Câu 1: Nguồn gốc, Bản chất, Chức năng, Vai trò của tôn giáo. Khái niệm tôn giáo ? Tôn giáo được hiểu chung là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia. • Bản Chất Của Tôn Giáo: Quan điểm ngoài mác xít, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội. Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình tôn giáo khác nhau. Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, các cách hiểu về tôn giáo, vì vậy rất khác nhau. Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu như Platôn, Hê ghen... Đều xuất phát từ thực thể tinh thần như "ý niệm", "ý niệm tuyệt đối" để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội, trong đó có tôn giáo. Theo họ, tôn giáo là một sức mạnh kì bí thuộc "tinh thần" tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu như: Béc cơ li, lại cho tôn giáo là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không lệ thuộc vào hiện thực khách quan....................... Câu 2: Đạo Phật. - Hoàn cảnh ra đời: Đạo Phật ra đời vào thế kỉ thứ VI Trước Công Nguyên ở Ấn Độ trên vùng đất thuộc Nêpan ngày nay. Đây là thời kì phát triển cực thịnh của đạo Bà la môn cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị xã hội. Dân cư trong xã hội Ấn Độ cổ đại lúc này chia thành 4 đẳng cấp là Bà la môn, Sát đế lị, Vệ xá và Thủ đà la. Sự phân biệt đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, từ địa vị xã hội, quyền lợi kinh tế đến quan hệ giao tiếp, ăn mặc, đi lại, sinh hoạt tôn giáo.v.v...Đẳng cấp Thủ đà la ở địa vị dưới đáy của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên. Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra vô cùng khắc nghiệt khiến cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người Thủ đà la căm ghét chế độ đẳng cấp. Nhiều trào lưu tư tưởng chống lại đạo Bà la môn và chế độ đẳng cấp của nó đã ra đời, trong đó có đạo Phật. Sự ra đời đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là thái tử Cồ đàm Tất Đạt Đa, con vua Tĩnh Phạm nước Ca tỳ la vệ ở chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần của Ấn Độ ngày nay. Đạo Phật ra đời, trên thực tế là sự phủ nhận chế độ đẳng cấp của đạo Bà la môn. Giáo lí đạo Phật sâu sắc, hấp dẫn, đề cao sự bình đẳng, hướng tới sự tự giải thoát; lễ nghi đạo Phật đơn giản, không tốn kém như đạo Bà la môn, nên nhanh chóng thu hút được đông đảo tín đồ. - Giáo lí cơ bản: Giáo lí cơ bản của đạo Phật được thể hiện qua những khái niệm như: vô tạo giả, vô thường, vô ngã, tứ diệu đế.... Vô tạo giả, vô tạo giả là không có kẻ sáng tạo đầu tiên. Vô thường, vô thường tức vạn pháp trong vũ trụ không đứng yên mà luôn chuyển động, biến đổi theo chu trình: Thành - trụ - hoại - không hay Sinh - trụ - dị - diệt. Như vậy, thế giới luôn biến đổi, vô thủy, vô chung, không có bắt đầu, không có kết thúc. Thế giới sự vật biến đổi không phải do thần thánh, mà là tự nó (tự kỉ nhân quả). Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giả tạm. Do đó, thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực, là vô thường. Vô ngã, giáo lí đạo Phật cho con người là "một pháp" đặc biệt của thế giới, bao gồm phần sinh lí và tâm lí, là sự kết hợp của Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức).......................................... Câu 3: Đạo Kitô. - Hoàn Cảnh Ra Đời: Đạo Ki tô là tên gọi chung của các tôn giáo cùng thờ một đấng thượng để là Crixtô, phiên âm Hán Việt là Cơ đốc. Đạo này ra đời vào khoảng thế kỉ I Trước Công Nguyên