1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương Môn Chuyên đề triết học

9 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 25,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi bắt đầu hành trình đến với đại học, chúng ta đều thường gặp phải một thách thức lớn đó là tài liệu học tập. Những cuốn sách, bài giảng và các tài liệu khác là những yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đạt được kết quả tốt trong học tập. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rất nhiều sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm những tài liệu thích hợp và đầy đủ. Tôi hiểu rõ những khó khăn này và chính vì vậy, tôi muốn giúp các bạn bằng cách cung cấp tài liệu học tập chất lượng nhất với giá cả phải chăng. Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc tìm kiếm tài liệu học tập và cung cấp chúng cho sinh viên, tôi cam đoan sẽ không làm bạn thất vọng. Sự khác biệt của tài liệu học tập là độ đầy đủ của nó. Tại sao phải lật qua nhiều cuốn sách để tìm kiếm những thông tin cần thiết? Tài liệu học tập của tôi được sơ đồ hoá chi tiết, giúp bạn tiết kiệm thời gian và tập trung vào học tập. Không chỉ đó, tài liệu học tập của tôi còn được cập nhật thường xuyên để đảm bảo bạn nhận được những thông tin mới nhất và chính xác nhất. Và đặc biệt, tài liệu học tập của tôi có mức giá vô cùng hấp dẫn. Tôi hiểu rằng sinh viên chúng ta không có nhiều tiền để chi tiêu, vì vậy tôi cam kết sẽ mang đến cho các bạn mức giá phù hợp nhất. Bạn sẽ được sở hữu tài liệu học tập chất lượng với giá cả phải chăng. Từ bây giờ, hãy quên đi những phiền toái khi tìm kiếm tài liệu học tập và tin tưởng vào tài liệu của tôi. Chúng tôi đảm bảo rằng bạn sẽ không chỉ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc, mà còn đạt được kết quả tốt trong học tập.

Trang 1

CÂU 1 (4 ĐIỂM) ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN TRONG

HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN.

* Cơ sở lý luận của NTTD là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ

biến là mối liên hệ giữa các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực

- Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải:

+ Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ đang chi phối sự tồn tại của bản thân

sự vật càng tốt

+ Phân loại để xác định những mối liên hệ, quan hệ nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định ; còn những mối liên hệ, quan hệ nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên, không

ổn định…

+ Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ bên trong cơ bản, tất nhiên, ổn định… Để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ còn lại Qua đó xây dựng một hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ; phát hiện ra quy luật (bản chất) của nó

- Trong hoạt động thực tiễn chủ thể phải:

+ Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ chi phối sự vật

+ Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng của nó

+ Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế sự tác động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta + Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chủ thể khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện,… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình

Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó

mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật

Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật chứ không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật, mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện

Trang 2

Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu,… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinh vi

Trong xã hội nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhận thức mà còn liên hệ nhận thức với cuộc sống; phải chú ý đến lợi ích của các chủ thể (các cá nhân hay giai tầng) khác nhau trong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơ bản (sống còn)

và lợi ích không cơ bản (sống còn) và lợi ích không cơ bản; phải biết phát huy (hay hạn chế) mọi tiềm năng hay nguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, ) từ các thành phần kinh tế khác, từ các tổ chức, chính trị xã hội… để có thái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quan điểm dàn điều, tức không thấy được trọng tâm cốt lõi trong cuộc sống vô cùng phức tạp

CÂU 2 (6 ĐIỂM) ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH NHỮNG YÊU CẦU CỦA NGUYÊN

TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN.

* Phạm trù thực tiễn

TT là hoạt động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử xã hội, nhằm cải tạo tự nhiện và xã hội Phạm trù “TT” là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác- Lê nin nói chung và lý luận nhận thức mácxít nói riêng

* Phạm trù “lý luận”

- LL là hệ thống những tri thức được khái quát từ TT, phản ánh những mối liên hệ bản chất bản chất, những quy luật của các sự vật hiện tượng

* Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

- TT và LL có mối quan hệ biện chứng cho nhau TT là cơ sở, là động lực, là mục đích và là tiêu chuẩn của LL LL hình thành, phát triển phải xuất phát từ TT, đáp ứng được yêu cầu TT.

