ĐỀ CƯƠNG MÔN CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC CÂU HỎI CHƯƠNG V Câu 1: Vận dụng (tôn trọng nguyên tắc khách quan, phát huy tính năng động chủ quan) vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam, lấy ví dụ ? - Tôn trọng nguyên tắc khách quan: KN: Tôn trọng nguyên tắc khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Nguyên tắc này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở phương tiện cho hành động của mình. Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu củ đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể. Ví dụ: Những năm gần đây, trong công tác tuyển chọn cán bộ, một số lãnh đạo cấp cao vẫn ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mà ghét những người chính trực, hay nhiều đồng chí còn giữ thói “Một người làm quan cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia làm được hay không mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, tốt cho bà con bạn hữu có địa vị là được. Đã làm cho chất lượng cán bộ không đáp ứng được thực tế, và yêu cầu khách quan, gây tác hại lớn đến bộ máy nhà nước điển hình là những vụ tham nhũng trong những năm gần đây, như: Vụ án Đinh La Thăng và đồng phạm về tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “tham ô tài sản” xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng rồi phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện nó. Ví dụ: Nhà nước có chủ trương trồng cây ăn quả trên đất dốc, ở địa bàn tỉnh sơn la. Nếu như chỉ ban hành mỗi chủ trương đó thôi thì nó không thể thành hiện thực được, mà phải tổ chức dược lực lượng vật chất là con người, công cụ lao động, các cán bộ từ cấp xã đến địa phương quán triệt, tuyên truyền để người dân làm thì chủ trương đó mới thành hiện thực được. KL: Ngày nay, “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội”. - Phát huy tính năng động chủ quan: KN: Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính chất ấy. Phải tôn trọng tri thức khoa học. Câu 2: Phân tích nội dung và bản chất của Chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC) với tính cách là hạt nhân lý luận của Thế gới quan khoa học (TGQKH). 1. Nội dung: Có 2 nhóm quan điểm: - Quan điểm duy vật về thế giới: Tồn tại của thế giới là tiền đề thống nhất thế giới: Trước khi thế giới có thể là một thể thống nhất thì trước hết thế giới phải tồn tại. Tính thống nhất thật sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, tính vật chất này được chứng minh bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự nhiên. Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới, có nội dung như sau: Thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn, vô hạn, vô tận. Trong thế giới vật chất chỉ tồn tại các quá trình vật chất cụ thể, có mức độ tổ chức nhất định; đang biến đổi chuyển hóa lẫn nhau là nguồn gốc, nguyên nhân của nhau; cùng chịu sự chi phối bởi các quy luật khách quan của TGVC. Ý thức, tư duy con người chỉ là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao; thế giới thống nhất và duy nhất. + Phạm trù vật chất: vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác. + Phạm trù ý thức, quan hệ giữa ý thức và vật chất: Ý thức của con người tồn tại trước hết trong bộ óc con người, sau đó thông qua thực tiễn lao động nó tồn tại trong các vật phẩm do con người sáng tạo ra. Ý thức gồm nhiều yếu tố: tri thức,tình cảm, niềm tin, ý chí… trong đó tri thức và tình cảm có vai trò rất quan trọng. Thông qua hoạt động thực tiễn, ý thức con người xâm nhập vào hiện thực vật chất tạo nên sức mạnh tinh thần tác động lên thế giới góp phần biến đổi thế giới. - Quan điểm duy vật về xã hội: Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, nó là kết quả phát triển lâu dài của tự nhiên, có quy luật vận động, phát triển riêng, sự vận động, phát triển của xã hội phải thông qua hoạt động thực tiễn. Sản xuất vật chất là cơ sở đời sống xã hội: Nền sản xuất vật chất trong từng giai đoạn lịch sử gắn liền với một phương tiện sản xuất nhất định, sự thay đổi PTSX sẽ làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội. Sự phát triển của xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên, là lịch sử phát triển các hình thái kinh tế xã hội một cách đa dạng nhưng thống nhất từ thấp đến cao, mà thực chất là lịch sử phát triển của xã hội. LLSX Phát triển => QHSX Phát triển => Phương Thức SX Phát triển => (Cơ Sở HT + Kiến Trúc TT) Phát triển => Học Thuyết KTXH Phát triển. Quần chúng nhân dân (QCND) là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử: QCND là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, sáng tạo ra mọi giá trị tinh thần, quyết định thành bại của mọi cuộc cách mạng. Vai trò chủ thể QCND biểu hiện khác nhau ở những điều kiện lịch sử khác nhau và ngày càng lớn dần; sức mạnh của họ chỉ được phát huy khi họ được hướng dẫn, tổ chức, lãnh đạo. 2. Bản chất của CNDV Biện Chứng: - CNDVBC đã giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn: CNDV cũ thiếu quan điểm thực tiễn, máy móc => không thấy được tính năng động của ý thức; riêng CNDVBC khẳng định vật chất có trước và quyết định ý thức; trong hoạt động thực tiễn ý thức tác động tích cực làm biến đổi hiện thực vật chất theo nhu cầu của con người. - CNDVBC đã thống nhất TGQDV với phép biện chứng: CNDV cũ mang nặng tính siêu hình, Phép BC được nghiên cứu trong hệ thống triết học duy tâm => Mác cải tạo CNDV cũ, giải thoát Phép BC ra khỏi tính thần bí, tư biện => xây dựng nên CNDVBC; thống nhất giữa TGQ Duy Vật với PBC. - CNDVBC là CNDV triệt để; nó không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn trong lĩnh vực xã hội. CNDV Lịch Sử là cống hiến vĩ đại của C.Mác cho kho tàng tư tưởng của loài người: CNDV cũ không triệt để; CNDV lịch sử ra đời là kết quả vận dụng CNDV vào nghiên cứu lĩnh vực xã hội, tổng kết lịch sử, kế thừa có phê phán toàn bộ tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn mới của giai cấp vô sản. Với CNDVLS nhân loại tiến bộ có được một công cụ vĩ đại trong nhận thức, cải tạo thế giới. - CNDVBC mang tính thực tiễn - cách mạng, nó hướng dẫn con người trong hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới: + CNDVBC là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản: Lợi ích giai cấp vô sản phù hợp lợi ích nhân loại tiến bộ, được luận chứng bằng những cơ sở lý luận khoa học => CNDVBC trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản có sự thống nhất tính khoa học và tính cách mạng. + CNDVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn góp phần cải tạo thế giới. + CNDVBC khẳng định sự tất thắng của cái mới: nó xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xây dựng cái mới tiến bộ. + CNDVBC là một hệ thống mở, là kim chỉ nam cho mọi hành động. Câu 3 : Anh ( chị) hãy phân tích cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta? * Cơ sở lý luận: Nguyên tắc khách quan trong xem xét được xây dựng dựa trên nội dung của nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới. Yêu cầu của nguyên tắc này được tóm tắt như sau: Khi nhận thức khách thể ( đối tượng ), sự vật,hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện. - Vật chất là cái có trước tư duy. Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đọan phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy. Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng. Mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được ”bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng. Không ép đối tượng thỏa mãn một sơ đồ chủ quan hay một “Lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó. - Toàn bộ “nghệ thuật” chinh phục bản chất của sự vật, hiện tượng được gói ghém trong sự tìm kiếm, chọn lựa, sử dụng những con đường, cách thức, phương tiện thâm nhập hữu hiệu vào “thế giới” bên trong của sự vật. “Nghệ thuật” chinh phục như thế không mang đến cho sự vật, hiện tượng một cái gì đó xa lạ với chính nó. Điều này đặt ra cho chủ thể một tình thế khó khăn. Làm như thế nào để biết chắc chắn những suy nghĩ của chúng ta về sư vật là khách quan, là phù hợp với bản thân sự vật? Nguyên tắc khách quan đòi hỏi được bổ sung thêm yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng . - Giới tự nhiên và xã hội không bao giờ tự phơi bày tòan bộ bản chất của mình ra thành các hiện tượng điển hình. Con người không phải chỉ nhận thức những cái gì bộc lộ ra trước chủ thể. Do đó để phản ánh khách thể như một chỉnh thể, chủ thể tư duy không thể không bổ sung những yếu tố chủ quan như đề xuất các giả thuyết, đưa ra các dự đóan khoa học…. Thiếu những điều này tư duy sẽ không mang tính biện chứng, sẽ không thể hiện bản tính sáng tạo thông qua trí tưởng tượng của chính mình. Yêu cầu phát huy tính năng động sáng tạo của chủ thể đòi hỏi chủ thể tư duy phải biến đổi, thậm chí cải tạo đối tượng để tìm ra bản chất của nó. Những biến đổi, cải tạo đó là chủ quan nhưng không phải tùy tiện, mà là những biến đổi và cải tạo đối tượng phù hợp quy luật của hiện thực thuộc lĩnh vực nghiên cứu . - Yêu cầu khách quan trong xem xét có ý nghĩa rất quan trọng trong nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội. Đối tượng nghiên cứu bao gồm cái vật chất và cái tinh thần chứa đầy những cái chủ quan, những cái lý tưởng và luôn chịu sự tác động của các lực lượng tự phát của tự nhiên lẫn lực lượng tự giác (ý chí,lợi ích, mục đích, nhân cách, cá tính khác nhau) của con người. Ở đây đối tượng, khách thể tư duy quyện chặt vào chủ thể tư duy bằng hệ thống những mối liên hệ chằng chịt. Do đó cần phải cụ thể hóa nguyên tắc khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội, tức là phải kết hợp nó với các yêu cầu phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể và nguyên tắc tính đảng. Điều này có nghĩa là nguyên tắc khách quan trong xem xét không chỉ bao hàm yêu cầu xuất phát từ chính đối tượng, từ những quy luật vận động và phát triển của nó, không được thêm bớt tùy tiện chủ quan, mà nó còn phải biết phân biệt những quan hệ vật chất với những quan hệ tư tưởng, các nhân tố khách quan với các nhân tố chủ quan, thừa nhận các quan hệ vật chất khách quan tồn tại xã hội là nhân tố quyết định. Còn những hiện tượng tinh thần, tư tưởng được quy định bởi đời sống vật chất của con người và các quan hệ kinh tế của họ nhưng chúng có ảnh hưởng ngược lại tồn tại xã hội. Phải coi xã hội là một là một cơ thể sống tồn tại và phát triển không ngừng chứ không phải là cái gì đó kết thành một cách máy móc. Phân tích một cách khách quan những quan hệ sản xuất cấu thành một hình thái kinh tế xã hội nhất định và cần phải nghiên cứu những quy luật vận hành và phát triển của hình thái xã hội đó. - Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội ….những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó. Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng. Việc xem thường nguyên tắc này dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp. * Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan trong xem xét : Nguyên tắc khách quan trong xem xét có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác của lôgíc biện chứng. Nó thể hiện ở yêu cầu cụ thể sau : - Trong hoạt động nhận thức: Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, tái hiện lại nó như nó vốn có mà không được tùy tiện đưa ra những nhận định chủ quan . Hai là: Phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể, đưa ra các giả thuyết khoa học có giá trị về khách thể, đồng thời biết cách tiến hành kiểm chứng các giả tuyết đó bằng thực nghiệm. - Trong hoạt động thực tiễn: Chủ thể phải: Một là: Xuất phát từ hiện thực khách quan, phát hiện ra những quy luật chi phối nó. Hai là: Dựa trên các quy luật khách quan đó, chúng ta vạch ra các mục tiêu, kế họach, tìm kiếm các biện pháp, phương thức để tổ chức thực hiện. Kịp thời điều chỉnh, uốn nắng họat động của con người đi theo lợi ích và mục đích đã đặt ra . Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức có nghĩa là phát huy vai trò tri thức, tình cảm, ý chí, lý trí ….tức là phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và họat động thực tiễn cải tạo hiện thực khách quan, vươn lên làm chủ thế giới . * Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam : Phải tôn trọng hiện thực khách quan, tôn trọng vai trò quyết định của vật chất. Cụ thể là : - Xuất phát từ hiện thực khách quan của đất nước, của thời đại để họach định các đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước . - Biết tìm kiếm, khai thác và sử dụng những lực lượng vật chất để hiện thực hóa đường lối, chiến lược, sách lược nhằm xây dựng và phát triển đất nước . - Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, coi đại đòan kết tòan dân tộc là động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các lợi ích khác nhau ( lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội ….) thành động lực mạnh mẻ thúc đẩy công cuộc đổi mới . - Đảng ta rút ra những bài học kinh nghiệm từ những sai lằm, thất bại trước đổi mới, Đảng ta kết luận :“ mọi đường lối, chủ trương của đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò của các yếu tố chủ quan ( tri thức, tình cảm …..) tức phát huy vai trò nhân tố con người trong họat động nhận thức và thực tiễn: - Coi sự thống nhất giữa tình cảm( nhiệt tình cách mạng, lòng yêu nước, ý chí quật cường ….) và tri thức ( kinh nghiệm dựng nước và giữ nước, hiểu biết khoa học ) là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc đổi mới. Chống lại thái độ ỷ lại, trì trệ, chỉ biết làm theo cách cũ mà không biết dũng cảm làm theo cái mới, biết khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường……phải phổ biến tri thức khoa học, công nghệ hiện đại cho đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, biết nâng cao dân trí, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. - Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng. Đặc biệt là giáo dục chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho đông đảo người Việt Nam chúng ta. Phải nâng cao và đổi mới tư duy lý luận mà trước hết là chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. - Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan , duy ý chí,lối suy nghĩa và hành động giản đơn, nóng vội theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng mà bất chấp quy luật khách quan, coi thường tình hình thực tế. Câu 3: Đảng ta khẳng định: “mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Anh chị hãy chỉ ra và phân tích cơ sở triết học của khẳng định đó? Ở Việt Nam, do bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng đã xuất hiện trước Đổi mới có nguyên nhân và gây ra tác hại lớn. Xuất phát từ hiện thực khách quan của nước ta yếu kém về năng lực tư duy, lạc hậu về lý luận, ít kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý đất nước; Đồng thời do sai lầm ấu trĩ “tả” khuynh, xảy ra trong một điều kiện lịch sử rất đặc biệt của dân tộc ta (Biết phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, khao khát thoát ra khỏi cuộc sống lầm than, nô lệ...) nhưng lại không xuất phát từ hiện thực, bất chấp quy bluật, coi thường tri thức KH,… Nên tạo ra những chính sách sai lầm, gây ra những hậu quả về nhiều mặt (kinh tế, xã hội…) rất nghiêm trọng & kéo dài. Để có thể khắc phục triệt để chủ nghĩa chủ quan phải quán triệt thực hiện nguyên tắc khách quan. Vì nguyên tắc khách quan là nguyên tắc đầu tiên của tư duy biện chứng, Vận dụng nguyên tắc khách quan kết hợp với chủ quan trong hoạt động nhận thức sẽ tránh được những sai lầm trong chính sách phát triển đất nước. Trên cơ sở quy luật khách quan đó, Đảng ta khẳng định “Mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”. Để làm được điều đó Phải tôn trọng hiện thực kh.quan, tôn trọng vai trò quyết định của VC, tức: + Xuất phát của hiện thực kh.quan của đất nước, của thời đại để hoạch định chiến lược, sách lược phát triển đất nước. + Biết tìm kiếm, khai thác, tổ chức những lực lượng vật chất (cá nhân – cộng đồng, kinh tế – quân sự, trong nước – ngoài nước, quá khứ – tương lai,…) để hiện thực hóa chúng. + Coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; Coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu phát triển đất nước. Biết kết hợp hài hòa các dạng lợi ích khác nhau (kinh tế, chính trị, tinh thần,...; cá nhân, tập thể, xã hội) thành động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đồng thời phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, ph.huy vai trò của các yếu tố chủ quan (tiềm thức, t.cảm, ý chí, lý trí,...), tức phát huy vai trò nhân tố chủ nghĩa trong h.