ở các tỉnh phía đông Đế quốc La Mã cổ đại. Về mặt xã hội, sự ra đời đạo Ki – tô chính là xuất phát từ nhu cầu tinh thần của nhân dân trông chờ vào một đấng cứu thế có thể giải thoát cho họ khỏi cuộc sống hiện tại. Về triết học, sự xuất hiện đạo Ki tô dựa trên cơ sở tư tưởng là triết học khắc kỉ đang rất lưu hành lúc đó. Về tôn giáo, sự ra đời đạo Ki tô dựa trên sự kế thừa nhiều yếu tố thần học và tín ngưỡng, phong tục, tập quán. Như vậy, giáo lí của đạo Do Thái, tư tưởng triết học của phái khắc kỉ và đời sống cực khổ không lối thoát của nhân dân bị áp bức là những nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh đạo Ki tô. - Giáo Lí Cơ Bản: Giáo lí của đạo Ki tô chứa đựng trong Kinh Thánh. Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu Ước và Tân Ước. Theo giáo lí, thì Thiên Chúa có trước đời đời, có trước cả không gian và thời gian. Thiên Chúa có 3 ngôi: Cha – Con – Thánh thần. Tuy là 3 ngôi nhưng cùng một bản thể là thánh, Thiên Chúa 3 ngôi nhưng đều "đồng đẳng, đồng vinh, đồng quyền". Mỗi một ngôi có một chức năng, vai trò khác nhau đối với con người. Ngôi một – Cha: tạo dựng, Ngôi hai – Con: ứu chuộc, Ngôi ba – Thánh thần: thánh hóa. Thiên Chúa là đấng thiêng liêng, sáng láng, là chúa tể trời đất và muôn loài, có quyền phép vạn năng xếp sắp, vận hành trật tự trong vũ trụ. Mọi sự tồn tại trong vũ trụ đều do Thiên Chúa tiền định một cách hợp lí và tuyệt đối. Con người do Thiên Chúa tạo nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, có nhiệm vụ thờ phụng Thiên Chúa và tiếp tục công cuộc kiến tạo trái đất của Thiên Chúa.............................. Câu 4: Đạo Hồi ( Đạo I Xlam). - Hoàn cảnh ra đời. Đạo Hồi hay còn gọi là đạo I Xlam, sự ra đời của đạo I−xlam gắn liền với quá trình chuyển từ chế độ công xã thị tộc lên xã hội có giai cấp trong xã hội Ả rập. Tín ngưỡng thờ đa thần, trở nên không còn phù hợp, cản trở khuynh hướng đi lên từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp của người Ả rập. Nhu cầu về tín ngưỡng độc thần xuất hiện. Sự ra đời của đạo I xlam gắn liền với tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp của Mô ha mét, ông là người truyền đạo I Xlam. - Giáo lý cơ bản. Giáo lí đạo I-xlam được trình bày trong kinh Co ran (kinh đọc, tụng). Người theo đạo I−xlam cho rằng, kinh Co–ran là những lời giáo huấn của Thượng Đế cho loài người, mà Mô ha mét đã nhận được qua Thiên Thần Giê bri en. Thực ra, đó là những lời rao giảng của Mô ha mét cho các tín đồ trong quá trình truyền giáo, sau này được sưu tầm, biên soạn thành văn bản, và lưu truyền đến ngày nay. Kinh Co ran được thiêng liêng hóa, coi là chân lí, trong đó có những điều răn dạy về giáo lí, luật lệ, lễ nghi, sự thờ phụng, cách thức hành đạo, điều kiện nhập đạo, mối hệ gia đình, xã hội, đồng đạo, các nguyên tắc cư xử... tất cả quan việc đạo và đời. Kinh Co-ran thường được lấy làm chuẩn mực cho tất cả, được lấy để thề nguyền trong phiên tòa, trong sự tranh chấp, xô xát. Kinh được viết bằng tiếng Ả rập, nay vẫn giữ nguyên không thay đổi. - Luật lệ và nghi lễ thờ cúng. Giáo luật của đạo I-xlam thể hiện tập trung ở “5 cốt đạo” là: 1 – Biểu lộ đức tin: Tín đồ biểu lộ đức tin bằng việc tuyên xưng, rằng chỉ tin vào một Thượng đế duy nhất là Thánh A la và sứ mạng cao cả của tiên tri Mô ha mét, đồng thời kiên nhẫn đón nhận những lời tiên định của thánh A la, làm đúng lời răn dạy của Thánh và tiên tri đã ghi trong kinh Co ran..............................