+ TT là cơ sở của LL Con người nhận thức giới tự nhiên đầu tiên bằng hoạt động TT Sự tác động của con người buộc giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, quy luật để từ đó con người

có kinh nghiệm Quá trình phân tích, tổng hợp, khái quát kinh nghiệm thành một môn khoa học LL TT đề ra những vấn đề mà LL phải trả lời

+ TT là động lực của LL Hoạt động thực tiễn luôn nảy sinh những vấn đề đòi hỏi LL phải hoàn thiện chính mình để bao quát và giải quyết tốt các vấn đề do TT đặt ra Điều này càng làm cho LL ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn

+ TT là mục đích của LL Không có TT thì LL không thể đem lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người và qua TT đã giúp cho LL hoàn thành được mục đích của mình LL hướng dẫn chỉ đạo TT làm cho TT ngày càng hiệu quả hơn

+ TT là tiêu chuẩn chân lý của LL: LL chỉ được coi là chân lý khi nó phù hợp với TT khách quan mà nó phản ánh, và đồng thời nó được TT kiểm nghiệm Thông qua TT những LL đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tang tri thức nhân loại

- TT phải được chỉ đạo bởi LL; ngược lại, LL phải được vận dụng vào TT, tiếp tục bổ sung

và phát triển trong TT.

+ Hoạt động TT của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có LL soi đường Khi LL đạt đến chân lý thì LL có khả năng định hướng mục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp,

Trang 3

biện pháp thực hiện LL còn dự báo được khả năng phát triển của các mối quan hệ TT.

+ Vận dụng LL vào TT cần phân tích rõ từng tình hình cụ thể, tránh vận dụng LL máy móc, giáo điều kinh viện Như vậy chẳng những hiểu sai giá trị của LL mà còn làm phương hại đến TT, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa LL và TT

+ Từ LL xây dựng mô hình TT phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao

+ Bám sát diễn biến của TT để kịp thời bổ sung những khuyết điểm của LL hoặc có thể thay đổi LL cho phù hợp với TT

* Ý Nghĩa Phương Pháp Luận:

Để phát triển LL phải luôn luôn bám sát TT, phản ánh được yêu cầu của TT, khái quát được những kinh nghiệm của TT

Trong hoạt động TT phải lấy lý luận khoa học làm phương pháp, khi vận dụng LL phải phù hợp với không gian và thời gian

Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều

CÂU 1 (4 ĐIỂM) ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH NHỮNG NGUYÊN TẮC PHƯƠNG

PHÁP LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ VIỆC VẬN DỤNG CHÚNG VÀO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

- Tôn trọng nguyên tắc khách quan:

KN: Tôn trọng nguyên tắc khách quan là tôn trọng vai trò quyết định của vật chất Nguyên

tắc này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở phương tiện cho hành động của mình

Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất phát từ ý muốn chủ quan

mà phải xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu chín muồi và tính tất yếu củ đời sống vật chất trong từng giai đoạn cụ thể.

Chỉ có những mục đích, đường lối, chủ trương xuất phát từ hiện thực, phản ánh nhu cầu và tính tất yếu của hiện thực mới đúng và mới có khả năng trở thành hiện thực

Ví dụ: Những năm gần đây, trong công tác tuyển chọn cán bộ, một số lãnh đạo cấp cao vẫn

ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mà ghét những người chính trực, hay nhiều đồng chí còn giữ thói “Một người làm quan cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia làm được hay không mặc kệ Hỏng việc đoàn thể chịu, tốt cho bà con bạn hữu có địa vị là được Đã làm cho chất lượng cán bộ không đáp ứng được thực tế, và yêu cầu khách quan, gây tác hại lớn đến bộ máy nhà nước điển hình là những vụ tham nhũng trong những năm gần đây, như: Vụ án Đinh La Thăng và đồng phạm về tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “tham ô tài sản” xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Khi đã có mục đích, đường lối, chủ trương đúng rồi phải tổ chức được lực lượng vật chất để thực hiện nó.