động nhận thức & thực tiễn cải tạo đất nước. Cụ thể: + Coi sự thống nhất nhiệt tình cách mạng và tri thức KH là động lực tinh thần thúc đẩy công cuộc Đổi mới; Chống lại thái độ thụ động, ỷ lại, bảo thủ trì trệ; Bồi dưỡng nhiệt tình, phẩm chất cách mạng; Khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, tài trí người Việt Nam,… + Coi trọng công tác tư tưởng, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng (chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng HCM); Nâng cao và đổi mới tư duy lý luận (về CNXH & con đường đi lên CNXH). + Phổ biến tri thức KH cho cán bộ, đảng viên, nhân dân. + Kiên quyết khắc phục và ngăn ngừa tái diễn bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ, hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan ảo tưởng; bất chấp quy luật khách quan. Câu 4: Lý luận? Phương pháp? Anh ( chị) hãy nêu những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Việc tuân thủ nguyên tắc toàn diện sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Những yêu cầu phương pháp luận và phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện: Định nghĩa phương pháp luận: Là học thuyết (lý luận) về phương pháp; nó vạch ra cách thức xây dựng và nghệ thuật vận dụng phương pháp. Phương pháp luận còn được coi như “ một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát, những cách thức chung để thực hiện hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực. Mối liên hệ mang tính khách quan và phổ biến. Nó chi phối tổng quát sự vận động, phát triển của mọi sự vật, quá trình xãy ra trong thế giới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng. Mối liên hệ phổ biến được nhận thức trong các phạm trù biện chứng như mối liên hệ giữa: mặt đối lập - mặt đối lập; chất – lượng, cái cũ – cái mới; cái riêng- cái chung; nguyên nhân- kết quả; nội dung – hình thức; bản chất- hiện tượng; tất nhiên - ngẫu nhiên; khả năng – hiện thực. - Nội dung nguyên lý: + Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau. + Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ biến. + Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan, phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá trình vận động, phát triển của mọi sự vật hiện tượng xãy ra trong thế giới. * Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc toàn diện: - Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải: + Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vật càng tốt. + Phân loại để xác định những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định...; còn những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên, không ổn định… + Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) bên trong cơ bản, tất nhiên, ổn định…. Để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) còn lại. Qua đó xây dựng một hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…); phát hiện ra quy luật (bản chất) của nó. - Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải: + Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) chi phối sự vật. + Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là những công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ (…) bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng…. của nó. + Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…)của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế hay hạn chế sự tác động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta. + Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện,… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình. Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật. Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật chứ không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật, mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện. Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu,… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinh vi. => Trong xã hội nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà còn liên hệ nhận thức với cuộc sống; phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (các cá nhân hay giai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản; phải biết phát huy (hay hạn chế) mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa,..) từ các thành phần kinh tế khác, từ các tổ chức, chính trị xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn điều, tức không thấy được trọng tâm cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp. Việc tuân thủ nguyên tắc toàn diện sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động thực tiễn. Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chúng ta khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình. Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật. thường xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật hay hiện tượng mà không làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó. Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật nhưng không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện. Do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn. Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinh vi. Trong đời sống xã hội, nguyên tắc toàn diện có vai trò cực kỳ quan trọng. Nó đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà cần phải liên hệ nhận thức với thực tiễn cuộc sống, phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (các cá nhân hay các giai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản, phải biết phát huy hay hạn chế mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa…) từ các thành phần kinh tế, từ các tổ chức chính trị - xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn đều, tức không thấy được trọng tâm, trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp.
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN Lịch Sử Triết Học
Câu 1.Các thuyết về nhân, lễ, chính danh
- Những nguyên lý đạo đức căn nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng tử là: nhân, lễ,trí, dũng cùng với một hệ thống quan điểm về CT - XH nhân trị, chính danh, thượng hiền, quân
tử, tiểu nhân Trong đó phạm trù nhân được khổng tử đề cập với ý nghĩa sâu rộng nhất, nó đượccoi là nguyên lý đạo đức căn bản quy định bản tính con người từ trong gia tộc đến xã hội
- Theo Khổng tử “nhân có nghĩa là nhân đạo, nhân ái, thương yêu con người nhân
không chỉ riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính, người có nhân đồng nghĩa vớingười hoàn thiện nhất, nên “nhân’ là nghĩa rộng nhất của đạo làm người Đạo làm người có hàngvạn, hàng ngàn điều nhưng chung quy lại được thể hiện ở hai mặt sau:
+ Đối với mình: Người có nhân phải suy nghĩ đúng đắn, sống trong sạch không làm điều
xấu, điều ác, thương yêu người như thể thương thân mình phải tu thân theo 5 tiêu chuẩn: nhân,nghĩa, lễ, trí, tín
Ngoài ra nhân còn nhiều tiêu chuẩn khác như: trung, hiếu, cung, kính, khoan hoà, cầnmẫn, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, tự tách mình hơn là trách người, thận trọng biết yêu ngườiđáng yêu, biết ghét người đáng ghét
- Theo Khổng tử người có nhân là người trước hết phải làm những việc khó sau mới nghĩđến việc thu hoạch kết quả Là người nhân thì không xa rời nhân dù trước sau một bữa ăn vì nhânđâu phải xa, bởi bản tính con người là thiện nhưng vì con người quen thói đời, mê vật dục nênthấy nhân xa rời mình đó thôi
+ Đối với người: người nhân là người muốn lập thân phải giúp người lập thân, mình
muốn thành công phải giúp người thành công, những gì mình không muốn thì cũng đừng làm cho người khác.
- Như vậy khác với người “bất nhân”, người nhân vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào
dù đó là vinh hoa hay đói nghèo, túng thiếu Người có nhân cái cao cả nhất là đức nhân của mình,
có thể vì nhân mà sát thân chứ không thể vì thân mà hại nhân, vì có đức nhân con người sẽ tựkiềm chế được mình để tuân theo lễ tiết của xã hội
- Như vậy đức nhân trong Nho giáo không chỉ là thương yêu người mà thực chất là đạo làm người, nhân bao quát nhiều tiêu chuẩn đạo đức như vậy cho nên một người có một số tiêu chuẩn chưa được gọi là người có nhân.
- Nho giáo gọi người có nhân là người quân tử để đối lập với kẻ tiểu nhân: kẻ tiểu nhânkhi gặp khó khăn thì làm bậy, còn người quân tử khi gặp khó khăn thì đón nhận Vì vậy ông chorằng có thể có người quân tử làm điều bất nhân nhưng không hề có kẻ tiểu nhân có nhân
Trang 2- Như vậy mặc dù có nhiều hạt nhân hợp lý nhưng Nhân của KT còn có nhiều hạn chế: một mặt ông coi đức nhân cần cho mọi người nhưng mặt khác ông lại cho rằng người quân tử mới có nhân còn kẻ tiểu nhân thì không có đức nhân, thể hiện sự phân biệt đẳng cấp rất sâu sắc.
Vậy ai là người có đức nhân?
- Theo khổng tử muốn đạt đến đức nhân phải là người có “Trí” Nhờ có Trí mà con ngườimới sáng suốt minh mẫn để hiểu biết được đạo lý, xét đoán sự việc, phân biệt phải trái, thiện ác.Ông nói: có thể ngừơi có trí mà không nhân nhưng không thể là người nhân mà lại mà thiếu trí
- Theo khổng tử người muốn đạt nhân chỉ có trí thôi chưa đủ mà cần phải có “Dũng” nữa.Dũng ở đây không phải là kẻ ỷ vào sức mạnh hành động thiếu xuy nghĩ, mà người nhân có dũngphải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao minh, có thể hành động một cách thanhcao khi vận nước loạn lạc, là người quả cảm dám xả thân vì nhân nghĩa
Phạm trù nhân có nội dung khá phong phú và thâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, nó là sự kết tinh rực rỡ nhất và phản ánh rõ nét nhất sắc thái triết học của khổng tửm- triếthọc nhân sinh
- Tuy nhiên muốn đạt nhân phải tu thân qua “Lễ”, “Chính Danh”
* Lễ: là nghi lễ, kỷ cương, phép tắc, các quy phạm đạo đức giữa người với người.
Khổng tử khuyên: con người sống phải có Lễ, những điều không có Lễ thì không xem,không nói, không nghe, không nhìn
- Kết luận: Lễ của Khổng tử có ý nghĩa quan trọng cho việc tu thân, nó được xem là tiêu chítrong việc đối nhân xử thế, mục đích của lễ là duy trì trật tự xã hội, gia đình Tuy nhiên có hạn chế là
ít chú ý đến sự sáng tạo của con gười, gò con người vào kỷ cương, giáo điều máy móc (đặc biệt làphụ nữ với quan niệm tam tòng tứ đức)
* Chính danh: là làm việc cho ngay thẳng, người nào có địa vị bổn phận chính đáng của
người ấy và mỗi người sống, xử xự theo đúng cương vị của mình.
- Trong xã hội của Khổng tử trật tự, lễ nghĩa bị đảo lộn, đạo đức xuy vi Để cải biến xãhội đó khổng tử đã đưa ra thuýêt nhân trị, chính danh định phận.Khổng tử cho rằng mỗi vật vàmỗi người trong xã hội đều có một địa vị bổn phận chính đáng của người ấy, tương ứng với nó làmột danh nhất định
+ Chính danh có nghĩa là tên gọi, chức vụ, thứ bậc, địa vị của một người.
+ Chính thực: phận sự của người đó (gồm quyền lợi và nghĩa vụ).
Danh và thực phải phù hợp với nhau, danh và thực không phù hợp là loạn danh Danh vàthực của mỗi người trước hết là do các mối quan hệ xã hội quy định Và mỗi người luôn phải trảlời câu hỏi mình là ai?Đặc biệt là người làm chính trị trước hết phải chính danh bởi
Trang 3- Theo thuyết chính danh Khổng tử chia xã hội làm 5 mối quan hệ cơ bản (ngũ luân) gồm: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em, bạn - bè.
- Trong ngũ luân lại có 3 mối quan hệ cơ bản: vua - tôi, cha - con, chồng - vợ Trong đóông đặc biệt quan tâm tới quan hệ vua - tôi, cha - con
- Lưu ý: ở đây Ktử không bắt buộc con người phải phục tùng bề trên vô điều kiện như nội dung trung hiếu của nho gia sau này mà đối với Khổng tử trong xã hội chính danh là quan hệ 2 chiều: Quân
có nhân thì thần mới chung Phụ có từ thì tử mới hiếu.
Với nhiều mối quan hệ khác nhau và luôn thay đổi, khi hiểu được lễ và biết mình là ai thìphải “Định phận”
- Định phận tức là Phận sự, công việc, lời nói luôn phải phù hợp với cái danh của mình (Phận theo Danh và phụ thuộc vào Danh).
- Như vậy để XH yên bình, thì nho giáo không dùng pháp trị mà dùng đức trị để điềuchỉnh guồng máy xã hội Theo Khổng tử dựa vào pháp luật để trị dân, sử dụng hình phạt để chỉnhđốn họ thì họ tạm thời khỏi bị phạm tội nhưng lại không có Liêm sỷ nếu như dựa vào đạo đức đểtrị dân, sử dụng lễ giáo để chỉnh đốn họ thì họ không những có liêm sỷ mà còn quy phục
Câu 2.Triết học Mặc tử
- Mặc Định khoảng 486 - 420 tcn, xuất thân từ tầng lớp người tự do Dưới con mắt của giaicấp thị tộc chủ nô, ông thuộc lớp người tiểu nhân Thời đại của ông là thời đại chế độ quốc hữuruộng đất của chế độ thị tộc đang tan rã, chế độ tư hữu đang phát triển, thành thị ngày càng phồnvinh, dân tự do và thợ thủ công ngày càng có vị trí kinh tế đáng kể trong xã hội, họ có nhu cầugiải thể chế độ cũ, được tự do cạnh tranh làm giầu, được tham gia chính quyền Tư tưởng củaMặc định và học phái Mặc gia phản ánh nguyện vọng của dân tự do, sản xuất nhỏ
Thuyết kiêm ái (CT - XH)
- Xuất phát từ lập trường của người lao động, của một giai tầng đang lên cho nên họcthuyết chính trị - xã hội của ông có nhiều điểm tiến bộ dù còn nhiều ảo tưởng và dt
Ông cho rằng Trời là muốn mọi người đều thương yêu nhau, cùng làm lợi cho nhau.Chonên ông chủ trương Kiêm ái
- Kiêm ái: Kiêm là nghĩa, ái là nhân, do vậy nhân nghĩa là làm lợi cho người, là yêu hết thảy mọi người như nhau không phân biệt sang - hèn, thân -sơ, thứ - bậc
- Để giải thích tính đúg đắn và lợi ích của kiêm ái Mặc tử đã đưa ra thuyết tam biểu Theo ông muốn ngôn luận, xuy nghĩ chính xác phải căn cứ vào ba biểu là: Gốc, Nguyên, Dụng
+ Gốc: lấy ý chí của trời, quỷ thần, thánh vương xưa làm điểm xuất phát.
+ Nguyên (nguồn): phát hiện những thực tế khách quan (dò xét sự thật trước tai, mắt
thiên hạ)
Trang 4+ Dụng: thực hành những công việc có lợi cho dân, cho nước.
- Từ chỗ phân tích Tam biểu, lấy công lợi làm căn cứ, tiêu chuẩn cao nhất để xem xétthẩm định giá trị của Kiêm và Biệt
- Mặc tử đã khẳng định Kiêm là đúng, là mang lại lợi lớn cho con ngườilà trái, là gieo tai hoạ lớn cho thiên hạ.
- Vậy vai trò của Kiêm ái là gì? Kiêm ái là cái đạo của thánh nhân, là cái gốc của moị đứccủa con người, bậc vương công đại phu nhờ nó mà yêu, sự ăn măc của muôn dân nhờ nó mà no đủ.Cho nên bậc quân tử không gì bằng xét kỹ đức Kiêm mà thi hành nó Thi hành nó thì vua chúa ắt
có lòng huệ, làm bề tôi ắt có lòng trung, làm cha mẹ ắt có lòng từ, làm anh ắt có lòng thương em,làm em ắt có lòng kính anh
- Từ chỗ chỉ ra cái lợi của Kiêm ái, ông chủ trương dùng sức mạnh của nhà nước, của thểchế xã hội khiến mọi người thực hiện Kiêm ái bằng nguyên tắc “Thượng đồng”
- Để thực hiện Kiêm ái ông đưa ra những nguyên tắc sau:
+ Thượng đồng: theo ông thượng đồng là dưới phải hiếu trên, phục tùng tuỵệt đối mệnh
lệnh của trên, là sự thống nhất tư tưởng và hành động của mọi nngười trong xh, là sự đồng nhất cao nhất, là phục tùng ý trời, là thực hiện kiêm ái,
+ Thượng hiền: Coi trọng những người hiền tài,
+ Tiết dụng: phải tiết kiệm trong tiêu dung,
+ Tiết táng: tiết kiệm trong ma chay,
+ Minh quỷ: chứng mminh là có quỷ thần,
+ Phi nhạc: không mở lễ hội xa đoạ, vô dụng,
+ Thiên chí: ý chí của trời là yêu thương mọi người như nhau,
+ Kiêm ái:yêu thương mọi người như nhau,
+ Phi công: không đánh nhau, phản đối chiến tranh,
+ Phi mệnh: phản đối mệnh trời.
- Đây là mâu thuẫn trong tư tưởng của Mặc tử, một mặt ông cho trời quy đinh tất cả, mặtkhác ông phản đối mệnh trời.Theo quan điểm của ông 10 điều trên, cái gốc lễ nhất là kiêm ái vàphi công Ông giải thích: thiên hạ hỗn loạn, nhân dân khốn khổ là do quan hệ xã hội, nếu conngười đối xử tốt vơi nhau, yêu thương nhau, không có chiến tranh thì xã hội sẽ phát triển (thểhiện mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị)
- Như vậy mục đích cuối cùng của Kiêm ái là làm lợi cho thiên hạ và trừ hại cho thiên hạ.
Ông phản đối Phi công và ông phân biệt rất rõ và lên án chiến tranh phi nghĩa, ủng hộchiến tranh chính nghĩa, theo ông chiến tranh chính nghĩa cần làm và nên làm
Trang 5- Với khát vọng bình đẳng, phản đối chiến tranh phi nghĩa thì tư tưởng của ông còn mangtính chất ảo tưởng và duy tâm.
- Mặc tử phủ nhận những quan điểm nhân, nghĩa, chính danh, định pphận, thương yêu người thân của khổng - Mạnh Ông phủ nhận quan điểm chia xã hội thành quân tử- tiểu nhân Quan điểm đức trị của Mặc tử xuất phát từ người lao động, còn Khổng - Mạnh lại đứng trên tầng lớp trên, bảo vệ cho tầng lớp trên.
Câu 3.Pháp gia và triết học Hàn phi tử.
- Trong lịch sử tư tưởng TQCĐ, Pháp gia mà đại biểu xuất sắc nhất là Hàn phi tử, giữ vaitrò đặc biệt trong sự thống nhất đất nước và phất triển xã hội.Nếu như nho gia lấy: nhân, nghĩa,lễ…Mặc gia lấy kiêm ái để trị nước, còn đạo gia lấy “vô vi nhi trị” , thì pháp gia đề cao pháp luậttrong phép trị nước
- Pháp gia là một trường phái triết học có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp thống nhất về tư tưởng, chính trị của xã hội trung quốc mà người đại biểu là Hàn phi tử.
- Hàn phi tử khoảng 280 - 233 tcn, xuất thân từ gia đình quý tộc, người nước Hàn ông đề cao phép trị quốc bằng pháp luật, là một người có tư tưởng duy vật tiêu biểu của thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc.
- Thời kỳ xuân thu chiến quốc là thời kỳ chuyển biến từ HTKTXH nô lệ suy tàn đangchuyển sang HTKTXH phong kiến, làm trật tự xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi Để cải biến xãhội ấy các trường phái triết học khác nhau đưa ra các phương pháp khác nhau.Pháp gia coi hìnhpháp là công cụ quan trọng cho sự ổn định chế độ xã hội và củng cố chế độ phong kiến chuyênchế ở Trung Quốc
a) Quan điểm về thế giới.
- Vận dung thuyết đạo và lý vào phép trị nước theo ông khi Lý đã thay đổi, thì phươngpháp trị nước, cải cách chế độ xã hội là tất yếu, và phương pháp đó chính là pháp trị
- Hàn Phi Tử cho rằng ngày nay cái “Lý” (tức là thời thế, hoàn cảnh) đã thay đổi thì phéptrị nước không thể viện dẫn theo “đạo đức” của Nho gia, “Kiêm ái” của Mặc gia như trước nữa,
mà trong hoàn cảnh hiện tại (vương đạo suy vi, đát nước loạn lạc thì cần dùng pháp trị)
b) Quan điểm về lịch sử.
- Hàn Phi Tử cho rằng lịch sử xã hội luôn luôn trong quá trình tiến hoá không ngừng,không có chế độ xã hội nào vĩnh viễn tồn tại, ông chia lịch sử xã hội thành ba thời kỳ lớn, tươngứng với trình độ phát triển nhất định của sức sản xuất: thời kỳ Cổ đại, Trung đại và Hiện đại
- Theo HPT lịch sử phát triển trong mỗi thời kỳ là không giống nhau và chúng luôn luônnảy sinh những vấn đề mới vì vậy những biện pháp chính trị được sử dụng trong mỗi thời kỳcũng không giống nhau ông nói: “Không có một thứ pháp luật luôn đúng với mọi thời đại.”
Trang 6c) Quan điểm về bản chất của con người.
- Kế thừa và phát triển học thuyết tính ác của Tuân Tử, HPT cho rằng, con người sinh ra
là có bản tính ích kỷ, vụ lợi, bởi vậy theo ông kẻ thống trị và nhà nước phải căn cứ vào tâm lý đó
+ Pháp: chính là pháp luật, là pháp lệnh quốc gia, là những tiêu chuẩn khách quan để
căn cứ vào đó luân công, luận tội, phải trái, đúng sai.
- Nội dung chủ yếu của pháp luật là thưởng và phạt, HPT gọi đó là hai đòn bẩy trong tayvua để giữ vững chính quyền Ông phê phán chính sách “Chỉ phạt tội mà không thưởng công củaThương Ưởng và cho rằng: “Cần phải thực hiện toàn diện cả hai mặt: “Thưởng và phạt” (khuyếnkhích và răn đe)
Ông nói: “Thưởng mà hậu, thì điều mình muốn cho dân làm, dân mau mắn mà làm, phạt
mà nặng, thì điều mình ghét và cấm đoán, dân mău mắn mà tránh” Thậm chí HPT còn chủtrương: “Thưởng thật hậu, và phạt thật nặng” Bởi thưởng hậu không chỉ để thưởng công mà còn
để khuyến khích dân chúng, phạt mà nặng, không phải chỉ để phạt một kẻ gian, mà còn để ngănchặn kẻ bậy ở trong nước.Khi ta ngăn chăn được hết kẻ bậy trong nước rồi, thì còn gì hại cho dânnữa đâu”
- Cùng với việc thưởng hậu, phạt nặng, ông còn chủ chương, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
- Mục đích của pháp, theo HPT là để cứu loạn cho dân chúng, trừ hoạ cho thiên hạ, khiếncho kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu, đám đông không hiếp áp số ít, người già được hưởng hết tuổitrời, bọn trẻ côi được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân nhau, cha con bảo vệnhau, không lo bị giết hoặc cầm tù
- Với nội dung và mục đích trên, Pháp xứng đáng là tiêu chuẩn khách quan để phân địnhDanh phận và Hình pháp, phán xét phải trái, tốt xấu, thiện ác…Luật pháp mà rõ ràng, thưởngphạt nghiêm minh, thì sẽ làm cho nhân tâm, vạn sự quy về một mối, trăm chế độ đều lấy Pháplàm chuẩn Vì vậy Pháp trở thành cái gốc cuả thiên hạ, có tác dụng khuyến khích điều thiện,trừng trị, ngăn đe, phòng ngừa điều ác.ở đây Pháp có ý nghĩa giáo dục và đạo đức nhất định
Trang 7- Cùng với Pháp thì “Thế” là yếu tố không thể thiếu trong Pháp trị Muốn có luật pháp rõràng, minh bạch, phải được ban bố khắp thần dân và được dân tuyệt đối tôn trọng và thi hành thìcần phải có “Thế”.
- Thế: vị, là thế lực, là quyền uy là địa của người cầm đàu chính thể (Vua), vua có quyền
thế vạn năng, địa vị, quyền uy này là độc tôn, và được gọi là “Tôn quân quyền” mà nhất thiết mọi
người phải phục tùng theo
- Thế không chỉ là quyền hành, địa vị của Vua, mà còn là sức mạnh của dân, của đất nước và xu thế lịch sử (vận nước).
“Thuật”theo HPT chính là cách thức, là phương pháp và mưu lược, là thủ đoạn, là cách
dùng người trong việc tuyển người, giao việc xét đoán svt, sự việc… mà nhờ nó pháp luật được thực hiện, và nhà Vua có thể trị quốc, bình thiên hạ.
- Nhiệm vụ chủ yếu của thuật cai trị là phân biệt rõ những quan lại trung thành và tận tâmvới những quan lại xu nịnh, thử năng lựC của họ, kiểm tra công trạng và những sai lầm của họvới mục đích tăng cường bộ máy cai trị trên cơ sở luật pháp và chế độ chuyên chế
- Ngoài ra “Thuật” còn được thể hiện trong thuật dùng người, nguyên tắc cơ bản của thuật dùng người là: Chính danh, hình danh, hay thực danh (tức là theo danh mà trách thực).
Kl: Như vậy Pháp gia là một trường phái triết học lớn của Trung quốc cổ đại, chủ trương
dùng những luật lệ, hình phạt để điều chỉnh hành vi của con người và làm công cụ cho sự phát triển đời sống xã hội ở Trung quốc Pháp gia là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới và là
vũ khí tinh thần để nhà Tần thực hiện công cuộc thống nhất Trung quốc, thiết lập chế độ phong kiến TƯ tập quyền.
Câu 4.Phật giáo (Đạo phật)
Đạo phật ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN ở ÂĐ trên vùng đất thuộc Nêpan ngày nay Đây làthời kỳ phát triển cực thịnh của đạo Balamon cả về mặt tôn giáo lẫn vị trí chính trị - xã hội Dân
cư trong xã hội ÂĐCĐ lúc này chia thành 4 đẳng cấp… Sự ra đời đạo phật còn gắn với tên tuổingười sáng lập là thái tử Cồ đàm Tất đạt Đa (Siddharta Gautama) sinh năm 563 TCN, con vuaTịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ ở chân núi Hymalaya - miền đất bao gồm một phần miền nam nướcNêpan và một phần của ÂĐ ngày nay Là một nhân vật có thật trong lịch sử, sau này ông đượctôn xưng với rất nhiều danh hiệu (10) danh hiệu khác nhau (Như lai, phật tổ, Đức thế tôn, bụt…nhưng phổ biến là Thích ca mầu ni (nghĩa là bậc hiền giả dòng Sukya)
Đạo phật ra đời, trên thực tế là sự phủ nhận chế độ Balamon Giáo lý đạo phật sâu sắc,hấp dẫn đề cao sự bình đẳng, hướng tới sự giải thoát, lễ nghi đơn giản, không tốn kém như đạoBalamon, nên nhanh chóng thu hút được tín đồ Năm 483 TCN, lúc 80 tuổi Phật tịch
Trang 8Chúng ta nghiên cứu đạo phật trên 2 phương diện: TGQ - NSQ
*) Nhân sinh quan
Nội dung chủ yếu của triết học Phật giáo là các quan niệm về nhân sinh - đạo đức Đâycũng là nét đặc thù của triết học phương đông Sinh ra trong phong trào chống lại chế độ đẳngcấp thời ÂĐCĐ, phật giáo đã rất quan tâm đến số phận con người, mong muốn tìm kiếm conđường giải thoát mọi khổ đau ở đời
Triết lý giải thoát của phật giáo được tập trung trong thuyết “Tứ diệu đế” (khi chúng tathực hiện được 4 diệu đế đó thì chúng ta sẽ được giải thoát)
1 Khổ đế - Dukkha (chân lý nói về sự khổ)
Dukkha tiếng Phạn có nghĩa là: đau khổ, đau đớn, buồn, sự cơ cực Tương phản với chữSukkha có nghĩa là hạnh phúc Dukkha ở diệu đế còn có ý nghĩa sâu sắc hơn đó là: Bất toàn, Vôthường, Trống rỗng, Giả tạm
Thuyết nêu ra những nỗi khổ ở đời, bao gồm 8 nỗi khổ: Sinh khổ: khổ vì sinh ra ở đời,Lão khổ: khổ vì già, Bệnh khổ: khổ vì bệnh, Tử khổ: kkhổ vì chết, Thụ biệt khổ:Yêu mến nhau
mà phải xa nhau, Oán tăng hộii khổ:oán giận nhau mà phải gần nhau, Sở cầu bất đắc khổ:mongmuốn không đạt được, Ngũ thụ uẩn khổ: khổ vì sự tồn tại của thân xác
Mặc dầu cuộc sống là khổ đau, nhưng không nên buồn sầu, oán giận hay thiếu kiên nhẫn
vì nó Con người cần hiểu rõ vấn đề khổ đau nó phát sinh như thế nào, làm sao xua đuổi nó, vàtuỳ theo đấy mà hành động với sự thông minh và kiên nhẫn, nghị lực, để vui vẻ thanh thoát hồnnhiên, sung sướng vui hưởng hanh phúc,
Khi lý giải về căn nguyên nỗi khổ, phật giáo cho rằng đó là do sự mê hoặc về bản chấtcủa con người, vì không nhận thức được cái biến ảo vô thường, vô định của vạn vật mới làthừơng hằng, là chân thực, người ta lầm tưởng cái gì cũng là của ta nên ta cứ khát cứ tham vọng,hành động chiếm đoạt nhằm thoả mãn những ham muốn dục vọng đó, tạo ra nhiều kết quả gâynên nghiệp báo, mắc phải bể khổ triền miên không dứt, mà khi đã mắc vào sự chi phối của luậtnhân duyên là chịu nghiệp báo và kiếp luân hồi (Luân: bánh xe; hồi:xoay tròn)
2 Nhân đế (tập đế) Nói lên nguyên nhân tạo ra nỗi khổ
Theo phật giáo nguyên nhân tạo ra nỗi khổ thì nhiều không phải tìm đâu xa, mà tìm ngaychính trong bản thân mình.Có thấy được nguyên nhân mới diệt được khổ.ở đây phật giáo đưa ra
12 nguyên nhân: “Thập nhị nhân duyên”:
Sinh – lão - tử là kết quả cuối cùng của một quá trình, nhưng đồng thời cũng là nguyênnhân của một vòng luân hồi mới.Trong 12 nguyên nhân trên thì ái dục vô minh là cơ bản nhất, nótạo ra cái nghiệp trướng của chính con người Vì dục vọng mà dẫn đến tham lam, vì tham lam cốtranh giành không được nên sinh ra giận dữ, khi giận dữ thì ngu muội (cả giận mất khôn) dẫn đến
Trang 9khổ Như vậy mọi ham muốn đều có gốc rễ từ tam độc gồm: tham (lòng tham vị kỷ); sân (sự giậndữ); si (sự mê muội).
ý chí dục vọng, lòng ham muốn, lòng khát khao tồn tại tiếp tục tăng trưởng, không mất đi,dừng lại cùng cái chết của thân xác mà tiếp tục biểu hiện trong một hình thức khác, phát khởi sựtái sinh gọi là luân hồi Còn sự khao khát trở thành thì vòng luân hồi còn tiếp tục, nó chỉ chấmdứt nhờ trí tuệ thấy rõ thực tại, chân lý, niết bàn
3 Diệt đế (là chân lý nói về lối thoát cho khổ đau)
Khi tìm được con đường, nguyên nhân nỗi khổ và diệt được những nỗi khổ đó thì conngười sẽ đạt tới cảnh chí niết bàn, là nơi con người không có ham muốn dục vọng, con ngườiđược tự do tự tại, sung sướng vô biên, bất sinh, bất diệt
Muốn diệt trừ nỗi khổ, phải diệt cội gốc của nó đó là lòng khao khát hay tham ái Niết bàn
là cái tuyệt đối không bị giới hạn, là sự diệt tắt của ham muốn, vọng tưởng, hận thù…Ngườichứng ngộ chân lý niết bàn là người nhiều hạnh phúc nhất trần gian, người ấy thoát khỏi mặc cảm
và ám ảnh, phiền lão, lo âu, sức khoẻ, tinh thần thoải mái, không tiếc quá khứ, không mơ mộng
về tương lai, họ phục vụ người khác trong sạch, không nghĩ về mình, không vụ lợi
4 Đạo đế (là chân lý về con đường diệt khổ)
Bao gồm 8 con đường (bát chính đạo) nếu thực hiện được bát chính đạo tâm tư sẽ yêntĩnh, lòng dạ sẽ sáng suốt bình thản
Bát chính đạo của phật giáo không có gì là thần bí cả, nó không cầu cạnh đến thần linh
mà chỉ dựa vào sự nỗ lực của chính bản thân mình.Khi đạt được 8 con đường tu luyện này conngười sẽ vươn tới bậc tam học gồm:
+ Giới: giới luật:giữ cho thân tâm thanh tịnh, trong sạch
+ Định: thiền định, tĩnh tâm, để cho sức mạnh của tâm không bị ngoại giới làm xáo động + Tuệ: khi tịnh tâm thì trí tuệ mới phát sáng
Như vậy Đạo đế chính là sự tự kỷ luật trong thân xác, lời nói và ý nghĩ, là sư tự phát triển
và tự thanh lọc.Nó không dính líu gì tới đức tin, thờ phụng nghi lễ.Bát chính đạo là con đườngchân chính dẫn tới chân lý tối hậu, dẫn đến tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ sự hoànthiện về đạo đức, tâm linh và trí tuệ
= Tóm lại:
- Ưu điểm: là tiếng nói phản kháng chế độ dẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo chế độ bất công
đòi tự do bình đẳng, nêu lên khát vọng giải thoát con người khỏi nỗi khổ của cuộc đời, khuyêncon người sống từ bi bác ái đạo đức
- Nhược điểm:
Trang 10+ Luận thuyết về nhân sinh quan và con đường giải thoát còn mang nặng tính bi quan yếmthế, coi bản chất cuộc sống là bể khổ
+ Khi nói về nguyên nân nỗi khổ của con người lại chỉ bó hẹp trong tâm sinh lý cá nhânriêng lẻ, không đề cập đúng mức đến nguồn gốc xã hội (khổ vì chậm tiến, khổ vì chiến tranh phinghĩa, khổ vì áp bức bóc lột trong xã hội có đối kháng giai cấp…) Vì vậy khi đề cập đến vấn đềgiải thoát, giải phóng con người phật giáo lại không đề cập đến vấn đề giải phóng giai cấp, giảiphóng xã hội
+ Phật giáo coi sinh là đầu của sự khổ, biết cũng là khổ quan niệm như trên là trái vớinhân sinh mà còn trái với nhân tính của con người (với những hạn chế này phật giáo thể hiện tưtưởng duy tâm về lịch sử - xã hội
Câu 5.Thuyết Âm dương - Ngũ hành.
Thuyết âm dương ngũ hành ra đời khoảng cuối thời chiến quốc, nội dung của thuyết phảnánh quan niệm chất phác của giới tự nhiên, thể hiện tư tưởng biện chứng sơ khai của người trungquốc cổ đại về nguồn gốc và quá trình phát triển của tự nhiên – xã hội - tư duy Lý luận âmdương ngũ hành là cơ sở cho mọi khoa học, có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi tường phái và mọi cánhân ở cả duy vật lẫn duy tâm
Thuyết Âm dương
- Âm: bóng tối, giống cái, thụ động, khí lạnh, ẩm ướt.
- Dương: ánh sáng mặt trời, giống đực, khôn ngoan, rắn rỏi
- Âm và Dương gọi là hai thái cực cùng tồn tại trong mọt sự vật, chúng không phải là huỷthể của nhau (tiêu diệt nhau) mà chúng tồn tại tong mối quan hệ tương quan quy định chế ước lẫnnhau, là điều kiện tồn tại của sự vật, là động lực của mọi sự vận động và phát triển
- Â và D là hai mặt đối lập nhưng không có cái gì là thuần âm hoặc thuần dương mà mỗi
sự vật bao giờ cũng có cả hai mặt đối lập tức là trong âm có dương, trong dương có âm, luôn luôntương tác chuyển hoá lẫn nhau
Hai mặt  - D vừa đôí lập vừa thống nhất, vừa bao hàm vừa tương tác lẫn nhau “Dươngquái đa âm, âm quái đa dương” có mặt dương mới có mặt âm và ngược lại
- Â và D tồn tại trong tất cả các sự vật từ cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất, từ cái vô hình đếncái hữu hình, từ đơn giản đến phức tạp, từ giới tự nhiên đến xã hội, nó vừa biến dịch vừa bất dịch,vừa mâu thuẫn vừa thống nhất, vừa đôí lập mà như vẫn hài hoà như: nhu - cương, động- tĩnh,sáng - tối, ngày - đêm, đồng hoá - dị hoá, giống đực - giống cái, cha - con, chồng - vợ, vua - tôi,hưng - vong, chính - tà, hàn- nhiệt, khí - huyết…
- Như vậy theo âm dương gia quy luật phổ biến và tát yếu chi phối sự biến đổi của hiện thực là do sự tác động giữa hai thế lực vật chất cơ bản của vũ trụ là Â và D ÂD giao cảm tạo ra
Trang 11trời đất vạn vật Đó là cội nguồn, là đạo sinh ra trời đất, bốn mùa, cùng các yếu tố cơ bản đầu tiên của vũ trụ.
Thuýết ngũ hành.
- Là một trong những phạm trù triết học mang tính khái quát, trừu tượng đầu tiên củangười trung quốc cổ đại nhằm giải thích thế giới, giải thích quá trình biến hoá của vạn vật trong
vũ trụ Nó đánh dấu bước phát triển sơ khai của tư duy triết học nhằm thoát khỏi sự chi phối của
tư tưởng duy tâm tôn giáo về cái gọi là thượng đế, quỷ thần đang thống trị trong đời sống xã hội
Đó là một trong những cội nguồn của CNDV và tư tưởng biện chứng của lịch sử tư tưởng trungquốc
- Ngũ hành được hiểu là 5 yếu tố vật chất đầu tiên hay 5 thứ vũ khí cơ bản của vũ trụ vạnvật gồm: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Năm thứ vật chất này quy định tính chất chủng loại, nguồngốc của vạn vật trong giới tự nhiên
- Theo Âm dương gia mỗi yếu tố của ngũ hành có tính chất, đặc trưng riêng
- Ngũ hành không chỉ biểu hiện những hiện tượng của tự nhiên mà còn biểu hiện nănglực, tính chất của con người và các mối quan hệ xã hội Trong đó: Dáng mạo phải kính cẩn Thuyết ngũ hành cho rằng 5 yếu tố trên luôn chuyển động có quan hệ tương tác, thâmnhập chuyển hoá lẫn nhau trong một hệ thống ảnh hưởng tương sinh tương khắc
+ Ngũ hành tương sinh là quá trình các yếu tố của ngũ hành liên hệ, tác động thâm nhập
và chuyển hoá lẫn nhau, cái nọ làm nảy sinh cái kia Sự biến chuyển không ngừng có tính tuần hoàn trong vũ trụ.
+ Ngũ hành tương khắc: Là quá trình các yếu tố của ngũ hành luôn đối lập, liên hệ, ràng buộc và chế ước lẫn nhau.
Kết luận: Thuyết âm dương ngũ hành được các nhà tư tưởng duy vật sử dụng khá phổ biếnmặc dù còn chất phát mộc mạc những đã thể hiện được tính duy vật trong quan niệm về thế giới
nó có ý nghĩa lớn trong việc chống lại chủ nghĩa duy tâm Họ đã đưa ra được những quan điểm
có tính biện chứng để chứng minh thế giới luôn vận đọng biến đổi không ngừng Tuy nhiên dotrình độ tư duy, KHTN chưa phát triển nên các nhà tư tưởng đã không chứng minh được sựphát triển vận động đi lên của thế giới các sự vật, họ cho mọi sự biến đổi đều có tính tuần hoàn
và lặp lại
Câu 6.Heraclit (544-483tcn)
Xuất thân trong một gia đình chủ nô quý tộc tại đô thi Êphedơ, thuộc vùng Iôni- mộttrung tâm văn hoá lớn của Hylạp cổ đại ông đã từ bỏ cuộc sống giàu có để sống một cuộc sốngnghèo khó, đơn độc, ẩn dật trên núi.ông được coi là đại biểu vĩ đại nhất của chủ nghĩa duy vật vàPBC (với nghĩa là học thuyết về sự vận động, biến đổi của mọi sự vật hiện tượng)trong giai đoạn
Trang 12dầu của triết học HLCĐ Các tài liệu còn lưu giữ được cho thấy ông có tác phẩm về tự nhiên gồmcác phần: về vũ trụ, nhà nước, thượng đế…những tác phẩm của ông thường được viết bằng vănxuôi, ngôn ngữ trong sáng khúc triết nhưng ông thường dùng những cách ngôn, ẩn dụ khiến một
số người đương thời thấy khó hiểu nên họ nói triết học của ông là triết học “Tối nghĩa”
Trong đó có thể nói đóng góp đặc sắc nhất trong triết học của ông là PBC Ông được cácnhà sáng lập của chủ nghĩa Mác coi như là một trong những nhà sáng lập ra PBC thời cổ đại
a) Quan điểm duy vật của ông về thế giới.
Hêraclits đã giải quyết đúng đắn trên quan niệm duy vật VĐCBCTH, về mối quan hệ giữatồn tại và tư duy
Ông cho rằng thế giới vật chất do chính vật chất sinh ra, GTN bắt nguồn từ bản thân tự nhiên Không phải thần thánh, không phải con người sáng tạo ra thế giới vật chất Trong đó yếu
tố vật chất đầu tiên sinh ra các dạng vật chất khác, theo ông, đó là lửa.
Ông lí giải lửa là cơ sở thực tại là mọi thứ đều sinh ra và trở về với lửa, lửa là bản nguyênvật chất, là nguyên tố vật chất đầu tiên của mọi dạng vật chất.Toàn bộ thế giới, hay theo cách gọicủa ông là vũ trụ, đều tồn tại ở ngoài ý thức con người, đều là sản phẩm biến đổi của lửa
Dưới tác động của lửa, đất trở thành nước, nước thành không khí Như vậy từ lửa và dotác động của lửa mà vật chất chuyển hoá thành các thể hơi, thể lỏng, thể rắn và các dạng vật chất
ấy lại chuyển hoá theo con đường ngược lại, quay trở về với lửa
- Theo ông tuỳ theo độ lửa (nhiệt độ) mà sự vật có thể chuyển hoá từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hai cấp độ (2 con đường).
+ Con đường đi lên (con đường thượng): Lửa sinh ra đất (thể rắn), đất lại sinh ra nước (thể lỏng), nước lại sinh ra không khí (thể hơi) trở về với lửa
+ Con đường đi xuống (con đường hạ): lửa - thể hơ i- thể lỏng - thể rắn - trở về với lửa Đây là 2 con đường tạo nên yếu tố vật chất và từ đó hình thành nên sự vật hiện tượng.
Ông khẳng định: Vụ trụ không do ai tạo ra mà nó là ngọn lửa sống động, vĩnh viễn bùngcháy lên và tắt đi theo quy luật của nó ở đây ví toàn bộ vụ trụ tựa như ngọn lửa bất diệt ông đãtiếp cận với quan niệm duy vật nhấn mạnh tính vĩnh viễn bất diệt của thế giới Nếu như Talet coinước là khởi nguyên, là thực thể sinh ra mọi cái thì ông đã hiểu khởi nguyên theo trình độ caohơn, coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật mà còn là khởi tổ thống trị toàn thế giới
Như vậycũng như Talét, Anaximen, ông là một nhà triết học duy vật, đã coi vật chất là
tính thứ nhất.Thế giới vật chất được hình thành từ một nguyên thể vật chất.Nhưng ông còn đi xahơn các vị tiền bối ở PBC Ông là nhà biện chứng đầu tiên trong lịch sử thế giới, chính ông làngười đã sáng lập ra PBC Lênin đã đánh giá PBC của ông: “PBC hoàn toàn khách quan, coi như
là nguyên lý của tất cả cái gì đang tồn tại”(LNTT Tập 29.tr 277)