Trang 1Đề Cương Tôn Giáo Học
Câu 1: Nguồn gốc, Bản chất, Chức năng, Vai trò của tôn giáo.
Khái niệm tôn giáo ?
Tôn giáo được hiểu chung là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia
• Bản Chất Của Tôn Giáo:
Quan điểm ngoài mác xít, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình tôn giáo khác nhau Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, các cách hiểu về tôn giáo, vì vậy rất khác nhau
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu như Platôn, Hê ghen Đều xuất phát từ thực thể tinh thần như "ý niệm", "ý niệm tuyệt đối" để giải thích các hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội, trong đó có tôn giáo Theo
họ, tôn giáo là một sức mạnh kì bí thuộc "tinh thần" tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí cho con người
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu như: Béc cơ li, lại cho tôn giáo
là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không lệ thuộc vào hiện thực khách quan
Một số nhà thần học như Tômát Đacanh, Phôn ti lích, v.v xem tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng liêng, huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau và có được hạnh phúc Niềm tin vào cái thiêng liêng, cái siêu nhiên ở đây chính là niềm tin vào Thượng đế Như vậy niềm tin vào cái "tối thượng" (Thượng đế) chính là tôn giáo
Chủ nghĩa duy vật trước Mác từ Đế mô crít đến Ph Bê cơn , T.Hộp xơ v.v đều có lập trường không triệt để về vấn đề tôn giáo, mặc dù cơ sở thế giới quan của họ là thừa nhận tính thứ nhất của thế giới vật chất
Quan điểm mác xít, tôn giáo về bản chất, không phải là sản phẩm của thần thánh, là cái siêu nhiên, thần bí mà là sản phẩm của xã hội Tôn giáo là hiện tượng thuộc đời sống tinh thần của xã hội, chịu sự quy định của đời sống vật chất Ở đây không phải tinh thần, ý thức quyết định đời sống hiện thực mà ngược lại Ý thức, trong đó có ý thức tôn giáo, chỉ là ý thức của cá nhân, cộng đồng người trong xã hội, phản ánh tồn tại xã hội
Trang 2Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đều xem sản xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính lịch
sử xã hội, trong đó có tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, một sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định
C.Mác cho rằng không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo "Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược Tôn giáo là lí luận chung của thế giới ấy, là logic dưới hình thức phổ cập của nó, là vấn đề danh dự duy linh luận của nó, là
sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó Tôn giáo biến bản chất con người thành tỉnh hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân"
Như vậy C.Mác đã làm rõ bản chất xã hội của tôn giáo Tôn giáo không phải
là cái tự có mà là sản phẩm của con người xã hội, cũng tức là phương thức tồn tại của con người
Tôn giáo là sự phản ánh xã hội con người vào trong ý thức của con người Song sự phản ánh đó chỉ là sự phản ánh phi lí tính, hoang đường, bóp méo hiện thực, để rồi sau đó lấy cái phi lí, hoang đường làm chuẩn mực để giải thích hoặc chi phối hiện thực của con người
Không phải con người cá nhân, riêng lẻ mà là con người xã hội đã sản sinh