Trang 4

Mục đích, đường lối, chủ trương thuộc lĩnh vực tư tưởng Tự bản thân tư tưởng không thể trở thành hiện thực mà phải thông qua hoạt động của con người

Ví dụ: Nhà nước có chủ trương trồng cây ăn quả trên đất dốc, ở địa bàn tỉnh sơn la Nếu như

chỉ ban hành mỗi chủ trương đó thôi thì nó không thể thành hiện thực được, mà phải tổ chức dược lực lượng vật chất là con người, công cụ lao động, các cán bộ từ cấp xã đến địa phương quán triệt, tuyên truyền để người dân làm thì chủ trương đó mới thành hiện thực được

KL: Ngày nay, “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở

liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội phát huy mọi tiềm năng và mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội”

- Phát huy tính năng động chủ quan:

KN: Phát huy tính năng động chủ quan là phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của ý

thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật chất hoá những tính chất ấy

Phải tôn trọng tri thức khoa học.

Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới, được khái quá từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm Đây là tiền đề giúp con người không chỉ hoạt động có hiệu quả trong ngành nghề của mình mà còn giúp con người thực hiện hoạt động ấy theo những giá trị nhân văn của xã hội

Đối với cách mạng VN, Đảng và Nhà nước ta khẳng định “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu”; trong đó, “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng HCM làm nền tảng” nhằm “đào tạo những con người toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH

Phải làm chủ tri thức khoa học và truyền bá tri thức khoa học vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin định hướng cho quần chúng hành động.

Sức mạnh và hiệu quả của tri thức khoa học phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của nó vào quần chúng nên sự thâm nhập này trở thành một trong những điều kiện trực tiếp để phát huy vai trò nhân tố con người trong hoạt động vật chất hoá tri thức Vươn lên làm chủ tri thức khoa học, truyền bá tri thức khoa học là hoạt động vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính XH

và liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống

Ở nước ta hiện nay, việc “khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người VN, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu”; việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và nghiên cứu khoa học; việc chủ trương XH hoá giáo dục để “cả nước trở thành một XH học tập”, mà Đảng, Nhà nước và toàn dân đang tiến hành là những hoạt động sống động về việc phát huy tính năng động chủ quan phù hợp với yêu cầu và điều kiện của XH hiện tại

Tôn trọng nguyên tắc khách quan, phát huy tính năng động chủ quan vừa là những ý nghĩa phương pháp luận cơ bản, vừa là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong hoạt động thực tiễn Những yêu cầu này khác nhau nhưng thống nhất và quan hệ hữu cơ với nhau nên hoạt động

Trang 5

của con người chỉ đạt hiệu quả tối ưu khi thực hiện chúng đồng bộ và chống lại những quan điểm, những biểu hiện đối lập với chúng

CÂU 2 (6 ĐIỂM) ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, BIỂU HIỆN,

CÁCH KHẮC PHỤC CỦA BỆNH KINH NGHIỆM VÀ BỆNH GIÁO ĐIỀU TRONG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN.

1/ Nguyên nhân, biểu hiện của bệnh kinh nghiệm:

- BKN là khuynh hướng tư tưởng tuyệt tối hóa KN, coi thường LL khoa học, khuếch đại vai trò TT để hạ thấp vai trò LL

- KN là rất quý, góp phần thành công trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định và là cơ sở để khái quát LL Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa KN một nơi, một lúc nào đó, xem thường LL sẽ rơi vào BKN và sẽ thất bại trong TT khi điều kiện, hoàn cảnh thay đổi

Nguyên nhân của BKN là do yếu kém về LL, cụ thể:

+ nguyên nhân chủ quan: dễ thỏa mãn với vốn KN bản thân, ngại học LL, không chịu nâng cao trình độ LL, coi thường khoa học kỹ thuật, coi thường giới trí thức, thiếu nhìn xa trông rộng, dễ bảo thủ trì trệ

+ nguyên nhân khách quan: sự tồn tại phổ biến nền sản xuất nhỏ, trình độ dân trí thấp, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển, Nho giáo phong kiến còn ảnh hưởng nặng nề

2/ Nguyên nhân, biểu hiện của bệnh giáo điều:

- Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò LL, coi nhẹ TT, tách rời LL khỏi TT, thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể, áp dụng KN một cách rập khuôn, máy móc

- Biểu hiện của bệnh giáo điều là bệnh sách vở, nắm LL chỉ dừng ở câu chữ theo kiểu “tầm chương trích cú”; hiểu LL một cách phiến diện, hời hợt, biến LL thành tín điều và áp dụng

LL một cách máy móc; vận dụng sai LL vào TT, không bổ sung, điều chỉnh LL

Nguyên nhân của bệnh giáo điều là do yếu kém về LL, cụ thể:

+ hiểu LL bằng kinh nghiệm, hiểu LL một cách đơn giản, phiến diện, cắt xén, sơ lược… Xuyên tạc, bóp méo LL…

3/ Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả:

Hoàn cảnh giai cấp vô sản của nước ta trong buổi đầu cách mạng vừa giành độc lập tự do làm mảnh đất màu mỡ cho các bệnh này phát triển nhanh, tuy nhiên chúng ta đã để chúng tồn tại quá dài Để khắc phục triệt để bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều, chúng ta cần phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa LL và TT trong triết học Mác – Lênin Cụ thể:

- Bám sát TT, LL phải gắn liền với TT, thường xuyên kiểm tra trong TT và không ngừng phát triển cùng TT, tăng cường học tập nâng cao trình độ LL, bổ sung, vận dụng LL phù hợp với TT;

- Phải coi trọng LL và công tác LL; nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phổ biến rộng rãi tri thức khoa học – công nghệ…;

- Phải đổi mới công tác LL của Đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh Quán triệt nhiệm vụ, hướng nghiên cứu chủ yếu và phương châm lớn chỉ đạo hoạt động LL của Đảng;

- Hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng XHCN Vì kinh tế thị trường luôn vận động và biến đổi, đòi hỏi mọi thành phần, mọi chủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, phải thường xuyên bám sát thị trường để ứng phó cho phù hợp

Trang 6

- Phải đổi mới tư duy LL, khắc phục sự lạc hậu của LL, thu hẹp khoảng cách giữa LL và TT bằng cách:

+ từ bỏ lối nghiên cứu kinh viện, tư biện; thường xuyên đối chiếu LL với cuộc sống, vận dụng LL vào hoàn cảnh thực tế của nước ta;

- Coi trọng và thường xuyên tổng kết TT, qua đó sửa đổi, phát triển LL đã có, bổ sung hoàn chỉnh đường lối, chính sách, hình thành LL mới, quan điểm mới để chỉ đạo sự nghiệm đổi mới XH

CÂU 1 (4 ĐIỂM) ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN

TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN.

* Những yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc phát triển

- Trong hoạt động nhận thức yêu cầu chủ thể phải:

Phát hiện những xu hướng biến đổi, chuyển hóa, những giai đoạn tồn tại của bản thân sự vật trong sự tự vận động và phát triển của chính nó Xây dựng được hình ảnh chỉnh thể về sự vật như sự thống nhất các xu hướng, những giai đoạn thay đổi của nó; từ đó phát hiện ra quy luật vận động, phát triển (bản chất) của sự vật

- Trong hoạt động thực tiễn yêu cầu chủ thể phải:

Chú trọng đến mọi điều kiện, khả năng…tồn tại của sự vật để nhận định đúng các xu hướng, những giai đoạn thay đổi có thể xảy ra đối với nó Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp (mà trước hết là công cụ, phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi những điều kiện, phát huy hay hạn chế những khả năng…tồn tại của sự vật nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo hướng hợp quy luật và có lợi cho chúng ta

* Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển

Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển là nội dung nguyên lý về sự phát triển

- Sự vận động và sự phát triển

+ Vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy

+ Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, do mâu thuẫn trong bản thân sự vật gây ra

+ “Hai quan điểm cơ bản về sự phát triển (sự tiến hóa): sự phát triển coi như là giảm đi và tăng lên, như lập lại; và sự phát triển coi như sự thống nhất của các mặt đối lập Quan điểm thứ nhất thì cứng nhắc, nghèo nàn, khô khan Quan điểm thứ hai là sinh động Chỉ có quan điểm thứ 2 mới cho ta chìa khóa của “sự vận động”, của tất thảy mọi cái “đang tồn tại”; của

“sự chuyển hóa thành mặt đối lập”, của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”

+ Phát triển như sự chuyển hóa: giữa các mặt đối lập; giữa chất và lượng; giữa cái cũ và cái mới; giữa cái riêng và cái chung; giữa nguyên nhân và kết quả; giữa nội dung và hình thức; giữa bản chất và hiện tượng; giữa tất nhiên và ngẫu nhiên; giữa khả năng và hiện thực + Phát triển là quá trình tự thân của thế giới vật chất, mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng: phát triển trong giới tự nhiên vô sinh; phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh; phát triển trong xã hội; phát triển trong tư duy, tinh thần

- Nội dung nguyên lý

Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều không ngừng vận động và phát triển Phát triển mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên từ thấp đến

Trang 7

cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một hệ thống vật chất, do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định

* Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn

Quán triệt và vận dụng sáng tạo nguyên tắc phát triển sẽ giúp chủ thể khắc phục được quan điểm (tư duy) siêu hình trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình

CÂU 2 (6 ĐIỂM) ANH (CHỊ) HÃY PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN TẠO

THÀNH CẤU TRÚC HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI (VẼ SƠ ĐỒ) TỪ ĐÓ LÀM

RÕ TƯ TƯỞNG CỦA MÁC: “SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI

LÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ - TỰ NHIÊN”.

* Cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội:

- HTKT-XH là một phạm trù của CNDV Lịch Sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sx đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sx, và với một kiến trúc tt tương ứng được xây dựng trên những qhsx ấy

- HTKT-XH là một hệ thống hoàn chỉnh và có cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản

là llsx, qhsx, kttt Mỗi mặt của htkt-xh có vai trò, vị trí riêng, tác động qua lại lẫn nhau, thống nhất với nhau

- Hinh thái KTXH gồm 3 yếu tố: LLSX: là nền tảng vật chất – kỹ thuật của mỗi htkt-xh Sự hình thành và phát triển của mỗi htkt-xh xét đến cùng do llsx quyết định Llsx phát triển qua các htkt-xh nối tiếp nhau từ thấp đến cao

QHSX: là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, là những quan hệ cơ bản ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội khác Mỗi htkt-xh lại có một kiểu qhsx của

nó tương ứng với trình độ nhất định của llsx Qhsx là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

KTTT: được hình thành và phát triển phù hợp với CSHT, nhưng nó lại là công cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển CSHT đã sinh ra nó

Trong mỗi hình thái kinh tế- xã hội, quan hệ sản xuất lại không tách rời lực lượng sản xuất

C Mác chỉ ra: "Những quan hệ sản xuất này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất" Sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo thành một phương thức sản xuất nhất định, mà trong đó lực lượng sản xuất là cơ sở vật chất của hình thái kinh tế - xã hội Mỗi hình thái kinh tế- xã hội có một lực lượng sản xuất nhất định, tức một cơ sở vật chất nhất định đặc trưng cho nó C Mác viết: "Những quan

hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình"

Khi đề cập đến bộ "Tư bản", V.I Lênin nhận xét: "Tuy rằng Mác chỉ dùng những quan hệ sản xuất để giải thích cơ cấu và sự phát triển của một hình thái xã hội nhất định, song ở mọi nơi

và mọi lúc, ông đều phân tích những kiến trúc thượng tầng tương ứng với những quan hệ sản

Trang 8

xuất ấy, và đã thêm thịt, thêm da cho cái sườn đó Bộ "Tư bản" sở dĩ được hoan nghênh nhiệt liệt, chính là vì cuốn sách đó đã vạch ra cho độc giả thấy rằng toàn bộ hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa là một cái gì sinh động với những khía cạnh của đời sống hàng ngày, với những biểu hiện cụ thể của những đối kháng giai cấp vốn có của những quan hệ sản xuất, với cái kiến trúc thượng tầng chính trị tư sản đang bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư bản, với những

ý niệm tư sản về tự do, bình đẳng với những quan hệ gia đình tư sản"

Căn cứ vào tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin và thực tiễn lịch sử, chúng

ta có thể khái quát như sau: Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy

* Sự phát triển của các HTKT-XH là một quá trình lịch sử tự nhiên:

Lịch sử phát triển của xã hội loài người trải qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau từ thấp đến cao, tương ứng với mỗi giai đoạn là một HTKT-XH Sự vận động thay thế nhau của các HTKT-XH trong lịch sử đều do tác động của các quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử

tự nhiên của xã hội Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật phát triển khách quan của xã hội, Mac đã đi đến kết luận: “sự phát triển của những hình thái kinh tế- xã hội là một quá trình lịch sử- tự nhiên”

Các mặt cơ bản hợp thành một HTKT-XH không tách rời nhau mà liên hệ biện chứng với nhau hình thành nên những qui luật phổ biến của xã hội Đó là quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX; quy luật CSHT quyết định KTTT và các quy luật xã hội khác Chính tác động của các quy luật khách quan đó mà các HTKT-XH vận động phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao trong lịch sử như một quá trình lịch sử tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng chủ quan của con người

Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của LLSX Chính tính chất và trình độ phát triển của LLSX đã quy định một cách khách quan tính chất và trình độ của QHSX Do đó xét đến cùng LLSX quyết định quá trình vận động và phát triển của HTKT-XH như quá trình lịch sử tự nhiên

Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát triển của các HTKT-XH thì quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ phát triển của LLSX có vai trò quyết định nhất LLSX bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của xã hội, quy định khuynh hướng phát triển từ thấp đến cao QHSX là mặt thứ hai của PTSX biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử Những QHSX lỗi thời được xóa bỏ và được thay thế bằng những kiểu QHSX mới cao hơn Đến lượt nó, sự thay đổi QHSX sẽ kéo theo sự thay đổi về KTTT, và do đó mà HTKT-XH cũ được thay thế bằng HTKT-XH mới cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra theo quy luật khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan của con người Sự thay thế một HTKT-XH này bằng một HTKT-XH mới cao hơn thường được thực hiện thông qua cách mạng xã hội Nguyên nhân sâu xa của cách mạng xã hội là mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX, khi QHSX trở thành xiềng xích của LLSX Trong thời kỳ cách mạng xã hội khi cơ sở kinh tế thay đổi thì sớm hay muộn toàn bộ KTTT đồ sộ cũng thay đổi theo Quá trình kế thừa của lịch sử loài người luôn luôn cho phép cộng đồng nào đó, trong điều kiện nhất định do tác động của các nhân tố, các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, có thể bỏ qua các giai đoạn phát triển nhất định để vươn tới trình độ tiên tiến của nhân

Trang 9

loại

Trong thời đại ngày nay chủ chương rút ngắn để đi lên CNXH ở một số quốc gia tiền tư bản chủ nghĩa chẳng những không mâu thuẫn với tinh thần của sự phát triển mang tính lịch sử- tự nhiên mà còn là biểu hiện sinh động của quá trình lịch sử- tự nhiên ấy Chỉ khi ta “rút ngắn

”một cách duy ý chí, bấp chấp quy luật thì lúc đó sự phát triển rút ngắn mới trở nên đối lập với quá trình lịch sử- tự nhiên

Như vậy, quá trình lịch sử- tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn ra bằng con đường tuần tự mà còn bao hàm cả sự bỏ qua trong những điều kiện lịch sử nhất định, một hoặc một vài HTKT-XH nhất định Sự khác nhau về trật tự phát triển vẫn là quá trình lịch sử- tự nhiên

Ngày đăng: 17/07/2022, 21:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w