quyền tự nhiên của con người có từ lúc đã thành hình bào thai tới lúc đã chết đi và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai hay bất cứ chủ thể nào

Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lạinhững hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do

cơ bản của con người

- Quyền công dân

Quyền công dân (Dân quyền) là quyền của một người được công nhận theo các điều kiện Pháp lý để trở thành thành viên hợp pháp của một Quốc gia có chủ quyền (Quốc tịch) Một người có thể là công dân của nhiều Quốc gia hoặc không là công dân của bất cứ Quốc gia nào

Mỗi một Quốc gia đều có các quy định pháp lý riêng để cho một người trở thành công dân Quốc gia đó, và được hưởng các quyền riêng biệt, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ của mình

Như vậy, quyền con người và quyền công dân đã được hiểu ở hai nghĩa khác nhau: quyền con người và quyền công dân là những quyền độc lập với nhau; và quyền công dân là một bộ phận của quyền con người, quyền công dân là sự biểuhiện của quyền con người, được Hiến pháp và pháp luật thừa nhận

Điều 11/ Nêu những nguyên tắc Hiến pháp về quyền và nghiã vụ cơ bản của công dân; phân tích một trong các nguyên tắc đó?

Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không

ai bị tước đoạt tính mạng trái luật

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Trang 14

Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử

nghiệm

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và

bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình

Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác

Điều 12/ Những hình thức để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội được quy định trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành? Ý nghĩa của quyền ”tham gia quản lý Nhà nước và xã hội” của công dân?

Hình thức tham gia quản lý nhà nước và xã hội

– Hình thức tham gia trực tiếp: Công dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mình bằng cách tham gia ứng cử đại biểu quốc hội hoặc ứng

cử vào Hội đồng nhân dân các cấp Khi trúng cử, trở thành đại biểu quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân, công dân có thể trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình Công dân có thể tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà nước thông qua cơ chế tuyển dụng Tùy theo năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, công dân có thể được tuyển dụng vào cơ quan nhà nước hoặc được bổ nhiệm vào những chức vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước Khi trở thành công chức của nhà nước, tùy theo vị trí việc làm, cấp bậc quản lý mà công dân có thể có điều kiện và khả năng thuận lợi để trực tiếp tham gia quản lý, ra quyết định, tạo ra những tác động quan trọng cho xã hội

Công dân có thể tham gia thảo luận, cho ý kiến trực tiếp đối với các vấn đề ở tầm quốc gia khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý dựa trên quy định của Luật trưng cầu ý dân Với chính sách dân chủ, mở rộng sự tham gia, Nhà nước kỳ vọng người dân thực hiện quyền và trách nhiệm xã hội ở mức cao, mỗi công dân sẽ trực tiếp đóng góp ý kiến, trí tuệ vào các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Tham gia góp ý kiến đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước; phát biểu ý kiến về các vấn đề quản lý nhà nước, về nội dung của các quyết định quản lý, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với những vấn đề xã hội phát sinh Điều này có thể thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hay gửi ý kiến góp ý đối với cơ quan có thẩm quyền

Kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, đấu tranh với tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và những hiện tượng tiêu cực trong

bộ máy nhà nước Tùy thuộc vào tính chất công việc và vị trí việc làm, công dân

có thể tham gia quản lý nhà nước thông qua cơ chế kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá và đấu tranh chống tiêu cực trong bộ máy nhà nước, làm trong sạch độingũ, đảm bảo sự vận hành hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước Để tham gia

Trang 15

vào quản lý nhà nước với chức năng thanh tra, công dân phải thỏa mãn những điều kiện nhất định để trở thành thanh tra viên trong các cơ quan thực hiện chứcnăng thanh tra hành chính hoặc thanh tra chuyên ngành Bên cạnh đó, công dân cũng có thể tham gia quản lý nhà nước với tư cách là thành viên của Ban thanh tra nhân dân.

Công dân tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Phương thức tham gia là cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện

để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý về dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản Công dân,

có quyền và trách nhiệm đóng góp ý kiến, phản ánh với Nhà nước về những vấn

đề còn vướng mắc, bất cập của các văn bản pháp luật, để Nhà nước sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích của công dân Quyền và nghĩa vụ của công dân tham gia vào việc xây dựng chính sách, pháp luật

Công dân có thể tham gia bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề liên quan đến đời sống ở cơ sở: Xuất phát từ việc sinh sống, làm việc tại các địa phương,

cơ quan, công dân có thể góp ý với cơ quan chức năng về những vấn đề bất cập,gây tác động tiêu cực cho sự ổn định và phát triển, đề xuất các giải pháp để giải quyết

Khiếu nại, tố cáo những việc làm trái pháp luật của các cơ quan và công chức nhà nước, tìm kiếm sự giải quyết để đảm bảo sự ổn định và tạo động lực phát triển: Nhà nước ban hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Luật Tiếp công dân, tạo cơ sở cho công dân thực hiện khiếu nại, tố cáo và được cơ quan quản lý nhà nước tiếp nhận, lắng nghe và giải quyết Nhà nước xác định việc tiếp công dân

là công tác quan trọng

Thông qua việc tiếp công dân, Nhà nước tiếp nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời Khi thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, cơ quan, cán bộ tiếp công dân thay mặt

cơ quan nhà nước lắng nghe tiếng nói của nhân dân Thái độ của cán bộ tiếp công dân, của cơ quan tiếp công dân được người dân xem như thái độ của Nhà nước đối với yêu cầu của nhân dân Công tác tiếp công dân được làm tốt sẽ góp phần phát huy bản chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân; củng cố mối quan hệ giữa người dân với Nhà nước, giúp Nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, đề ra những chủ trương, chính sách đúng đắn, phù hợp, đồng thuận với người dân

– Hình thực tham gia gián tiếp: Công dân thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước bằng việc thực hiện quyền bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Để thực hiện quyền lực nhà nước được Nhân dân trao cho, đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân phải chịu sự giám sát, chất vấn của cử tri (công dân) về các yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước (Điều 79 và Điều 115 Hiến pháp 2013)

Trang 16

Công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua các tổ chức chính trị –

xã hội, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp Khi công dân có yêu cầu và ý kiến, các tổ chức sẽ tập hợp lại để chuyển tới các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết Chính sách của Nhà nước là cho phép công dân thông qua tổ chức mà mình là thành viên tham gia nhiều hơn trong hoạt động quản lý của Nhà nước, từ việc phản biện các chính sách, pháp luật, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và của công chức, cũng như đề đạt nguyện vọng, ý kiến của mình cho các cơ quan nhà nước xem xét, thực hiện

Điều 13/ Nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan

nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành như thế nào?

Về nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực của các cơ quan quyền lực nhà nước

Một là, về tính thống nhất (tập trung) của Nhà nước.

Tính thống nhất của Nhà nước ta được thể hiện ở nhiều khía cạnh, từ bản chất đến mục tiêu; biểu hiện tập trung nhất là sự bảo đảm ở Điều 4 Hiến pháp năm

2013 quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội

Điều đó cũng có nghĩa là xác lập tính nhất nguyên của chính thể cộng hòa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và minh định vai trò của đảng cầm quyền - tính chính đáng của lực lượng cầm quyền Việc thiết kế hình thức tổ chức nhà nước phải hướng ưu tiên vào việc bảo đảm quá trình vận hành của bộ máy nhà nước nhằm thể hiện rõ sự “phân công, phối hợp” và để “kiểm soát” giữa các nhánh quyền lực nhà nước; là giải quyết mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp

và tư pháp, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đồng thời có thể ngăn ngừa và xử lý kịp thời các bất cập phát sinh (nếu có)

Hai là, về thẩm quyền của Quốc hội.

Xuất phát từ nguyên tắc hiến định “ tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” (khoản 2, Điều 2 Hiến pháp năm 2013), và “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân” (Điều 2 Hiến pháp năm 2013), cho nên trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Trong đó, Quốc hội là thiết chế do Nhân dân bầu ra, còn các cơ quan

và cá nhân đứng đầu trong bộ máy hành pháp và tư pháp do Quốc hội bầu ra hoặc phê chuẩn (nghĩa là trên cơ sở nhân dân ủy quyền cho Quốc hội)

Vì vậy, Quốc hội được coi là thiết chế trung tâm, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ” (Điều 69 Hiến pháp năm 2013) Điều này cho phép khắc phục những quan niệmđơn giản và phiến diện khi cho rằng nếu xem Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thì vô hình chung quyền lực của các cơ quan hành pháp, tư

Trang 17

pháp đều “thấp hơn” so với cơ quan lập pháp và mâu thuẫn với nguyên tắc phâncông, phối hợp, đặc biệt là nguyên tắc kiểm soát giữa quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp do Hiến pháp năm 2013 quy định.

Quyền giám sát tối cao của Quốc hội có quan hệ rất chặt chẽ với các quyền khác Qua hoạt động giám sát sẽ giúp đánh giá kết quả hoạt động lập pháp có phù hợp với thực tiễn hay không để bổ sung, hoàn thiện, phát huy vai trò của quyền lập pháp Nếu quyền lập pháp và quyền “quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước”(5) của Quốc hội được thực hiện tốt sẽ là điều kiện để thực hiện tốt hơn quyền giám sát tối cao

Quyền giám sát tối cao của Quốc hội có tác động tích cực đến quyền hành pháp,qua đó giúp phát hiện yếu tố tích cực để phát huy, nhân rộng và những sai sót đểkiến nghị với Chính phủ sửa đổi cho phù hợp thực tiễn Đồng thời, quyền này còn tác động đến hoạt động tư pháp của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Như vậy, giám sát tối cao (ở bộ máy cấp Trung ương) là để giúp cho việc thực hiện hành pháp và quyền tư pháp có hiệu quả hơn; đồng thời cũng giúp khắc phục những thiếu sót (nếu có) trong tổ chức và hoạt động của quyền hành pháp và quyền tư pháp

Ba là, về mô hình tổ chức của cơ quan hành pháp.

Cần đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong mô hình tổ chức, phương thức hoạt động và cả cơ chế phối hợp giữa cơ quan hành pháp với các thiết chế trong

bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị để thể hiện rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hiệu quả phối hợp với các thiết chế trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị Qua đó giúp cho cơ quan hành pháp có thêm sức mạnh, khả năng giải quyết những vấn đề của quản lý nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Bốn là, về quyền tư pháp.

Cần tiếp tục nghiên cứu, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các nguyên tắc hoạt động của Tòa án nhân dân, việc thực hiện quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013 để tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định về hệ thống tổ chức Tòa án cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp

Tương tự, cần tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; đồng thời làm rõ hơn nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát khi thực hiện quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp để sửa đổi, bổ sung quy định về hệ thống tổ chức Viện kiểm sát cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Đảng

Năm là, cần quy định cụ thể để nhân dân và các tổ chức đại diện của nhân dân thực hiện có hiệu quả quyền phản biện xã hội, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước.

Trang 18

Trong thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhân dân có quyền phản biện

xã hội, kiểm soát, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước; phản biện xã hội đối với dự thảo các quyết sách của Nhà nước và giám sát hoạt động của Nhà nước nói chung, các tổ chức và cá nhân nắm giữ các trọng trách trong bộ máy quyền lực nhà nước nói riêng

Hoạt động phản biện xã hội và giám sát của Nhân dân có thể được thực hiện gián tiếp bởi các đại biểu do mình bầu ra - đại biểu Quốc hội hoặc bằng hoạt động phản biện xã hội, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; hoặc cử tri phản ánh trực tiếp với đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua những quy định cụ thể

Trong thực tế, các hoạt động trên đã được cụ thể hóa trong Quyết định số QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát

217-và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 217-và các đoàn thể chính trị -

xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị khóa

XI quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền Tuy nhiên, để nội dung các quyết định được hiện thực hóa, cần tạo điều kiện cho người dân, các tổchức đoàn thể phát huy được quyền giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả hơn./

Điều 14/ Trong các bản Hiến pháp của Việt Nam đều khẳng định: tất

cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hãy giải thích nguyên tắc đó ?

Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 28/11/2013 (gọi tắt là Hiến pháp năm 2013) là bản Hiến pháp thứ 5 trong lịch sử lập hiến của Việt Nam tính từ Hiến pháp năm 1946 Việc banhành Hiến pháp năm 2013 là một dấu mốc mới trong tiến trình phát triển tư tưởng lập hiến của nước nhà trên cơ sở kế thừa thành tựu lập hiến của gần 70 năm trước đó, phúc đáp yêu cầu đổi mới đất nước trong giai đoạn hiện nay Một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của Hiến pháp năm 2013 là sự thể hiện sâu sắc hơn nữa bản chất dân chủ của chế độ gắn liền với yêu cầu bảo đảm tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Tại khoản 2 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 trang trọng khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân

mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Quy định trên nên được hiểu như thế nào cho đầy đủ và sâu sắc Đây là vấn đề rất quan trọng cần được giải mã một cách thấu đáo

1 Khẳng định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” đi liền với việc

khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”

là sự thể hiện trực tiếp nguyên lý về chủ quyền nhân dân - tư tưởng nền tảng trong các bản Hiến pháp của Việt Nam, nhất là bản Hiến pháp năm 2013 Quy

Trang 19

định ấy cũng đi kèm với quy định tại Khoản 1 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 theo

đó “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

Hiến pháp năm 1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của chế độ ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo được ban hành trong bối cảnh “sau tám mươi năm tranh đấu, dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi vòng áp bức của chính sách thựcdân, đồng thời gạt bỏ chế độ vua quan”, nước nhà đã bước sang một kỷ nguyên phát triển mới, giai đoạn “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn” và “kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ” Điều thứ nhất của Hiến pháp năm 1946 khẳng định một cách dứt khoát “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”

Tinh thần của nguyên tắc ấy được kế thừa trong Hiến pháp năm 1959 bằng quy định tại Điều 4 “Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân.” Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định tại Điều 6 “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.”Hiến pháp năm 1992 tại Điều 2 khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.”

2 Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên

minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” gắn liền với việc khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ” khẳng định chủ thể thật sự, chủ thể đích thực và chủ thể tối cao của nhà nước, của tất cả quyền lực nhà nước là Nhân dân Điều này có nghĩa rằng, ở Việt Nam, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ Nhân dân Quyền lực nhà nước, dù do bất cứ cơ quan, cá nhân nào nắm giữ cũng có nguồn gốc từ sự

ủy quyền của Nhân dân Không có thứ quyền lực nhà nước nào có nguồn gốc tựthân, nằm ngoài sự trao quyền, ủy quyền (trực tiếp hoặc gián tiếp) của Nhân dân

Trong thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước, tuy chỉ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là các cơ quan mà thành viên của cơ quan này do Nhân dân trực tiếp bầu ra nhưng điều đó không có nghĩa rằng chỉ có các cơ quan này mới là các cơ quan được Nhân dân ủy thác quyền lực Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” hàm ý rằng, quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước khác thực hiện (dù đó là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp hay bất cứ cơ quan nhà nước nào khác) cũng là sản phẩm của sự trao quyền một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ Nhân dân (thông qua Hiến pháp và pháp luật)

Tinh thần đó đòi hỏi, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, bất

kể là cơ quan thực hiện quyền lập pháp (Quốc hội), cơ quan thực hiện quyền hành pháp (Chính phủ), cơ quan thực hiện quyền tư pháp (Tòa án nhân dân) và

Trang 20

các cơ quan nhà nước khác trong bộ máy nhà nước đều phải bảo đảm tinh thần

vì lợi ích của Nhân dân để phục vụ

3 Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên

minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” gắn liền với quy định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ” khẳng định nguồn gốc thế tục của quyền lực nhà nước ở Việt Nam Điều này cũng có nghĩa rằng, quyền lực nhà nước ở Việt Nam không có nguồn gốc từthần quyền, mà có nguồn gốc từ Nhân dân Trước đây, trong thời phong kiến, nhà vua hoặc hoàng đế thường tự coi mình là “thiên tử” (con trời), được trời đưaxuống để chăm lo, giáo hóa, cai trị nhân dân chứ không phải chủ thể nhận sự ủy thác của Nhân dân Chính vì thế, quan lại được coi là cha mẹ dân, được “thiên tử” ủy thác cho việc chăm lo, cai trị thần dân Vua (“thiên tử”) không phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước Nhân dân mà chỉ phải chịu trách nhiệm trước “trời”, chỉ cần hành xử theo “thiên mệnh” Quan lại cũng không phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân mà chỉ phải chịu trách nhiệm trước Vua (“thiên tử”) Trong chế

độ phong kiến ấy, sự chuyển giao quyền lực tối cao của nhà nước được thực hiện bằng con đường “thế tập” theo kiểu cha truyền, con nối, “con vua thì lại làm vua, coi sãi ở chùa đi quét lá đa” Nhân dân không phải là người chủ mà nhà vua có trách nhiệm phục vụ, ngược lại, chính nhân dân có trách nhiệm phục

vụ nhà vua Những tư tưởng phản động kể trên đã bị cuộc cách mạng tháng Tám, do Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kiên quyết bác bỏ khi xây dựng chế độ mới Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời vào ngày 3/9/1945 (tức là chỉ một ngày sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định

“Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ.”[1]

Với tư cách là sự phủ định của các tư tưởng phong kiến, thần quyền về nguồn gốc của quyền lực nhà nước, nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” đòi hỏi trong mối quan hệ giữa Nhà nước với Nhân dân thì Nhà nước không phải là chủ của Nhân dân, các cơ quan nhà nước, dù là cơ quan có quyền lực ở mức nào cũng không phải là chủ của Nhân dân, mà ngược lại chính Nhân dân mới là chủ của Nhà nước, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ đối với Nhà nước Điều này cũng có nghĩa rằng, Nhà nước có trách nhiệm cao nhất là phục vụ Nhân dân Nhân dân có tiếng nói cao nhất, cuối cùng về số phận của Nhà nước, của từng cơ quan nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước, các cán bộ,công chức nhà nước đều phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân, phục vụ Nhân dân và hành xử vì lợi ích của Nhân dân Cán bộ, công chức, viên chức nhà nướcđều phải là công bộc của Nhân dân Điều đó cũng phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh mà toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức thực hiện Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã từng diễn giải bằng một ngôn ngữ rất giản dị nhưng hết sức sâu sắc về dân

Trang 21

chủ: “Dân làm chủ thì Chủ tịch, bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên này khác làm gì?Làm đầy tớ Làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan cách mạng.”[2]

4 Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên

minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” cũng cónghĩa hễ cứ là công dân Việt Nam thì đều là người làm chủ Nhà nước, không phân biệt giới tính, giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, chính kiến, nguồn gốc xuất thân, quá khứ chính trị Điều ấy cũng thể hiện rõ tinh thần đại đoàn kết toàn dântrong các chính sách của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, khẳng định nền tảng của Nhân dân là “liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” hàm ý một yêu cầu rất quan trọng, dù Nhà nước được xác định

là của Nhân dân nhưng phù hợp với truyền thống lịch sử, gắn với thực tiễn Việt Nam hiện nay Nhà nước ấy phải là nhà nước phục vụ lợi ích và bảo đảm lợi ích cho đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội, mà trước hết là những người lao động trong xã hội Thực tiễn lịch sử ở nhiều nước cho thấy không phải cứ tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân thì đương nhiên mọi người dânđều có quyền như nhau đối với Nhà nước Ở không ít quốc gia, các lực lượng cần lao rất khó tiếp cận với các cơ hội hoạt động chính trị, rất khó tham gia vào

bộ máy nhà nước và rất khó bảo đảm được rằng Nhà nước ấy thực sự là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Ở những nước như vậy, chínhquyền thường bị các nhóm lợi ích thiểu số lũng đoạn và khi ấy sớm hay muộn chính quyền cũng sẽ quay lưng lại với Nhân dân, phản bội lại lợi ích của Nhân dân Chính vì vậy, trong bối cảnh thực tế giai cấp công nhân, giai cấp nông dân

và đội ngũ trí thức là lực lượng cơ bản nhất, đông đảo nhất trong xã hội, yêu cầu

“tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” vẫn được xem là phù hợp và cần thiết Yêu cầu bảo đảm quyền lực nhà nước phải thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đặt ra trách nhiệm rất lớn đối với Nhà nước theo đó Nhà nước phải

có trách nhiệm tạo điều kiện để những người có thu nhập không hẳn là cao trong xã hội nhưng vẫn không những không bị loại ra khỏi các cơ hội phát triển bình đẳng về chính trị Đây là điều không hề dễ dàng

5 Nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên

minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” là nguyên tắc rất căn bản của Hiến pháp năm 2013, thể hiện bản chất cốt lõi của chế độ ta Chính vì vậy, đây cũng là tư tưởng chủ đạo chi phối việc thiết kế nhiều quy định khác trong Hiến pháp và thiết kế các quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam Cụ thể:

- Tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ trách nhiệm, sứ mệnh phục vụ Nhân dân của Nhà nước, theo đó, “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,

Trang 22

văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.” Cần lưu ý rằng, trách nhiệm, sứ mệnh phục vụ Nhân dân này làyêu cầu có tính xuyên suốt trong mọi chính sách của Nhà nước, mọi quy định của pháp luật do Nhà nước ban hành Trách nhiệm, sứ mệnh phục vụ Nhân dân

vì thế không chỉ là trách nhiệm, sứ mệnh chung của toàn thể bộ máy nhà nước,

mà phải trở thành trách nhiệm, sứ mệnh cụ thể của từng cơ quan nhà nước, từngcán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy ấy Chính vì thế, khoản 2 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.” Theo tinh thần đó, mọi biểu hiện quan liêu, xa dân, cửa quyền, háchdịch, tệ nạn tham nhũng, lãng phí đều được coi là xa lạ với bản chất của chế độ

ta, của nhà nước ta và trở thành vấn đề cần được giải quyết triệt để bằng các phương thức phòng, chống phù hợp Phù hợp với tinh thần đó, Hiến pháp năm

2013 đề cao hơn cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, bảo đảm tốt hơn sự kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong việc thực hiện quyền lực nhà nước Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định quyền giám sát tối cao của Quốc hội (cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân) đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước bao gồm cả cơ quan thực hiện quyền hành pháp, cơ quan thực hiện quyền tư pháp Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Các cơ quan như Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đều phải báo cáo công tác trước Quốc hội và chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội họp công khai (Điều 83), Luật, Pháp lệnh phải được công bố (Điều 85), Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng phải thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân (Điều 98 và 99), Tòa án nhân dân có nhiệm

vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân (Điều 102), Tòa án nhân dân xét xử công khai (Điều 103), Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương (Điều 113) Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ trách nhiệm của đại biểu dân cử phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sátcủa cử tri (Điều 79 và Điều 115)

- Với yêu cầu bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Hiến phápnăm 2013 khẳng định đầy đủ và sâu sắc hơn các phương thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước Điều 6 Hiến pháp năm 2013 khẳng định rõ “Nhân dânthực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhànước.” Như vậy, cả hai hình thức thực hiện quyền lực nhà nước là thực hiện bằng dân chủ đại diện thông qua các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và các cơ quan nhà nước khác và thực hiện dân chủ trực tiếp đều được Hiến pháp ghi nhận Khẳng định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ

Trang 23

quan khác của Nhà nước cũng hàm ý yêu cầu các cơ quan nhà nước, khi ra quyết sách hoặc thực thi quyền lực, đều phải lưu ý rằng, các công việc mình đang thực hiện đều là các công việc do Nhân dân ủy thác Chính vì thế, khi ban hành các quyết sách, thực thi công vụ, các cơ quan nhà nước đều không được làm trái lợi ích của Nhân dân mà phải thực hiện một cách tận tụy nhất, trung thành nhất với lợi ích của Nhân dân Đây cũng là sự thể hiện yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước rằng “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thìphải hết sức tránh.” Để đảm bảo yêu cầu đó, một trong những điều tiên quyết phải thực hiện là bảo đảm sự thiết lập một cơ chế bầu cử thực chất, phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của Nhân dân khi bầu ra thành viên các cơ quan dân

cử Người đại biểu dân cử phải trung thành với lợi ích của Nhân dân và khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân thì sẽ bị bãi nhiệm Tinh thần đó được thể hiện trong Điều 7 Hiến pháp năm 2013:“Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi khôngcòn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.”

Việc khẳng định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp thể hiện một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng, Nhà nước và Nhân dân tatrong tiến trình mở rộng và phát huy dân chủ Trên thực tế, các hình thức dân chủ trực tiếp đã ngày càng được Nhà nước ta coi trọng hoàn thiện về mặt thể chế và tổ chức thực hiện trên thực tiễn Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,

phường, thị trấn năm 2007 đã quy định rất nhiều công việc Nhân dân ở địa phương trực tiếp bàn, quyết định và chính quyền có trách nhiệm bảo đảm thực hiện Chẳng hạn, Điều 10 của Pháp lệnh này quy định rõ “Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật” Cũng tại Điều 13của Pháp lệnh quy định những công việc do Nhân dân bàn, biểu quyết để cấp cóthẩm quyền quyết định như “Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng” Hiện nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước ta đang xúc tiến xây dựng Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin và một số đạo luật khác có liên quan nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế để các hình thức dân chủ trực tiếp ngày càng được thực hiện đa dạng hơn trong thực tiễn

Một điểm cũng rất cần lưu ý khi đề cập tới yêu cầu bảo đảm quyền lực nhà nướcthực sự là của Nhân dân là việc thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội do Nhân dân lập ra Điều đó thể hiện rõ trong quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013 Cụ thể: Điều 9 Hiến pháp năm 2013 (trên cơ sở kế thừa và bổ sung quy định tại Điều 9 Hiến pháp

Trang 24

năm 1992[3]) Theo đó, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc.” Việc bổ sung trách nhiệm “giám sát, phản biện xã hội”, khẳng định quyền và trách nhiệm “tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước” của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam cũng là một hình thức mở rộng và phát huy dân chủ trong điều kiện xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Điều cần lưu ý nữa là Hiến pháp đã chính thức ghi nhận sự tồn tại của các tổ chức xã hội ngoài các tổ chức chính trị-xã hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông qua quy định tại Khoản 3 Điều 9 Hiến pháp năm

2013 theo đó “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận

và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động.”

Quy định “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” còn trực tiếp chi phốiviệc thiết kế các quy định về quyền công dân, quyền con người trong Hiến phápnăm 2013 Trên cơ sở kế thừa và bổ sung, phát triển quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 đã quy định hàng loạt quyền con người, quyền công dân mà mỗi cá nhân người dân Việt Nam đều được hưởng dụng để xây dựng cuộc sống của mình, tham gia các mặt hoạt động của xã hội, phát triển cộng đồng, xây dựng đất nước Trong số ấy, phải kể tới các quyền năng trong lĩnh vực chính trị như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25), quyền bầu cử và ứng cử (Điều 27), quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 28), quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29) và quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30) Chẳng hạn, theoĐiều 27 Hiến pháp năm 2013, công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu

cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Theo Điều 28 Hiến pháp năm 2013, công dân có quyền tham gia quản

lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân Theo Điều 30 Hiến pháp năm

2013, mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác

Trang 25

6 Từ góc độ lý luận về luật Hiến pháp, có thể khẳng định rằng, bảo đảm trong

thực tế “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” đi liền với việc khẳng định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là nhà nước “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm tính chính danh, chính đáng của hệ thống chính quyền ở nước ta Đây cũng là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu bảo đảm sự bền vững của một chế độ Quy định tinh thần, tư tưởng ấy trong Hiến pháp năm 2013 một lần nữa tô đậm thêm truyền thống chính trị vì dân ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo tiền đề tiếp tục xây dựng và củng cố mối quan hệ bền chặt giữa Nhân dân và chếđộ

Điều 15/ Thông qua các quy định của Hiến pháp hiện hành về quyền,

nghĩa vụ cơ bản của công dân, hãy làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước và công dân ở Việt Nam hiện nay.

Điều 16/ Hãy nêu những hình thức biểu hiện cơ bản của dân chủ đại

diện và dân chủ trực tiếp được quy định trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành.

4 Phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp ở nước ta hiện nay

Phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp còn có nhiều quan niệm khác nhau xuấtphát từ góc độ tiếp cận Tuy nhiên, về cơ bản, khoa học chính trị và pháp lý ViệtNam có sự đồng thuận tương đối trong việc thừa nhận những hình thức dân chủ trực tiếp phổ biến nhất gồm: bầu cử, bãi miễn đại biểu, trưng cầu ý dân, thực hiện quyền sáng kiến lập pháp; bỏ phiếu toàn dân và lấy ý kiến có tính quyết định tại cơ sở Bên cạnh đó, một số hình thức khác thể hiện ý chí của công dân cũng mang dấu hiệu của dân chủ trực tiếp (tính trực tiếp thể hiện ý chí, tính tự mình thực hiện, tính quyền lực) cũng có thể được xem là các biểu hiện đa dạng của dân chủ ở Việt Nam: khiếu nại, tố cáo, phản biện xã hội, tư vấn xã hội, dân nguyện Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tiếp cận, phân tích những phương thức cơ bản nhất, mang đầy đủ những đặc trưng của dân chủ trựctiếp là: là một chế độ gắn liền với Nhà nước, phân biệt với các quyền cụ thể; là cách thức làm chủ của nhân dân: thể hiện ý chí trong các lĩnh vực liên quan đến việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội; được thể hiện ý chí một cách trực tiếp, không phải thông qua một chủ thể trung gian nào và có hiệu lực trực tiếp, phải được thi hành ngay

Do đó, theo các tiêu chí trên, chúng tôi cho rằng dân chủ trực tiếp ở Việt Nam

có các phương thức thực hiện cơ bản sau:

- Bầu cử và bãi miễn đại biểu dân cử

- Trưng cầu ý dân

- Dân chủ trực tiếp ở cơ sở

Trang 26

Trên thực tế, ở mức độ nhất định, một số hình thức hoạt động quyền lực khác của người dân cũng phản ánh những đặc trưng mang tính bản chất của dân chủ trực tiếp ở các mức độ khác nhau Các hình thức đó cũng cần được nhận diện như là những biểu hiện đa dạng và đặc thù của dân chủ trực tiếp trong cơ chế thực hiện quyền lực ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá các phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp cơ bản, có tính phổ biến được pháp luật thực định Việt Nam quy định.Các hoạt động cụ thể nhằm thực hiện dân chủ trực tiếp có thể là việc đóng góp ýkiến vàc các quyết sách và văn bản quản lí của chính t6 chức đó hoặc bầu cử trực tiếp dân chủ trực tiếp đượi một loạt các thiết chế pháp lí cụ thể về các hình thức phương tiện, cơ chế, thông qua đó, nhân dân trực tiếp thực hiện quyền dânchủ, thể hiện quyền làm chủ xã hội của mình Thông thường, trong chế định dânchủ trực tiếp, trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp cao nhất, qua đó, nhân dân trực tiếp biểu thị ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề

có tính quốc sách Trên thế giới, Ở nhiều nước, trưng cầu ý dân được xem là hình thức dân chủ thuần khiết

3 Chế độ dân chủ đại diện trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền ViệtNam hiện nay

Dân chủ đại diện là hình thức tham gia quản lý nhà nước thông qua các đại diện được bầu cử, thay mặt cho cử tri trong việc thực hiện các chức năng hoạch định chính sách, quản lý nhà nước và xã hội

Chế độ dân chủ đại diện là hình thức thực tế để các đại diện được bầu cử thực hiện quyền lực Nhà nước thay mặt cho cử tri

3.1 Bầu cử

Các cuộc bầu cử tự do và công bằng là yếu tố cơ bản bảo đảm sự đồng thuận của nhân dân, là trụ cột của nền chính trị dân chủ Các cuộc bầu cử là cơ chế chủ yếu để chuyển hóa sự đồng thuận đó thành quyền lực của nhà nước

Ở Việt Nam, việc bầu cử Đại biểu quốc hội (ĐBQH) được tiến hành theo

nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Đó cũng là những tưtưởng chỉ đạo trong việc tổ chức bầu cử, thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta Các nguyên tắc này thể hiện tính chặt chẽ, thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách

quan,dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn Nguyên tắc bầu cử yêu cầu phải quy định rõ quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm các quy định về bầu cử

3.2 Chế độ Quốc hội

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

3.3 Chế độ Đại biểu Quốc hội

Trang 27

Đại biểu Quốc hội còn được gọi là nghị sĩ, nghị viên, đại biểu Đại hội nhân dân toàn quốc hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) tối cao với tính cách là một chức danh nhà nước Quan niệm về ĐBQH ở các nước phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau như truyền thống lịch sử, văn hóa, chính trị, pháp lý,vào mô hình, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước và trình tự hình thành bộ máy nhà nước Tuy nhiên, xét về bản chất thì ĐBQH được cử tri bầu ra thông quanhững trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, trừ một số trường hợp đặc biệt

ở một số quốc gia có thể do chỉ định, bổ nhiệm hoặc được thế tập

Từ bản chất về ĐBQH, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của ĐBQH Việt Nam như sau:

Thứ nhất ĐBQH là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước

Thứ hai, ĐBQH là người được cử tri bầu theo các nguyên tắc và thủ tục dân chủ

do pháp luật quy định

Thứ ba, thành phần ĐBQH hết sức đa dạng

Thứ tư, ĐBQH hoạt động theo nhiệm kỳ

Thứ năm, thành phần ĐBQH phản ánh rõ tính giai cấp củaQuốc hội

Thứ sáu, ĐBQH có địa vị pháp lý và vai trò quan trọng trong hoạt động của Quốc hội và Nhà nước.Phù hợp với địa vị pháp lý đặc biệt, ĐBQH có vị trí, vai trò quan trọng thể hiện ở chỗ:

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Đại biểu Quốchội là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân, nhân dân và nhà nước

Đại biểu Quốc hội là trung tâm, hạt nhân trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội

3.4.Các phương thức thực hiện dân chủ đại diện

Các phương thức thực hiện dân chủ đại diện chủ yếu bao gồm:

Một là, dân chủ đại diện được thực hiện thông qua hoạt động bầu cử ĐBQH thông qua hoạt động của ĐBQH;

Hai là, dân chủ đại diện được thực hiện thông qua việc Quốc hội thực hiện các chức năng do pháp luật quy định

Ba là, dân chủ đại diện còn được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quankhác của Nhà nước

Điều 17/ Tính chất dân chủ trong bản chất nhà nước ta được thể hiện

trong chế độ bầu cử ở nước ta như thế nào? Ý nghĩa của cuộc bầu cử dân

chủ trong chế độ xã hội XHCN?

Điều 18/ Hiến pháp Việt Nam hiện hành đã có những quy định cơ bản

nào để xây dựng, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa?Phân tích một trong các quy định đó

Điều 19/ Ý nghĩa của các quy định trong Hiến pháp hiện hành về

quyền sở hữu của công dân ?

Điều 20/ Mục tiêu của chính sách Giáo dục ở nước ta là gì? Ý nghĩa

Trang 28

của mục tiêu chính sách giáo dục được quy định trong Hiến pháp Việt Namhiện hành?

Điều 21/ Mục tiêu của chính sách Khoa học, Công nghệ ở nước ta là

gì? Ý nghĩa của mục tiêu chính sách phát triển Khoa học, Công nghệ đượcquy định trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành

Điều 22/ Ý nghĩa của chính sách Môi trường quy định trong Hiến pháp

Việt Nam hiện hành?

Điều 23/ Khái niệm, ý nghĩa và chức năng của bầu cử?

Điều 24/ Trình bày các nguyên tắc bầu cử được quy định trong Hiến

pháp Việt Nam hiện hành?

Điều 25/ Các tổ chức phụ trách bầu cử Đại biểu Quốc hội ở Việt nam

theo quy định của pháp luật hiện hành?

Điều 26/ Các tổ chức phụ trách bầu cử Đại biểu HĐND ở Việt Nam

theo quy định của pháp luật hiện hành?

Điều 27/ Khái quát quy trình bầu cử Quốc hội tại Việt Nam?

Điều 28/ Vai trò của Quốc hội trong lĩnh vực xây dựng bộ máy nhà

nước được quy định như thế nào trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành?

Điều 29/ Cơ cấu tổ chức và các hình thức hoạt động của Quốc hội?

Điều 30/ Chọn phương án đúng nhất, giải thích tại sao chọn phương án

đó: Theo Hiến pháp hiện hành, Quốc hội có quyền:

a Lập pháp, lập hiến, quản lý tối cao, giám sát tối cao

b Lập pháp, lập hiến, giám sát và kiểm sát tối cao, bầu Chính phủ

c Lập hiến, lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội,đối ngoại, giám sát tối cao

Điều 31/ Nêu những giải pháp cơ bản để Quốc hội thực hiện tốt chức

Điều 33/ Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua những hình

thức cơ bản nào? Những giải pháp để nâng cao chất lượng giám sát củaQuốc hội?

Điều 34/ Vai trò của Chủ tịch nước trong tổ chức bộ máy nhà nước

được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành như thế nào? Cho ví dụminh họa

Điều 35/ Địa vị pháp lý của Chính phủ trong Hiến pháp hiện hành?

Điều 36 / Trình bày những quy định của Hiến pháp hiện hành về

Trang 29

Chính phủ thể hiện Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất.

Điều 37/ Vai trò của Chính phủ trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt

Nam Cho 02 ví dụ minh họa

Điều 38/ Chọn một trong các phương án sau và giải thích tại sao chọn

phương án đó: Theo Hiến pháp hiện hành, các thành viên Chính phủ:

a Phải đồng thời là thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

b Không nhất thiết là thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

c Không thể đồng thời là thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Điều 39/ Chọn một trong các phương án sau và giải thích tại sao chọn

phương án đó: Theo Hiến pháp hiện hành, Chính phủ chịu trách nhiệmtrước:

a Quốc hội

b Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội

c Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước

Điều 40/ Cơ cấu và thành phần của Chính phủ Việt Nam hiện nay?

Điều 41/ Theo Hiến pháp hiện hành, Chính phủ có những nhiệm vụ và

quyền hạn nào?

Điều 42/ Theo Hiến pháp hiện hành, Thủ tướng Chính phủ có những

nhiệm vụ và quyền hạn nào?

Điều 43/ Hãy trình bày các hình thức hoạt động của Chính phủ?

Điều 44/ Vai trò của Hội đồng nhân dân trong tổ chức bộ máy chính

quyền địa phương?

Điều 45/ Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát thông qua

những hình thức cơ bản nào? Những giải pháp để nâng cao chất lượng giámsát của Hội đồng nhân dân?

Điều 46/ Cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của Hội đồng nhân

dân các cấp?

Điều 47/ Mối quan hệ giữa Chính phủ và Hội đồng nhân dân được quy

định như thế nào trong pháp luật hiện hành? Cho ví dụ minh họa

Điều 48/ Mối quan hệ giữa Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

được quy định như thế nào trong pháp luật hiện hành? Cho ví dụ minh họa

Điều 49/ Cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của Ủy ban nhân dân

các cấp?

Điều 50/ Vị trí, tính chất của Ủy ban nhân dân được quy định như thế

nào trong Hiến pháp và Luật tổ chức HĐND và UBND?

Điều 51/ Mối quan hệ giữa Chính phủ và Ủy ban nhân dân được quy

định như thế nào trong pháp luật hiện hành? Cho ví dụ minh họa

Điều 52/ Chọn phương án đúng nhất, giải thích tại sao chọn phương án

đó: Theo pháp luật hiện hành:

a Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành và hành chính ở địa phương,hoạt động theo nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

b Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ

Trang 30

quan hành chính ở địa phương, hoạt động theo sự chỉ đạo của cấp trên.

c Không chọn phương án nào

Điều 53/ Chọn một trong các phương án sau và giải thích tại sao chọn

phương án đó: Theo Hiến pháp Việt Nam hiện hành:

a Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa

phương, Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

b Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở địa

phương, Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.c.Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, Ủy

ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Điều 54/ Địa vị pháp lý của Tòa án nhân dân theo quy định của Hiến

Điều 58/ Nêu những giải pháp cơ bản để Viện kiểm sát nhân dân thực

hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố

Điều 59/ Nêu những giải pháp cơ bản để Viện kiểm sát nhân dân thực

hiện tốt chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp

Điều 60/ Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ nào

trong hoạt động tư pháp?

Điều 61/ Tại sao Hiến pháp Việt Nam hiện hành quy định: “ Các cơ

quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tậntụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến vàchịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng,

lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”?

Điều 62/ Chức năng của Hội đồng bầu cử quốc gia theo Hiến pháp

hiện hành?

Điều 63/ Kiểm toán nhà nước được quy định trong Hiến pháp hiện

hành như thế nào?

Điều 64/ Nguyên tắc ”phân công, phối hợp, kiểm soát” lẫn nhau giữa

Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân được thể hiện trong Hiến pháphiện hành như thế nào? Cho ví dụ cụ thể để chứng minh

LUẬT HÌNH SỰĐiều 1: Trình bày khái niệm các giai đoạn phạm tội Tại sao các giai đoạn phạm tội chỉ đặt ra đối với tội thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp?

Trang 31

Khái niệm

- Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý thực hiện tộiphạm Được phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu, biển hiệu nhằm đánh giá sự diễn biến mức độ thực hiện ý định phạm tội, làm cơ sở cho việc xác định phạm

Tại sao lại chia thành các giai đoạn phạm tội

– Phân chia để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đấu tranh phòng chống tội phạm.– Đảm bảo nguyên tắc phòng là chính, nguyên tắc công bằng và nhân đạo (hạn chế hậu quả bằng việc xử lý tội phạm ở các mức khác nhau)

– Đó là sự can thiệp của nhà làm luật với sự diễn biến liên tục của hành vi phạmtội, để phân hóa trách nhiệm hình sự

– Phân hóa để bảo vệ các quan hệ xã hội

Ý nghĩa đặc điểm của các giai đoạn

– Được xác định trên cơ sở khách quan của quá trình phòng chống tội phạm.– Phản ánh tính chất mức độ phạm tội ở các giai đoạn khác nhau

– Tồn tại ở tội cố ý trực tiếp

Các giai đoạn của tội phạm

Các giai đoạn phạm tội là các bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý

và bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành

Cơ sở của việc phân chia này dựa vào: dấu hiệu hành vi, dấu hiệu hậu quả và tính chất khách thể của tội phạm

Chuẩn bị phạm tội

– Căn cứ theo Bộ luật hình sự 2015, chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định

Trang 32

+ Người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm của hành vi phạm tội chưa hoàn thành.

+ trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với người có hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

+ Chưa trực tiếp xâm hại đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ mà mới chỉ đặt khách thể đó trong tình trạng nguy hiểm

+ Người phạm tội thực hiện hành vi liền trước hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm

+ Mới chỉ thực hiện được một hành vi trong những hành vi quy định trong cấu thành tội phạm

+ Thực hiện hết hành vi, hậu quả xảy ra cho xã hội rồi nhưng hậu quả đó chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm

Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra hoặc người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm

– Trách nhiệm hình sự

Họ sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự khi hành vi của họ chưa đáp ứng đầy

đủ các yếu tố cấu thành tội phạm

Người có hành vi phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn với tội chuẩn bị phạm tội

Tội phạm hoàn thành

– Tội phạm hoàn thành là hành vi phạm tội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm

– Xuất phát từ tình chất nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm, luật hình

sự xác định thời điểm hoàn thành của tội phạm thông qua việc mô tả những dấu hiệu trong cấu thành tội phạm

+ Cấu thành tội phạm vật chất: thời điểm hoàn thành của loại tội này phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm: hành vi nguy hiểm, hậu quả xảy ra, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả

+ Cấu thành tội phạm hình thức: thời điểm hoàn thành của loại tội này chỉ cần đáp ứng dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội

+ Cấu thành tội phạm cắt xén: chỉ cần có hành động biểu hiện ý định phạm tội thì tội phạm đã hoàn thành

Trang 33

– Tội phạm hoàn thành được coi là trường hợp phạm tội thông thường mà hành

vi phạm tội xảy ra trong thực tế hoàn toàn phù hợp hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm

Điều 2: Trình bày khái niệm, điều kiện của trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội xảy ra ở giai đoạn nào của quá trình phạm tội?

Khái niệm

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Đây là trường hợp người phạm tội dừng lại không thực hiện tiếp tội phạm (đến cùng) và việc dừng lại không phải vì bị ngăncản mà do ý muốn chủ quan (tự mình)

Điều kiện

1.Điều kiện khách quan: để thừa nhận là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

là không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Điều kiện này đòi hỏi người phạm tội đang còn điều kiện thực hiện tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội có hiệu nghiệm, người phạm tội không bị phát hiện hoặc điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm trót lọt Việc chấm dứt tội phạm phải xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, chưa hoàn thành

2 Điều kiện chủ quan: Người phạm tội phải chấm dứt việc phạm tội một cách

tự nguyện và dứt khoát, triệt để Sự chấm dứt hành vi phạm tội dứt khoát thể hiện ở việc từ bỏ hẳn, chấm dứt hẳn tội phạm Trường hợp người phạm tội chỉ chấm dứt tạm thời, chờ thời cơ thuận lợi lại tiếp tục phạm tội không được coi là dứt khoát Người phạm tội phải tự mình chấm dứt hành vi phạm tội, việc chấm dứt hoàn toàn tự nguyện, tự giác chứ không phải vì lý do bị ngăn cản

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội xảy ra ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội

hoặc phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành

Điều 3: Hãy nêu các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt.

Trường hợp miễn trách nhiệm hình sự

- Ở Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017

Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn

Trang 34

2 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3 Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại

tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Phân biệt miễn trách nhiệm hs với miễn hình phạt

- Miễn trách nhiệm hình sự là việc không bắt buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện, còn miễn hình phạt thì không buộc người bị kết án phải chịu hình phạt về tội họ đã thực hiện

- Đối tượng của miễn trách nhiệm hình sự có thể là người đã bị kết án hoặc chưa

bị kết án Đối tượng của miễn hình phạt là người đã bị kết án bằng một bản án

Đặc điểm.

- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất

- Hình phạt được luật hình sự quy định và do toà án áp dụng

- Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối vối người hoặc pháp nhân thưong mại có hành vi phạm tội

Mục đích.

- Theo Điều 31 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Mục đích của hình phạt

Trang 35

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Phân biệt hình phạt chính với hình phạt bổ sung.

Đối với cá nhân:

- Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

- Cấm cư trú;

- Quản chế;

- Tước một số quyền công dân;

- Tịch thu tài sản;

- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính;

- Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính

Đối với pháp nhân:

- Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định;

Hình phạt bổ sung:

- Hình phạt bổ sung nhẹ hơn rất nhiều so với hình phạt chính

Điều 5: Các căn cứ quyết định hình phạt Cho ví dụ với mỗi căn cứ.

Trang 36

Căn cứ quyết định hình phạt

Căn cứ vào quy định của bộ luật hình sự

+ VD: Quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 2 Bộ Luật Hình sự), quy định về nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội (khoản 1 Điều 3

Bộ Luật Hình sư), các quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội (Điều 50 Bộ Luật Hình sư), các quy định trong tủng tội phạm cụ thể

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

+ VD:

Căn cứ vào nhân thân của người phạm tội

+ VD: Người nhiều lân phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm hơn người phạm tội lần đầu

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nghiệm hình sự

+VD

Điều 6: Phân tích quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn điều luật- Điều

47 BLHS (điều kiện, nguyên tắc áp dụng, giới hạn của hình phạt được quyết định).

Điều 7: Phân tích quy định của pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50 BLHS).

Điều 8: Hãy nêu cách thức tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án (Điều 51 BLHS).

Điều 9: Phạm tội nhiều lần là gì? Phần biệt trường hợp phạm nhiều tội với phạm tội nhiều lần.

Khái niệm

Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứutrách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử.ái niệm

Phân biệt

Đặc điểm duy nhất để phân biệt hai tình tiết này là: số lần phạm tội từ hai lần trở lên nhưng ở tình tiết phạm tội nhiều lần thì những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, còn ở tình tiết phạm nhiều tội thì những tội ấy được quy định tạ các

Ngày đăng: 17/07/2022, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w