ra tôn giáo, do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội
Tôn giáo là sản phẩm của ý thức con người, là sự phản ánh của ý thức con người về trạng thái xã hội trong đó con người sống Vì thế tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt phản ánh cái tồn tại xã hội đã sinh ra nó
Ở đây C.Mác xem xét bản chất của tôn giáo trên cơ sở xem xét bản chất đời sống xã hội, môi trường xã hội trong đó nảy sinh và nuôi dưỡng tôn giáo Để khắc phục những hạn chế tôn giáo cần phải khắc phục những hạn chế xã hội đã trói buộc tự do của con người
• Nguồn Gốc Của Tôn Giáo:
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nảy sinh trên cơ sở kinh tế – xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Do đó,
Trang 3tìm nguồn gốc hình thành của nó không phải trong "ý thức" mà phải trong lịch sử xã hội, lịch sử hoạt động thực tiễn của con người
- Nguồn gốc xã hội của tôn giáo:
Sự bất lực của con người trước các thế lực tự nhiên, lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các hình thái kinh tế – xã hội Hình thái kinh tế – xã hội cộng sản nguyên thủy
ra đời trên cơ sở nền sản xuất hết sức thấp kém Nền kinh tế tự nhiên lấy săn bắt, hái lượm là chính Cuộc sống của con người
lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên Do lực lượng sản xuất thấp kém, giới tự nhiên kì bí, bao quanh con người đe dọa cuộc sống của
họ Những thiên tại bất thần như mưa, bão, nắng hạn, động đất, cháy rừng, thú dữ, bệnh tật luôn rình rập Con người cảm thấy bất lực trước tự nhiên Họ thần thánh hóa sức mạnh của tự nhiên và sau đó lại cầu xin sự che chở, cứu giúp của những sức mạnh đã được thần thánh hoá đó
Sự bất lực của con người trước các thế lực xã hội, Về sau, trong xã hội có giai cấp thì cùng với lực lượng bí ẩn của giới tự nhiên là lực lượng mang tính xã hội luôn thống trị cuộc sống hàng ngày của quần chúng nhân dân Bế tắc trong đời sống hiện thực, con người tìm sự giải thoát trong đời sống tinh thần,
họ tìm đến tôn giáo Trong xã hội có giai cấp, sự áp bức bóc lột giai cấp, sự tàn bạo, bất công, chiến tranh, đói khổ và bệnh tật cũng là những nguyên nhân xã hội làm nảy sinh tôn giáo Như vậy, có thể nói nguồn gốc xã hội của tôn giáo là tính hạn chế của lực lượng sản xuất kéo theo sự hạn chế trong quan hệ giữa con người với nhau trong xã hội C.Mác cho rằng, tính hạn chế thực tế đó, đã phản ánh vào trong những tôn giáo cổ đại, thể hiện sự bất lực của con người những sức mạnh đang thống trị con người
- Nguồn gốc nhận thức của tô giáo:
Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người
về hiện thực khách quan Nhờ có nhận thức, con người mới có ý thức về thế giới Ý thức về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức thế giới của con người
Trang 4Con người nhận thức về thế giới bên ngoài và tự nhận thức
về chính mình, song khả năng nhận thức của một con người, một thế hệ, một thời đại là có hạn Khi không hiểu hết các hiện tượng tự nhiên và xã hội con người dễ đi đến với tôn giáo
Trong xã hội hiện đại còn biết bao điều bí ẩn đối với con người Nhiều hiện tượng diễn ra nhưng con người chưa lí giải nổi Đó chính là điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi, tái tạo và nảy sinh ý thức tôn giáo
Cơ sở cho sự ra đời của tôn giáo không chỉ vì sự nhận thức có giới hạn của con người trước thực tại khách quan mà còn gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức Đó là sự tuyệt đối hóa, cường điệu một mặt của chủ thể nhận thức, đem cái chủ quan thay thế cho cái khách quan, áp đặt cái chỉ tồn tại trong
tư duy cho cái tồn tại bên ngoài tư duy Khả năng trừu tượng hóa của tư duy một mặt giúp hình thành cái chung trong tư duy, nhưng mặt khác lại tạo ra những cơ sở làm nảy sinh tôn giáo Sự nhận thức diễn ra theo chiều hướng phiến diện, đơn giản, xơ cứng…dẫn đến phản ánh sai lệch thế giới hiện thực chính là cơ sở hình thành các biểu tượng về thần thánh
V.I.Lê nin đồng ý với ý kiến của Phoi ơ bắc, rằng: " Thượng
đế siêu hình không phải một cái gì khác mà là sự tập hợp, là toàn bộ những đặc tính chung nhất rút ra từ giới tự nhiên, song con người, nhờ vào sức tưởng tượng, tức là chính bằng phương pháp tách rời chủ thể khỏi bản chất cảm tính, khỏi vật chất của giới tự nhiên, lại đem giới tự nhiên biến thành chủ thể hay một thực thể độc lập"
- Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
Một trong những nhu cầu thiết yếu của con người là được gửi gắm, giải tỏa những bức xúc trong đời sống tinh thần
Ph.Ănghen cho rằng: "Tôn giáo vẫn có thể tiếp tục tồn tại với
tư cách là một hình thức trực tiếp, nghĩa là một hình thức cảm xúc trong quan hệ của con người đối với các lực lượng xa lạ, tự nhiên và xã hội đang thống trị họ" "Hình thức cảm xúc" ở đây, chính là hình thức thể hiện của ý thức tôn giáo, của niềm tin vào lực lượng siêu nhiên
Trang 5Những trạng thái tâm lí tiêu cực là một trong những nguồn gốc nảy sinh ý thức tôn giáo Tâm lí, tình cảm xét dưới góc độ triết học là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh trực tiếp cuộc sống phong phú sinh động Tôn giáo ra đời trên cơ sở của tâm lí, tình cảm con người và cộng đồng người trong xã hội Trong cuộc sống, những trạng thái tâm lí mang tính cực như
cô đơn, bất hạnh, đau khổ, nỗi kinh hoàng, sợ hãi sự chán chường dễ dẫn con người đến với tôn giáo Con người tìm đến với tôn giáo để mong được sự an ủi, che chở cứu giúp Tôn giáo như "thuốc phiện" làm giảm nỗi khổ đao của con người trong cuộc sống hiện thực Mặc dù chỉ là "hạnh phúc hư ảo", "mặt trời tưởng tưởng" xoay xung quanh con người, nhưng tôn giáo lại có sức hấp dẫn kì lạ Tôn giáo nhiều khi là phương tiện khá hữu hiệu giúp con người cân bằng sự hẫng hụt tâm lí, giải thoát nỗi bất hạnh cô đơn của con người trong cuộc sống
Những trạng thái tâm lí tích cực như sự hân hoan, vui sướng, mãn nguyện, sự thăng hoa, lòng kính trọng, tự hào.v.v một cách thái quá đôi khi cũng có thể là một trong những nguyên nhân dẫn con người đến với tôn giáo Con người muốn được san
sẻ trong tôn giáo những tình cảm vui sướng của mình, muốn được đắm mình trong không gian tôn giáo để được sống trong trạng thái ảo giác, được hướng về cái thiêng liêng cao cả và đôi khi, được lãng quên hiện tại Sự thành đạt, may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống nhiều khi lại được hiểu là do thần thánh ban cho Trong các lễ hội tôn giáo, bên cạnh phần nghi lễ thiêng liêng là phần hội hè vui vẻ Tâm lí hồ hởi, phấn khởi, tự giác tham gia các lễ hội tôn giáo cũng là một trong những điều kiện đưa con người dần dần đến với tôn giáo
Ngoài ra, các yếu tố như thói quen, truyền thống, phong tục, tập quán cũng là những nguyên nhân tâm lí dẫn đến sự hình thành và phát triển tình cảm và niềm tin tôn giáo
• Chức Năng Của Tôn Giáo:
- Chức năng "đền bù hư ảo”
Tôn giáo giống như liều thuốc an thần thường làm dịu, làm nhẹ nỗi đau của con người Niềm tin vào đấng tối cao mong được sự che chở, cứu vớt thường làm cho con người có cảm giác
Trang 6được đền bù, xoa dịu, hạnh phúc cho dù đó chỉ là "hạnh phúc
hư ảo"
- Chức năng thế giới quan
Ý thức tôn giáo là ý thức về một "thế giới lộn ngược", là một cách lí giải mơ hồ về thế giới Thế giới quan tôn giáo dựa trên
cơ sở của chủ nghĩa duy tâm, đề cao thực thể tinh thần, coi đó
là cái sáng tạo, chi phối thế giới hiện thực Thế giới quan tôn giáo thường xa lạ với thế giới quan khoa học Những chức sắc trong các tổ chức tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền thế giới quan tôn giáo mong hình thành trong tín
đồ hệ thống những quan niệm về thế giới, từ đó hướng họ vào việc thực hiện những qui chuẩn, giá trị tôn giáo
- Chức năng điều chỉnh hành vi
Tôn giáo nào cũng có hệ thống những chuẩn mực, giá trị nhằm điều chỉnh hành vi của tín đồ trong các quan hệ xã hội của họ Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện vừa tự giác, vừa bắt buộc tùy thuộc vào sự nhận thức của tín đồ, vào việc duy trì các quy phạm giáo luật, các điều kiêng kỵ của tổ chức tôn giáo Thí dụ, tín đồ đạo Cơ đốc có lễ xưng tội, tín đồ đạo Phật cầu niệm Phật để tự nhận thức, điều chỉnh những hành vi của mình
- Chức năng liên kết
Trong lịch sử xã hội có giai cấp, tôn giáo là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, do đó cũng là nhân tố t liên kết xã hội, góp phần duy trì, bảo vệ những trật tự xã hội hiện hành dựa vào những hệ thống giá trị và chuẩn mực chung của
xã hội
Tuy nhiên, không phải lúc nào tôn giáo cũng là một nhân tố liên kết xã hội mà nhiều khi trong những điều kiện lịch sử nhất định tôn giáo lại là nhân tố gây mất ổn định xã hội
- Chức năng giao tiếp
Các tín đồ của một tôn giáo giao tiếp với nhau thông qua các sinh hoạt tôn giáo
Sự giao tiếp (liên hệ) với nhau đó tạo nên sự gắn kết trong cộng đồng, trong tín hữu
Trang 7Chức năng giao tiếp của tôn giáo còn được biểu hiện ở chỗ, các tín đồ không những chỉ liên hệ với nhau với tư cách là những người đồng tín ngưỡng mà còn liên hệ với những người khác không cùng tín ngưỡng Đó chính là sự giao tiếp xã hội rộng lớn, ngoài phạm vi tôn giáo, mang tính kinh tế chính trị, văn hóa
Đặc biệt các tín đồ tôn giáo còn có mối liên hệ, mối giao tiếp với một thực thể siêu nhiên đó là thần thánh Tín đồ giao tiếp với thần thánh thông qua việc thực hiện các nghi thức cầu cúng trong các không gian tôn giáo
• Vai Trò Của Tôn Giáo:
- Vai trò tiêu cực:
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, tôn giáo chỉ là hạnh phúc hư
ảo của nhân dân, là vòng hào quang thần thánh trong cái biển khổ của nhân dân, là những bông hoa tưởng tượng trên xiềng xích của con người, là mặt trời ảo tưởng xoay xung quanh con người
Do đó, tôn giáo thường hạn chế sự phát triển tư duy duy vật, khoa học, làm cho con người có thái độ nhẫn nhục, khuất phục, không tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tạo dựng hạnh phúc thật sự nơi trần gian, mà lại hy vọng hạnh phúc ở cuộc sống sau khi chết
Trong xã hội có giai cấp, tôn giáo thường bị giai cấp thống trị lợi dụng để thực hiện ý đồ chính trị Nhiều khi tôn giáo là thứ rượu mạnh, men say dễ làm cho người ta có thái độ mù quáng
và hành vi cuồng tín Tôn giáo cũng còn bị một số người lợi dụng cầu lợi Họ biến các không gian tôn giáo linh thiêng thành nơi có thể "buôn thần bán thánh"
Vì cơ sở nhận thức của tôn giáo là chủ nghĩa duy tâm, thần
bí, nên bản thân tôn giáo chứa dựng những yếu tố mê tín Mà
mê tín là niềm tin mù quáng, mê muội vào những cái thần bí như thần, thánh, ma, quỷ, số mệnh, bùa phép không dựa trên
cơ sở thế giới quan hay phương pháp tu hành của tổ chức tôn giáo nào
Trang 8Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, đấu tranh chống tôn giáo là đấu tranh chống lại cơ sở hiện thực làm nảy sinh tôn giáo Cần hạn chế mặt tiêu cực, khơi dậy và sử dụng mặt tích cực của tôn giáo
- Vai trò tích cực:
Bên cạnh những biểu hiện tiêu cực, tôn giáo cũng có những mặt tích cực của nó Điều đó thể hiện ở chỗ: Tôn giáo vừa là sự phản ánh sự khốn cùng của hiện thực, đồng thời lại là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng của hiện thực ấy Đó chính là sự đấu tranh chống lại sự bất công, tàn bạo trong xã hội có giai cấp và bóc lột giai cấp
Tôn giáo bao giờ cũng đề cao tính nhân văn, hướng thiện Khuyên con người thương yêu giúp đỡ nhau, tránh điều ác, phi nhân cách, phi đạo đức Đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với đạo đức xã hội, và nhiều khi trở thành những giá trị văn hóa tinh thần của nhân loại
Tôn giáo là một thành tố của văn hóa Các nền văn minh lớn trên thế giới thường mang dấu ấn của tôn giáo Nhiều khi người
ta lấy tên của một tôn giáo để chỉ đặc điểm, sắc thái của một nền văn hóa Thí dụ: Văn hóa Cơ đốc giáo, văn hóa Hồi giáo, văn hóa Phật giáo Tôn giáo luôn là mảnh đất màu mỡ, trên đó hình thành và phát triển những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng Đảng và Nhà nước ta đặc biệt đánh giá cao vai trò tích cực của đạo đức tôn giáo
Câu 2: Đạo Phật.
- Hoàn cảnh ra đời:
Đạo Phật ra đời vào thế kỉ thứ VI Trước Công Nguyên ở Ấn Độ trên vùng đất thuộc Nêpan ngày nay Đây là thời kì phát triển cực thịnh của đạo Bà la môn cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị xã hội Dân cư trong xã hội Ấn Độ cổ đại lúc này chia thành 4 đẳng cấp là Bà la môn, Sát đế lị, Vệ xá và Thủ đà la
Sự phân biệt đẳng cấp thể hiện ở nhiều mặt, từ địa vị xã hội, quyền lợi kinh tế đến quan hệ giao tiếp, ăn mặc, đi lại, sinh
Trang 9hoạt tôn giáo.v.v Đẳng cấp Thủ đà la ở địa vị dưới đáy của xã hội, làm nô lệ cho ba đẳng cấp trên
Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra vô cùng khắc nghiệt khiến cho tầng lớp đa số trong xã hội – những người Thủ đà la căm ghét chế độ đẳng cấp Nhiều trào lưu tư tưởng chống lại đạo Bà la môn và chế độ đẳng cấp của nó đã ra đời, trong đó có đạo Phật
Sự ra đời đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi người sáng lập là thái tử Cồ đàm Tất Đạt Đa, con vua Tĩnh Phạm nước Ca tỳ la vệ
ở chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần của Ấn Độ ngày nay
Đạo Phật ra đời, trên thực tế là sự phủ nhận chế độ đẳng cấp của đạo Bà la môn Giáo lí đạo Phật sâu sắc, hấp dẫn, đề cao sự bình đẳng, hướng tới sự tự giải thoát; lễ nghi đạo Phật đơn giản, không tốn kém như đạo Bà la môn, nên nhanh chóng thu hút được đông đảo tín đồ
- Giáo lí cơ bản:
Giáo lí cơ bản của đạo Phật được thể hiện qua những khái niệm như: vô tạo giả, vô thường, vô ngã, tứ diệu đế
Vô tạo giả, vô tạo giả là không có kẻ sáng tạo đầu tiên
Vô thường, vô thường tức vạn pháp trong vũ trụ không đứng
yên mà luôn chuyển động, biến đổi theo chu trình: Thành trụ -hoại - không hay Sinh - trụ - dị - diệt Như vậy, thế giới luôn biến đổi, vô thủy, vô chung, không có bắt đầu, không có kết thúc Thế giới sự vật biến đổi không phải do thần thánh, mà là
tự nó (tự kỉ nhân quả) Sự vật, hiện tượng do con người nhận biết qua thần sắc, hình tướng chỉ là giả tạm Do đó, thế giới khách quan đang tồn tại chỉ là hư ảo, không có thực, là vô thường
Vô ngã, giáo lí đạo Phật cho con người là "một pháp" đặc biệt
của thế giới, bao gồm phần sinh lí và tâm lí, là sự kết hợp của Ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
Phần tâm lí bao giờ cũng dựa vào phần sinh lí, con người sinh – diệt là sự giả hợp của ngũ uẩn Khi ngũ uẩn hợp là sinh, khi ngũ uẩn tan là diệt Do đó không có cái gọi là "bản ngã" (cái tôi) Tồn tại con người chỉ là "vô ngã"
Trang 10Tứ diệu đế là 4 chân lí cao cả, gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế
và Đạo để
Khổ đế là chân lí nói về sự khổ Có nghĩa là "đau khổ", "đau
đớn", "buồn", "sự cơ cực" - tương phản với hạnh phúc Ở diệu
đế thứ nhất còn bao gồm những ý nghĩa sâu sắc hơn: "bất toàn", "vô thường", "trống rỗng", "giả tạm" Khổ đế trong nghĩa thông thường gọi là khổ khổ: sinh, lão, bệnh, tử, oán tăng hội, thụ biệt ly, sở cầu bất đắc Phật cho rằng: "Cuộc đời là bể khổ",
"Nước mắt của chúng sinh còn nhiều hơn nước biển" Khổ đế phát sinh do vô thường, chuyển biến, hoại khổ Hạnh phúc, khoái lạc sớm muộn cũng thay đổi Khi thay đổi nó phát sinh khổ hạnh Khổ vì những hoàn cảnh giới hạn của sinh tử trong ngũ uẩn (thủ uẩn ngũ) Ngũ uẩn vô thường, mà bất cứ cái gì vô thường đều là Khổ đế
Tập đế là chân lí nói về nguyên nhân của sự khổ Nguyên
nhân trực tiếp, rõ rệt và phổ biến gây lên sự khổ là dục vọng, bao gồm: ham muốn khoái lạc giác quan, ham muốn tài sản, ham muốn thế lực, ham muốn tư tưởng, ham muốn danh vọng,
và ham muốn những sự tin tưởng Mọi ham muốn đều có cội rễ
là tam độc, gồm: tham (lòng tham vị kỉ), sân (sự giận dữ) và si (sự mê si)
Diệt đế là chân lí nói về lối thoát cho khổ đau dứt ra khỏi sự
tiếp nối của Khổ đế Đây là chân lí cao cả về chấm dứt sự khổ,
đó là Niết bàn Muốn diệt trừ Khổ đế, phải diệt cội gốc chính của Khổ đế đó là lòng khao khát hay tham ái Bởi thế Niết bàn còn là diệt ái, sự diệt hẳn dục vọng
Đạo đế là chân lí về con đường chấm dứt Khổ đế Đây là con
đường trung đạo, vì nó tránh hai thái cực: chạy theo khoái lạc tầm thường và khổ hạnh ép xác Con đường thứ nhất thấp kém tầm thường, không lợi ích, là con đường của những người tầm thường Con đường thứ hai là khổ nhọc, không đáng có và không lợi ích
- Luât lệ:
Người tu hành dù là xuất gia hay tại gia, phải thực hiện đủ Ngũ giới và Thập thiện
+ Ngũ giới gồm: