1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương Môn Giáo dục học

41 32 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Cương Môn Giáo Dục Học
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Giáo Dục Học
Thể loại Đề Cương
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 79,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục học là một ngành khoa học nghiên cứu bản chất và các quan hệ có tính quy luật của quá trình hình thành con người như một nhân cách, trên cơ sở đó thiết kế mục tiêu,nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức quá trình giáo dục nhằm đạt tới nhưng kết quả tối ưu trong các điều kiện xã hội nhất định . Trong quá trình nghiên cứu đối tượng và giải quyết các nhiệm vụ của mình, giáo dục học ngày càng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giáo dục. Sự hiểu biết về nhân cách con người là tiền đề để điều khiển hoạt động của họ một cách có hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện kh hiện nay khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang thâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội và điều kiện “Nhân tố con người” trở nên cấp bách như Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 7 đã xác định. Do đó, việc nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt là vai trò của các yếu tố thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển đó là rất cần thiết. Chính vì vậy, em đã chọn đề tài “ Giáo dục học giữ vai trò gì đối với sự hình thành và phát triển nhân cách? Hãy đề xuất các giải pháp để giáo dục phát huy vai trò chủ đạo của mình trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cá nhân”

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN GIÁO DỤC HỌC

Phần I: Những vấn đề chung của GDH

1 Các tính chất cơ bản của giáo dục

2 Vai trò của yếu tố di truyền, giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

3 Các mục tiêu giáo dục xã hội của Việt Nam trong thời kì hiện nay (Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài)

Phần 2: Hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

4 Khái niệm, bản chất, đặc điểm, các khâu của quá trình giáo dục

5 Khái niệm nguyên tắc giáo dục Trình bày nội dung và yêu cầu thực hiện của các nguyên tắc :

- Tôn trọng nhân cách học sinh kết hợp với yêu cầu cao hợp lí trong quá trìnhgiáo dục

- Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể

6 Khái niệm và các yêu cầu khi thực hiện phương pháp khen thưởng và trách phạt

Phần 3 : Hoạt động dạy học ở trường phổ thông

7 Khái niệm, bản chất, nhiệm vụ, động lực, logic của quá trình dạy học

8 Khái niệm nguyên tắc dạy học Trình bày nội dung và yêu cầu thực hiện của các nguyên tắc:

Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học.Đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển đất nước

9 Khái niệm, ưu điểm, hạn chế và các yêu cầu khi sử dụng phương pháp thuyết trình, vấn đáp

10 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề

Phần 4: Đánh giá trong giáo dục

11 Khái niệm, những yêu cầu sư phạm trong đánh giá học sinh

12 Định nghĩa, yêu cầu khi soạn thảo câu trắc nghiệm nhiều lựa

chọn Lấy ví dụ minh họa 3 Bài tập tính độ khó, độ phân biệt của câu trắc nghiệm

Trang 2

TRẢ LỜI

Câu 1: Các tính chất cơ bản của giáo dục.

- Giáo dục là một hiện tượng phổ biến và vĩnh hằng

+ Giáo dục là một hiện tượng chỉ có ở xã hội loài người Giáo dục xuất hiện,gắn bó cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, ở đâu có con người ở đó cógiáo dục, nó là một phần không thể tách rời của đời sống xã hội, giáo dục có ở mọithời đại, mọi thiết chế xã hội khác nhau (tính phổ biến)

+ Khi nào còn tồn tại loài người, lúc đó còn tồn tại giáo dục và nó chỉ mất đikhi xã hội loài người không còn tồn tại, vì vậy giáo dục mang tính vĩnh hằng

+ Giáo dục chịu sự quy định của xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển kinh

tế xã hội và đáp ứng các yêu cầu kinh tế xã hội trong những điều kiện cụ thể Ví dụ

+ Giáo dục luôn biến đổi trong quá trình phát triển của lịch sử loài người,không có một nền giáo dục rập khuôn cho mọi hình thái kinh tế xã hội, cũng nhưmọi quốc gia, chính vì vậy giáo dục mang tính lịch sử

- Giáo dục mang tính giai cấp

+ Tính chất giai cấp của giáo dục thể hiện trong các chính sách giáo dụcchính thống được xây dựng trên cơ sở của nhà nước cầm quyền, nó khẳng địnhgiáo dục không đứng ngoài chính sách và quan điểm của nhà nước, điều đó đượctoàn xã hội chấp nhận

+ Giáo dục được sử dụng như một công cụ của giai cấp cầm quyền nhằmduy trì lợi ích của giai cấp mình Chính vì vậy mà trong xã hội có giai cấp đốikháng, giáo dục là đặc quyền của giai cấp thống trị Trong xã hội không có giai cấpđối kháng, giáo dục luôn hướng tới sự công bằng

+ Tính giai cấp quy định mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp

Di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học giống với cha mẹ;

là sự truyền lại từ cha mẹ sang con cái những phẩm chất và những đặc điểmsinh học đã được ghi lại trong hệ thống gen Di truyền quyết định những đặcđiểm sinh học chung của loài người về hình dáng cơ thể, cấu tạo của bộ não

và hệ thần kinh…Còn bẩm sinh là những thuộc tính, đặc điểm sinh học cóngay khi đứa trẻ mới sinh

Trang 3

Vai trò

Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, quan điểm Mác xitcho rằng: Di truyền có vai trò làm cơ sở, tiền đề cho sự phát triển nhân cáchcon người Thể hiện:

- Không có não phát triển bình thường thì sẽ không có sự phát triển tâm

lí bình thường

- Những điều kiện sinh vật qui định con đường và phương thức khácnhau phát triển các thuộc tính nhân cách khác nhau, ảnh hưởng tới tốc độđỉnh cao trong hoạt động của con người

- Di truyền không thể qui định trước giới hạn tiến bộ của xã hội

- Những tư chất được di truyền chỉ đặc trưng cho lĩnh vực hoạt độngrộng rãi mà không định hướng một lĩnh vực cụ thể nào

Từ những điểm phân tích như trên chúng ta phải đánh giá đúng mức vaitrò của di truyền bẩm sinh, không xem nhẹ nhưng cũng không tuyệt đối hóavai trò của di truyền trong sự hình thành và phát triển nhân cách Quan tâmđúng mức đến yếu tố di truyền để phát huy hết bản năng tự nhiên ở conngười, cần khai thác những tư chất, sự say mê và hứng thú ở trẻ để bồi dưỡngkịp thời nhằm phát triển tài năng của trẻ Nhà giáo dục phải phát huy bảnchất tự nhiên của con người, phát hiện sớm và có kế hoạch chăm sóc tài năng

ở trẻ em

Cần tránh một số khuynh hướng như: xem nhẹ nhân tố di truyền, đã bỏqua yếu tố tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển nhân cách, hoặc tuyệt đốihóa, đánh giá quá cao vai trò của nhân tố di truyền dẫn đến sai lầm về nhậnthức luận là phủ định khả năng về nhận thức, hạ thấp vai trò của giáo dục

Vai trò của yếu tố giáo dục

Khái niệm

Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhàgiáo dục) và đối tượng (người được giáo dục) nhằm hình thành và phát triểnnhân cách của người được giáo dục theo những yêu cầu của xã hội Đây làquá trình tác động tự giác có mục đích, có nội dung, phương pháp, phươngtiện v.v… được lựa chọn, tổ chức một cách khoa học giúp cho mọi cá nhânchiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị xã hội của nhân loại bằngcon đường ngắn nhất

Vai trò

* Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và phát

triển nhân cách, bởi vì nó được thực hiện theo định hướng thống nhất vì mụcđích nhân cách lí tưởng mà xã hội đang yêu cầu Ba lực lượng giáo dục là giađình, nhà trường và các đoàn thể xã hội, trong đó giáo dục nhà trường có vaitrò quan trọng, giáo dục gia đình là nền tảng và các tổ chức đoàn thể xã hộiđóng vai trò thúc đẩy trực tiếp sự phát triển nhân cách theo sự phát triển xãhội

Trang 4

- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và pháttriển nhân cách học sinh mà còn tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiệnquá trình đó đến kết quả cuối cùng.

- Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lạinhững tiến bộ mà các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnhkhông thể tạo ra được do tác động tự phát

- Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, hành vi, phẩmchất lệch lạc không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội Đó chính làkết quả quan trọng của giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp

- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tậthoặc thiểu năng do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra Nhờ có

sự can thiệp sớm, nhờ có phương pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với

sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học có thể giúp người khuyết tật, thiểunăng phục hồi chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bùtrừ những chức năng khiếm khuyết, giúp họ hòa nhập vào cuộc sống cộngđồng

- Giáo dục là những tác động có điều khiển và điều chỉnh cho nênkhông những thích ứng với yếu tố di truyền, bẩm sinh, môi trường, hoàncảnh trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách mà còn có khả năngkìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đó theo một giatốc phù hợp mà di truyền và hoàn cảnh không thể thực hiện được

* Để phát huy vai trò chủ đạo của mình, giáo dục cần tích cực cải tạomôi trường sống (gia đình, nhà trường, xã hội) làm cho nó ngày càng lànhmạnh, văn minh, tạo thành định hướng thống nhất vì mục tiêu nhân cách

Không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục, không nên coi “giáo dục

là vạn năng” Cần phải tiến hành giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc

tổ chức hoạt động, tổ chức các mối quan hệ giao tiếp trong tập thể và trong

xã hội Giáo dục không tách rời tự giáo dục, tự rèn luyện và tự hoàn thiệnnhân cách ở mỗi cá nhân

Câu 3: Các mục tiêu giáo dục xã hội của Việt Nam trong thời kì hiện nay (Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài)

Mục tiêu giáo dục Việt Nam

Các cấp độ mục tiêu giáo dục Việt Nam

Mục tiêu ở cấp độ tổng quát

* Mục tiêu giáo dục xã hội: Đó là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi

dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước,xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Mục tiêu nâng cao dân trí Nhà nước xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân

là để tạo mọi điều kiện cho nhân dân được học tập, nhằm biến nước ta thành một xãhội học tập Giáo dục có mục đích nâng cao dân trí đồng nghĩa với việc nâng cao

Trang 5

trình độ học vấn cho nhân dân và hình thành nếp sống văn hóa cho cộng đồng xãhội.

Để nâng cao dân trí giáo dục phải luôn đổi mới theo hướng “nhân văn hóa,

xã hội hóa, đa dạng hóa” với những phương thức thích hợp, huy động mọi nguồnlực và tiềm năng của xã hội làm giáo dục

Trình độ dân trí thể hiện trình độ văn hóa, đạo đức, thẩm mĩ; là kết quả tổnghợp của nhiều lĩnh vực giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội)

Mục tiêu đào tạo nhân lực Mục đích xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân

Việt Nam là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để từng bước hòa nhập vàtiến kịp trình độ trong khu vực và trên thế giới

Chất lượng và hiệu quả lao động trong thời đại cách mạng khoa học – côngnghệ luôn luôn phụ thuộc vào trình độ được đào tạo của nguồn nhân lực

Yêu cầu đào tạo con người có khả năng tiếp cận cái mới, năng động,sáng tạo trong sản xuất, kĩ thuật, công nghệ, thích ứng với sự biến động vàphát triển của nền kinh tế - xã hội đang phát triển trong cơ chế mới đòi hỏigiáo dục phải có phương thức đào tạo nhạy bén, linh hoạt, đa dạng

Mục tiêu bồi dưỡng nhân tài Mục đích của hệ thống giáo dục quốc dân Việt

Nam là phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Giáo dục phải làm phát triểntối đa tiềm năng của những người có tài, để họ đóng góp được cả sức lực và trí tuệcho sự phát triển xã hội

Việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài phải được tiến hành trên cơ sở phổ cậprộng rãi để có thể sàng lọc, lựa chọn, phải có điều kiện cơ sở vật chất, kinh tế, tàichính Bồi dưỡng nhân tài phải đi đôi với thu hút và sử dụng nhân tài một cách hợplý

Việc xác định đúng đắn mục tiêu giáo dục của nền giáo dục Việt Namtrong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một vấn đề có tầmchiến lược Vì thế, việc xác định mục tiêu giáo dục càng chính xác, càng có ýnghĩ nhân văn, ý nghĩa kinh tế xã hội sâu sắc thì hiệu quả, chất lượng giáodục ngày càng cao, làm cho giáo dục gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội

* Mục tiêu nhân cách: Nghị quyết TWII- khóa VIII xác định nhân

cách con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưsau: “ …Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởngđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiêncường xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoavăn hóa nhân loại Phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam,

có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thứckhoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hànhgiỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức, kỉ luật, có sức khỏe, là

những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”

như lời dặn của Bác Hồ

Trang 6

Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo conngười Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ

và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Mục tiêu ở cấp độ hệ thống giáo dục

* Mục tiêu giáo dục mầm non: Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm,

trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bịcho trẻ em vào học lớp một

* Mục tiêu giáo dục Tiểu học: Nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thànhnhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệmcông dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở

* Mục tiêu giáo dục Trung học cơ sở: Nhằm giúp học sinh củng cố, phát

triển những kết quả của giáo dục Tiểu học, có trình độ học vấn phổ thông cơ

sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục họctrung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộcsống lao động

* Mục tiêu giáo dục Trung học phổ thông: Nhằm giúp học sinh củng cố

và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện họcvấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp

để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đivào cuộc sống lao động

* Mục tiêu giáo dục Trung học chuyên nghiệp: Nhằm đào tạo kĩ thuật

viên, nhân viên nghiệp vụ có kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp ở trình độtrung cấp

* Mục tiêu của trường dạy nghề: Nhằm đào tạo người lao động có kiến

thức và kĩ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệpvụ

* Mục tiêu đào tạo trình độ Cao đẳng và Đại học: Giúp sinh viên có

kiến thức chuyên môn và kĩ năng thực hành về ngành nghề, có khả năng pháthiện và giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo

* Mục tiêu đào tạo trình độ Thạc sĩ: Giúp học viên nắm vững lí thuyết,

có trình độ cao về thực hành, có khả năng phát hiện và giải quyết những vấn

đề thuộc chuyên ngành đào tạo

* Mục tiêu đào tạo trình độ Tiến sĩ: Giúp nghiên cứu sinh có trình độ

cao về lí thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, giảiquyết những vấn đề khoa học – công nghệ và hướng dẫn hoạt động chuyênmôn

Như vậy, mục tiêu giáo dục bao gồm một hệ thống những yêu cầu chotừng bậc học, cấp học, chúng nối tiếp nhau để đưa sự nghiệp giáo dục ViệtNam ngày càng tiến dần đến mục đích giáo dục tổng thể

Trang 7

Mục tiêu ở cấp độ chuyên biệt

Là những chỉ tiêu, yêu cầu cụ thể cần phải đạt được như mục tiêu dạy,mục tiêu dạy học, mục tiêu của chương trình, của môn học Mục tiêu ở cấp

độ này đề cập đến 3 mặt: Kiến thức, kĩ năng và thái độ mà học sinh phải đạtđược trong quá trình học tập

Mục tiêu về mặt kiến thức: Là hệ thống những khái niêm, phạm trù theo

nội dung từng môn học, từng chuyên ngành cụ thể Kết quả học tập của họcsinh được đánh giá về số lượng và chất lượng kiến thức mà họ đã tiếp thuđược

Mục tiêu về mặt kĩ năng: Là khả năng thực hiện các công việc cụ thể,

sau khi học sinh đã qua một chương trình học tập, một khóa huấn luyện.Trình độ kĩ năng được đánh giá bằng chất lượng sản phẩm mà học sinh làmra

Mục tiêu về mặt thái độ: Là biểu hiện ý thức của học sinh với kiến thức

đã tiếp thu được và những dự định ứng dụng chúng vào cuộc sống Nó đượcbiểu hiện trong mối quan hệ của bản thân với gia đình, với xã hội và vớicông việc được giao

Câu 4: Khái niệm, bản chất, đặc điểm, các khâu của quá trình giáo dục.

Khái niệm quá trình giáo dục

Như chúng ta đã biết, quá trình sư phạm tổng thể bao gồm hai quá trình: quátrình dạy học và quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) Nếu quá trình dạy học có mụctiêu chủ yếu là giúp cho học sinh nắm vững kiến thức, rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảotương ứng, phát triển trí tuệ, trên cơ sở đó hình thành cho họ những giá trị đạo đứcphù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, thì quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp)

có mục tiêu chủ yếu là xây dựng ý thức và hành vi, làm cho học sinh có nhận thức đúng đắn về các yêu cầu, chuẩn mực xã hội, có niềm tin, thái độ phù hợp, có hành

vi thói quen hành động đáp ứng được yêu cầu của xã hội Như vậy, quá trình giáo

dục ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, là một quá trình bộ phận của quá trình sưphạm tổng thể Vậy, quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) là:

Quá trình giáo dục là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục và người được giáo dục, hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị, động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ, văn hóa, làm phát triển nhân cách người được giáo dục theo mục đích giáo dục của nhà trường và xã hội (Trần Thị Tuyết

Oanh, Tr 7,8).

Từ khái niệm chung này, chúng ta rút ra những điều đáng chú ý sau:

- Quá trình giáo dục diễn ra sự tác động qua lại tích cực và thống nhất biệnchứng giữa nhà giáo dục và người được giáo dục

- Trong sự tương tác này, tác động của nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo: tổchức, điều khiển quá trình hình thành nhân cách của người được giáo dục, cònngười được giáo dục vừa là đối tượng giáo dục chịu sự tác động có tính định hướng

Trang 8

của nhà giáo dục, vừa là chủ thể tự giáo dục: tự tổ chức, tự điều khiển quá trìnhhình thành nhân cách của mình.

Đặc điểm của quá trình giáo dục

So với quá trình dạy học, quá trình giáo dục có những đặc điểm khác biệtnhư sau:

Quá trình giáo dục diễn ra với những tác động giáo dục phức hợp

Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục chịu ảnh hưởng của nhữngtác động từ nhiều phía khác nhau: gia đình, nhà trường và xã hội Ngay trong giađình, trong nhà trường hoặc trong xã hội, người được giáo dục cũng chịu ảnhhưởng của nhiều tác động khác nhau Ví như trong gia đình, có những tác động củacha mẹ, của anh chị em, của nếp sống gia đình, ; trong nhà trường có những tácđộng của giáo viên, của tập thể lớp, của nội qui, của nội dung, phương pháp, hìnhthức tổ chức giáo dục…; trong xã hội, có những tác động của các cơ quan thông tinđại chúng, của các phim ảnh, sách báo, của người lớn…

Những tác động trên đan kết vào nhau rất mật thiết, tạo ra những ảnhhưởng tích cực, thống nhất đối với người được giáo dục Song cũng có nơi,

có lúc, có những tác động cụ thể ngược chiều, tạo ra những lực nhiễu gâykhó khăn cho quá trình giáo dục

Do đó, trong quá trình giáo dục cần quan tâm:

- Cần tổ chức và phối hợp được tất cả các tác động giáo dục theo hướng tíchcực

- Đồng thời, ngăn chặn, hạn chế đến mức tối đa những tác động tiêu cực

- Bồi dưỡng cho người được giáo dục khả năng phân tích, đánh giá, phân biệtnhững tác động tích cực với những tác động tiêu cực, lòng mong muốn và khả năngđịnh hướng, tiếp nhận những tác động tích cực

Quá trình giáo dục mang tính lâu dài

Quá trình giáo dục nhằm hình thành những quan điểm, niềm tin, lí tưởng,động cơ, tình cảm, hành vi thói quen nên đòi hỏi một thời gian lâu dài mới đạt đượckết quả

Tính lâu dài của quá trình giáo dục được thể hiện:

- Quá trình giáo dục được thực hiện trong suốt cả cuộc đời con người, từ lúcsinh ra cho đến khi không còn sống nữa

- Những phẩm chất mới của nhân cách chỉ được hình thành sau khi ngườihọc được trải nghiệm một thời kì nhận thức, thể nghiệm, luyện tập và cả đấu tranhbản thân trong cuộc sống

- Những nếp nghĩ cũ, những thói quen xấu thường tồn tại dai dẳng, trở đi trởlại mãi trong ý thức và hành vi của mỗi người được giáo dục Do đó, không nên vộivàng cho rằng một số động tác hành vi vừa được tập luyện là những nét tính cách

đã bền vững

- Kết quả của công tác giáo dục khó nhận thấy ngay và có khi kết quả đó lại

bị biến đổi đi hoặc mất đi

Do đó, trong quá trình giáo dục cần quan tâm:

Trang 9

- Quá trình giáo dục cần phải được tiến hành bền bỉ, liên tục theo một kếhoạch ổn định, lâu dài;

- Đồng thời, trong quá trình giáo dục cần phải phát huy được cao độ tính tựgiác, nỗ lực tự giáo dục giáo dục kéo dài, liên tục của người được giáo dục

Quá trình giáo dục mang tính cụ thể

Đối tượng của quá trình giáo dục là những con người cụ thể, mà mỗicon người cụ thể lại có những đặc điểm riêng về điều kiện sống, về đặc điểmtâm sinh lý, về năng lực nhận thức vì vậy đứng trước cùng một hoạt độngnhư nhau thì mỗi đối tượng lại có những cách tiếp nhận và phản ứng khácnhau

Mặt khác, quá trình giáo luôn luôn diễn ra trong những tình huống cụthể với những mâu thuẫn và xung đột cụ thể Mỗi tình huống đó đòi hỏi phải

có một phương thức xử lý phù hợp

Tính cụ thể của quá trình giáo dục được thể hiện như sau:

- Những tác động của nhà giáo dục đến đối tượng khác nhau là khácnhau, trên cơ sở chú ý đến những đăc điểm của từng loại đối tượng cụ thể

- Quá trình giáo dục được diễn ra trong thời gian, thời điểm, khônggian với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

- Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể, riêng biệt đối với từng loạiđối tượng giáo dục

Do đó, trong quá trình giáo dục cần quan tâm:

- Trước khi giáo dục cần nghiên cứu đặc điểm của đối tượng (nhữngkinh nghiệm riêng, những thái độ và thói quen đã hình thành của người đượcgiáo dục) và hoàn cảnh tồn tại của đối tượng, từ đó vận dụng những quy luật,nguyên tắc, phương pháp giáo dục cho phù hợp với tính cụ thể đó

- Bên cạnh những tác động chung, nhà giáo dục cần có những tác độngriêng phù hợp với từng đối tượng giáo dục trong từng tình huống cụ thể

- Tuyệt đối tránh cách giáo dục rập khuôn, máy móc, hình thức vì cáchgiáo dục này sẽ mang lại hiệu quả thấp, không bền vững, thậm chí còn có thể

dẫn đến những thất bại “Dạy khoa học tự nhiên, ta có thể dùng định lý, dùng công thức Nhưng xây dựng con người, xây dựng tình cảm không thể theo công thức được” (Lê Duẩn Xây dựng nền văn hóa mới con người mới xã hội

chủ nghĩa NXB Văn hóa Hà Nội,1977, tr 81)

Quá trình giáo dục có quan hệ mật thiết với quá trình dạy học

Quá trình giáo dục và quá trình giáo dục là hai bộ phận của quá trình sưphạm toàn vẹn, chúng có mối quan hệ mật thiết hữu cơ không tách rời

Quá trình dạy học không những phải giúp cho người học nắm vữngđược hệ thống những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển được năng lực hoạtđộng trí tuệ (dạy chữ) mà còn thông qua đó để giúp cho người học hìnhthành và phát triển thế giới quan khoa học, những phẩm chất nhân cách củangười công dân, của người lao động (dạy người) Cho nên dạy học được coi

là con đường cơ bản để giáo dục hay dạy học có tính giáo dục

Trang 10

Ngược lại, nhờ quá trình giáo dục, người học xây dựng được thế giới quankhoa học, động cơ, thái độ học tập đúng đắn và những phẩm chất nhân cách khác(dạy người) Chính kết quả giáo dục này lại tạo điều kiện để thúc đẩy hoạt độnghọc tập nói riêng, hoạt động dạy học nói chung (dạy chữ) vận động và phát triển.

Do đó, trong quá trình giáo dục, cần đề phòng tình trạng tách rời hai quátrình dạy học và giáo dục với nhau

Thực tiễn dạy học hiện nay, nhà trường thường tập trung mọi nỗ lực vào quá

trình dạy học, ít chú ý đến quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp), nghĩa là ít tổ chứcsinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội, hoạt động lao động công ích và lao động sảnxuất…; ít chú ý đến việc học tập, rèn luyện trong đời sống, vận dụng kiến thức đểgiải quyết các vấn đề thực tiễn, không có điều kiện rèn luyện ý chí, phẩm chất vànăng lực ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên học sinh rất bỡ ngỡ khi bướcvào cuộc sống Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm chấtlượng giáo dục hiện nay

Bản chất của quá trình giáo dục

Quá trình giáo dục là quá trình xã hội hình thành con người

C Mác cho rằng: “…Bản chất của con người không phải là cái gì trừutượng, vốn có của mỗi cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bảnchất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Như vậy, những nétbản chất của con người chính là do các mối quan hệ xã hội hợp thành Dovậy, quá trình giáo dục là quá trình làm cho người được giáo dục (học sinh) ýthức được các quan hệ xã hội và các giá trị của nó (bao gồm các quan hệchính trị - tư tưởng, kinh tế, pháp luật, đạo đức) để rồi biết vận dụng đúngđắn các quan hệ và các giá trị đó vào trong các lĩnh vực hoạt động và đờisống xã hội

Quá trình vận dụng, trải nghiệm các quan hệ xã hội đó sẽ giúp cho họcsinh tích lũy được kinh nghiệm xã hội, có nhu cầu và biết thể hiện đúng đắncác quan hệ xã hội trong hoạt động, trong đời sống cá nhân và vào việc cảitạo xã hội Chính trong quá trình tham gia vào các mối quan hệ xã hội nhưvậy sẽ giúp cho học sinh khẳng định những quan hệ xã hội mới, tích cựctrong mọi lĩnh vực của cuộc sống và biết loại bỏ khỏi bản thân những quan

hệ không tốt, những biểu hiện tiêu cực, tàn dư cũ, lạc hậu không còn phù hợpvới xã hội hiện đại

Quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu xã hội cho học sinh

Triết học mác – xít cho rằng: Bản chất xã hội của con người chỉ có được khi

nó tham gia vào đời sống xã hội đích thực thông qua hoạt động và giao lưu ở mộtmôi trường văn hóa (văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần) Do đó, việc tiếp cậnbản chất quá trình giáo dục buộc chúng ta phải xem xét quá trình tổ chức cuộcsống, hoạt động và giao lưu xã hội của học sinh

Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống của conngười và cũng là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển nhân cách cá

Trang 11

nhân Quá trình giáo dục với tư cách là một loại hình hoạt động và giao lưu củagiáo viên và học sinh, bao giờ cũng bao gồm hai mặt:

- Sự tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục thông qua cácphương tiện thông tin và giao lưu để ảnh hưởng đến các mặt nhân cách (nhận thức,tình cảm, ý chí) của người học

- Sự hưởng ứng tích cực của người học đối với các tác động đó và sự chủđộng và tự giác hoàn thiện nhân cách của bản thân người học

Nói cách khác, sự thống nhất giữa tác động sự phạm của giáo viên và hoạtđộng tự giác hoàn thiện nhân cách của học sinh là nét bản chất của quá trình giáodục

Từ những phân tích trên, ta đi đến kết luận:

Bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động

và giao lưu xã hội nhằm giúp cho học sinh (người được giáo dục) tự giác, tích cực, độc lập chuyển hóa những yêu cầu và những chuẩn mực của xã hội thành hành vi

và thái độ tương ứng.

Các khâu của quá trình giáo dục

Khi xét quá trình giáo dục là một quá trình, ta thấy quá trình giáo dục diễn ratheo nhiều giai đoạn Khi xét về bản chất thì quá trình giáo dục là những tác độnglàm biến đổi về mặt nhận thức, thái độ, tình cảm để hình thành những hành vi thóiquen cho học sinh (người được giáo dục) theo quy luật hình thành nhân cách Dovây, khi nghiên cứu một cách tổng quát trên cả hai phương diện đó, ta thấy quátrình giáo dục được diễn ra ba khâu sau đây:

Giáo dục nhận thức

Quá trình giáo dục trước hết là quá trình tác động vào mặt nhận thức làm chohọc sinh nhận thức đúng, đầy đủ, chính xác các nội dung khái niệm về các chuẩnmực xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội (tư tưởng, chính trị,đạo đức, văn hóa, thẩm mĩ,…)

Nhận thức đúng đắn, học sinh mới có thể biết và nên hành động như thế nàotrong các tính huống của đời sống xã hội Nhận thức là thành phần cơ bản của ýthức cá nhân, là kim chỉ nam cho hành động Nhận thức đúng sẽ có cơ hội để dẫnđến hành động đúng Ngược lại, nhận thức sai lệch là nguyên nhân của những hànhđộng không đúng Trong nhiều trường hợp, do thiếu hiểu biết của con người dẫnđến có những việc làm không phù hợp với đạo đức, lẽ phải, với những quy tắcthông thường Do đó, giáo dục ý thức là khâu quan trọng nhất của quá trình giáodục

Quá trình giáo dục là quá trình giúp cho học sinh phát triển về mặt nhận thức

từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ biết những điều đơn giản đến phứctạp hơn, cao hơn…để rồi biết vận dụng chúng vào đời sống xã hội

Quá trình giáo dục làm cho học sinh từ nhận thức đúng đắn mà hình thành lýtưởng, tình cảm, niềm tin, thế giới quan, nhân sinh quan…

Giáo dục thái độ, niềm tin và tình cảm

Quá trình giáo dục, ngoài việc làm cho học sinh nhận thức đúng đắn, cònphải hình thành cho họ thái độ, niềm tin và tình cảm đúng

Trang 12

Thái độ, niềm tin và tình cảm là biểu hiện cụ thể của quan điểm sống vớinhững giá trị, chuẩn mực xã hội và của bản thân.

Trong sự chuyển hóa từ nhận thức thành hành vi thói quen, tình cảm có ýnghĩa vô cùng quan trọng Thái độ, niềm tin, tình cảm là kết quả của quá trình giáodục, nhưng nó lại có giá trị hướng dẫn con người trong hành động Thái độ, niềmtin, tình cảm là chất men kích thích, là nội lực, là sức mạnh tinh thần to lớn đểchuyển hóa ý thức thành hành vi thói quen

Thực tiễn cho thấy rằng, nhận thức đúng nhưng không có niềm tin thì hànhđộng của con người sẽ trở nên vô cảm, khô khan và cứng nhắc

Trong quá trình giáo dục cần phải bồi dưỡng tình cảm, thái độ tốt đẹp đúngđắn cho học sinh Đồng thời, cần chú ý uốn nắn, sửa chữa, khắc phục những xúccảm, tình cảm sai lệch, thiếu trong sáng ở học sinh

Để bồi dưỡng, hình thành được những tình cảm tốt đẹp cho học sinh cần phảidựa vào cơ chế hình thành tình cảm (tạo ra nhiều xúc cảm đồng loại và được tổnghợp lại) Muốn vậy, trong các quan hệ giáo dục, đặc biệt là quan hệ thầy trò phải tốtđẹp, tạo được nhiều ấn tượng tình cảm ở học sinh

Rèn luyện, hình thành hành vi, thói quen

Qúa trình giáo dục nhất thiết phải dẫn đến đích cuối cùng là giúp cho họcsinh biết thể hiện nhận thức bằng hành động Hành vi đạo đức được thể hiện lặp đilặp lại trong nhiều tình huống khác nhau và ổn định được xem là bộ mặt đạo đứccủa cá nhân

Việc giáo dục cho học sinh hành vi và thói quen có vị trí rất quan trọng trongquá trình giáo dục bởi vì hành vi và thói quen là bộ mặt đạo đức của con người, làmục đích cuối cùng mà quá trình giáo dục cần đặt được K.Đ Usinxki đã từng nói:

“Giáo dục được xây dựng trên thói quen là nền giáo dục vững chắc Giáo dụckhông được xây dựng trên thói quen cũng giống như xây dựng lâu đài trên bãi cát.”

Hành vi thói quen chính là kết quả của nhận thức, đồng thời là biểu hiện cụthể và sinh động nhất của thái độ, niềm tin của con người

Hành vi thói quen tích cực có tác dụng củng cố, khắc sâu những ý thức vàthái độ, tình cảm đã được hình thành ở học sinh

Để giáo dục hành vi thói quen cho học sinh, ở trường phổ thông cần tổ chứctốt các dạng hoạt động: học tập, lao động, văn nghệ, thể thao, và sinh hoạt tập thểvới những hình thức hấp dẫn, đa dạng

Tóm lại, ba khâu trên của quá trình giáo dục có liên quan chặt chẽ với nhau,

không thể tách rời nhau, thiếu một trong ba khâu thì sẽ không còn là quá trình giáo dục hoàn chỉnh, mỗi khâu là tiền đề đồng thời là kết quả của các khâu kia Tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, vào nội dung, yêu cầu giáo dục cụ thể đối với từng đối tượng giáo dục cụ thể mà nhà giáo dục nên bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu, bởi vì quá trình giáo dục là quá trình biện chứng, rất sinh động cần có các phương pháp linh hoạt

Trang 13

Câu5: Khái niệm nguyên tắc giáo dục Trình bày nội dung và yêu cầu thực hiện của các nguyên tắc :

- Tôn trọng nhân cách học sinh kết hợp với yêu cầu cao hợp lí trong quá trình giáo dục.

- Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể.

Khái niệm chung về nguyên tắc giáo dục

Muốn tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục đạt kết quả tối ưu, cần tuântheo những nguyên tắc giáo dục Vậy, nguyên tắc giáo dục là gì?

Nguyên tắc theo tiếng La tinh là “pricipium”, có nghĩa là tư tưởng,

quy tắc cơ bản, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động và hành vi

Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lí luận

giáo dục, có tác dụng chỉ đạo việc lựa chọn và vận dụng nội dung, phương pháp vàcác hình thức tổ chức giáo dục nhằm thực hiện tối ưu mục đích và nhiệm vụ giáodục

Từ khái niệm này, chúng ta thấy nguyên tắc giáo dục có những đặc điểm sau:

- Nguyên tắc giáo dục là những luận điểm mang tính chuẩn mực, được

kế thừa và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trong lịch sử phát triển giáo dục

- Nguyên tắc giáo dục có cơ sở khách quan, là những mối liên hệ có tính quy

luật được nảy sinh trong thực tiễn giáo dục và được hình thành, phát triển trên cơ

sở nhận thức, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những quy luật khách quan đó trongthực tiễn giáo dục

- Nguyên tắc giáo dục có vai trò định hướng, chỉ đạo việc lựa chọn và vận

dung nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục, chỉ đạo toàn bộquá trình giáo dục nhằm thực hiện tối ưu mục đích và nhiệm vụ giáo dục

- Nguyên tắc giáo dục là chỗ dựa đáng tin cậy về mặt lí luận giúp giáo

viên tổ chức một cách khoa học quá trình giáo dục để đạt kết quả tối ưu Tuynhiên, nguyên tắc giáo dục không thể thay thế các tri thức chuyên biệt,những kinh nghiệm sinh động của giáo dục, những năng lực và nghị lực củagiáo viên Vì vậy phải kết hợp các nguyên tắc và kinh nghiệm sáng tạo củagiáo viên

Kinh nghiệm cho thấy, trong giáo dục, nhà giáo dục nào quán triệt tốtcác nguyên tắc giáo dục thì quá trình giáo dục sẽ có hiệu quả cao và từ đó, cóthể đạt được mục đích giáo dục Ngược lại, nếu nhà giáo dục vi phạmnguyên tắc giáo dục thì việc giáo dục học sinh sẽ không có chất lượng vàhiệu quả như mong muốn, thậm chí gây phản tác dụng giáo dục

Tôn trọng nhân cách học sinh kết hợp với yêu cầu cao hợp lí trong quá trình giáo dục.

Tôn trọng nhân cách học sinh trong quá trình giáo dục đòi hỏi phải tôntrọng phẩm giá, danh dự, thân thể học sinh và kích thích lòng tự trọng củacác em

Trang 14

Trong quá trình giáo dục cùng với việc tôn trọng nhân cách học sinh, nhàgiáo dục phải luôn nêu ra những đòi hỏi sư phạm - những yêu cầu cao hợp lý đểhọc sinh phấn đấu rèn luyện theo

Cũng cần hiểu rằng: tôn trọng nhân cách cũng chính là yêu cầu cao đối vớihọc sinh và càng yêu cầu cao đối với học sinh càng phải tôn trong học sinh Haimặt đó thống nhất với nhau đòi hỏi nhà giáo dục một mặt phải tin tưởng con người,mặt khác phải tạo điều kiện cho học sinh hoạt động và tạo cơ hội để họ trưởngthành A.X Makarenkô, khi thực hiện nguyên tắc này trong công tác giáo dục của

mình, đã nói: “…càng yêu cầu cao đối với con người bao nhiêu thì đồng thời, cần phải hết sức tôn trọng con người bấy nhiêu” (A.X Makarenkô Một số kết luận từ

kinh nghiệm sư phạm của tôi Toàn tập, tập V, 1960, tr 229)

Để vận dụng có hiệu quả nguyên tắc này, cần thực hiện một số yêu cầunhư:

+ Trong quá trình giáo dục cần phải tôn trọng phẩm giá, danh dự, thânthể của học sinh và kích thích lòng tự trọng của các em

+ Khi các em có những hành vi, lời nói trái với chuẩn mực hành vi,giáo viên phải biết tự kiềm chế, bình tĩnh, nghiêm khắc, chân tình giúp đỡcác em nhận ra lỗi lầm, không mạt sát sỉ nhục, đánh đập, thể hiện sự thiếutôn trọng các em

+ Tôn trọng nhân cách các em cần phải lạc quan tin tưởng đối với sựtiến bộ của học sinh Tuyệt đối không thành kiến với học sinh, ngay cả vớinhững học sinh mắc phải những lỗi lầm lớn

+ Giáo dục cần phải phát huy mặt tốt, ưu điểm của học sinh là chính,phải nhìn thấy mặt tốt của con người để động viên phát triển nó lên Đồngthời khi các em mắc lỗi, mắc sai lầm thì cũng phải có phương pháp giáo dục,không được hắt hủi, sỉ nhục

+ Đưa ra những yêu cầu hợp lí, ngày càng cao đối với người được giáodục Yêu cầu đặt ra phải khả thi, vừa sức và ngày càng cao để học sinh cốgắng nỗ lực thực hiện được và liên tục phấn đấu Đồng thời, các yêu cầu đặt

ra phải cụ thể, rõ ràng, phù hợp với trình độ được giáo dục của học sinh

+ Tránh những hiện tượng thiếu tôn trọng nhân cách học sinh (coithường học sinh, đối xử thô bạo) hoặc ngược lại quá dễ dãi, nuông chiều,thỏa mãn mọi yêu cầu của học sinh một cách vô điều kiện, không đòi hỏi họcsinh thực hiện nghiêm túc những yêu cầu giáo dục đã nêu ra

Nguyên tắc bảo đảm giáo dục trong tập thể và bằng tập thể

Tập thể là một nhóm, một cộng đồng người liên kết với nhau bởi mục đích

chung, mục đích này được quy định bởi mục đích chung của toàn xã hội

Trong quá trình giáo dục, cần giáo dục học sinh trong tập thể và bằng tập thể

Đó là vì tập thể học sinh vừa là môi trường giáo dục, vừa là phương tiện giáo dục

Tập thể học sinh được xem là môi trường giáo dục là vì:

+ Tập thể học sinh là một tập hợp có tổ chức chặt chẽ, có hoạt động chungvới mục đích thống nhất

Trang 15

+ Tập thể học sinh có bộ máy tự quản, xây dựng và thực hiện một hệ thốngcác mối quan hệ trong tập thể (quan hệ phục tùng của các thành viên đối với nộiquy của tập thể, quan hệ của các thành viên đối với công việc được giao, quan hệriêng tư giữa các thành viên trong tập thể).

+ Tập thể học sinh luôn duy trì các dư luận xã hội lành mạnh, phê phán, điềuchỉnh những thái độ, hành vi trái với các chuẩn mực xã hội của mỗi thành viêntrong tập thể

+ Tập thể học sinh có tạo nên được một phong độ của tập thể: phấn khởi,hoạt bát, hăng hái, tích cực, sẵn sàng hoạt động Sống trong tập thể, học sinh luôn ýthức về tập thể do bầu không khí thân ái, đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên, hìnhthành tinh thần ý thức tập thể ở mỗi học sinh

Mặt khác, tập thể học sinh còn là phương tiện giáo dục vì nó tạo ra đượcnhững tác động giáo dục tích cực đối với mỗi thành viên, cụ thể là:

+ Tập thể giúp cho các thành viên biến yêu cầu của nhà trường, của giáo viênthành yêu cầu giáo dục của tập thể và của mỗi thành viên Bên cạnh đó, nó còn tự

đề ra những yêu cầu giáo dục cho các thành viên của mình

+ Tập thể có khả năng kích thích, điều chỉnh, định hướng hành vi và thóiquen hành vi của các thành viên sao cho phù hợp với những yêu cầu giáo dục bằngsức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh

+ Tập thể còn đánh giá và tạo điều kiện cho mỗi thành viên tự đánh giá kếtquả rèn luyện hành vi và thói quen hành vi

Chính vì thế, trong quá trình giáo dục, cần tận dụng tập thể học sinh với tưcách vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục để giáo dục học sinh

Để vận dụng có hiệu quả nguyên tắc này, cần thực hiện một số yêu cầusau:

+ Nguyên tắc này đòi hỏi nhà giáo dục phải biết tổ chức, xây dựng vàlãnh đạo tốt tập thể học sinh, làm sao để mỗi tập thể là một đơn vị vữngmạnh, có tác dụng đến từng cá nhân và góp phần tạo nên một tập thể vữngmạnh

+ Biện pháp giáo dục rất quan trọng trong tập thể là “tác động songsong”, một mặt nhà giáo dục tác động đến tập thể để thông qua tập thể tácđộng đến từng cá nhân học sinh, làm cho nó trở thành một môi trường,phương tiện giáo dục đối với từng học sinh, mặt khác nhà giáo dục tác độngkhéo léo đến từng cá nhân, hai tác động đó tạo thành tác động tổng hợp đemlại hiệu quả giáo dục lớn

+ Xây dựng và tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các mối quan hệtập thể: quan hệ phục tùng; quan hệ đối với công việc được giao, quan hệriêng tư giữa các thành viên trong tập thể

+ Cần khắc phục hiện tượng tập thể mang tính hình thức chủ nghĩa(thiếu mục đích, thiếu tổ chức chặt chẽ, không có tác dụng tích cực về mặtgiáo dục, kìm hãm sự phát triển nhân cách)

Trang 16

Câu6: Khái niệm và các yêu cầu khi thực hiện phương pháp khen thưởng và trách phạt.

Phương pháp khen thưởng

Khái niệm và ý nghĩa

- Khen thưởng là phương pháp biểu thị sự đánh giá tích cực đối với hành vi ứng xử của người được giáo dục.

- Ý nghĩa của phương pháp khen thưởng: Trong quá trình giáo dục, phương

pháp khen thưởng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì:

+ Khen thưởng khẳng định hành vi của mỗi người được giáo dục là đúngđắn, là phù hợp với các chuẩn mực xã hội

+ Khen thưởng giúp cho người được giáo dục tự khẳng định những hành vitốt của mình; củng cố và phát triển được niềm tin về các chuẩn mực xã hội có liênquan đến những hành vi tốt của mình đã thực hiện

+ Khen thưởng sẽ kích thích người được giáo dục tiếp tục duy trì và pháttriển những hành vi tích cực; đồng thời tránh được những hành vi tiêu cực khôngphù hợp với các chuẩn mực xã hội

Như vậy, có thể nói, khen thưởng góp phần rất quan trọng nhằm hình thànhđộng cơ, tạo nên nội lực thúc đẩy quá trình giáo dục đạt hiệu quả mong muốn

Hình thức khen thưởng

Trong thực tiễn giáo dục, khen thưởng được thực hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau tùy theo tính chất và mức độ, phạm vi ảnh hưởng của những hành vi tíchcực và sự nỗ lực riêng biệt của người được giáo dục Có thể kể ra các hình thứckhen thưởng sau đây:

+ Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặcgián tiếp

+ Tỏ lời khen đối với hành vi tốt

+ Biểu dương những hành vi tốt

+ Thưởng (vật phẩm, tiền, học bổng, đi du lịch….)

Yêu cầu sư phạm phi sử dụng phương pháp khen thưởng

Để tiến hành khen thưởng mang lại hiệu quả giáo dục cao, nhà giáo dục cầnquán triệt các yêu cầu sau đây:

+ Đảm bảo khen thưởng dựa trên những phẩm chất, hành vi ứng xử trongcuộc sống thực tế, không dựa vào lời nói, hiện tượng, cảm tính, mà căn cứ vào việclàm, vào bản chất của sự việc…

+ Khen thưởng phải thật sự khách quan, công bằng, xem xét đánh giá đúngmức, không chủ quan, thiên lệch, thành kiến cá nhân…

+ Khen thưởng phải kịp thời, đúng chỗ, đúng thành tích, không tùy tiện vàphải kết hợp việc khen thưởng thường xuyên với khen thưởng cả quá trình

+ Người được khen thưởng phải được tập thể thừa nhận, dư luận hoannghênh

Trang 17

+ Đối với bản thân cá nhân hay tập thể được khen thưởng phải tự đánh giáđúng thành tích của mình để tự tin, phấn khởi tiếp tục phấn đấu rèn luyện khôngngừng vươn lên…

+ Chú ý khen những học sinh lần đầu đạt được thành tích dù chưa cao,những học sinh có tính rụt rè, tự ti Học sinh càng nhỏ càng nên khuyến khích khennhiều hơn

Phương pháp trách phạt

Khái niệm và ý nghĩa

- Trách phạt là phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự phản đối, sự

phê phán những hành vi sai trái của người được giáo dục so với các chuẩn mực xãhội

- Ý nghĩa của phương pháp trách phạt: Trong quá trình giáo dục, phương

pháp khen thưởng có ý nghĩa hết sức quan trọng vì:

+ Trách phạt tạo cơ hội ngăn chặn kịp thời những sai lầm của cá nhân haytập thể, đòi hỏi các em phải nhận thức được khuyết điểm, cảm thấy ăn năn hối lỗi

để sửa chữa và tự kiềm chế, không tái phạm những sai lầm một lần nữa

+ Trách phạt đúng mức sẽ có tác dụng nhắc nhở, khuyên răn những ngườikhác biết tự kiềm chế trước những cám dỗ tầm thường để không mắc phải nhữngsai lầm đáng tiếc

Hình thức trách phạt

Trong thực tiễn giáo dục, trách phạt được thực hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau tùy theo loại hình vi sai lệch; tính chất của hành vi sai lệch; mức độ vàphạm vi của những hành vi sai lệch gây ra Có thể kể ra các hình thức trách phạtsau đây:

+ Biểu thị thái độ, cử chỉ hay lời nói không tán thành

+ Nhắc nhở, phê bình trước tập thể

+ Cảnh cáo, ghi học bạ

+ Chuyển sang học lớp khác, trường khác

+ Đuổi học, khai ra khỏi tổ chức, đoàn thể

Đuổi học hay khai trừ ra khỏi tổ chức đoàn thể là biện pháp không nên dùng,

vì đó là trực tiếp thừa nhận sự bất lực của giáo dục

Yêu cầu sư phạm khi sử dụng phương pháp trách phạt

Khi tiến hành trách phạt nhà giáo dục cần tuân thủ các yêu cầu cơ bản sauđây:

+ Trách phạt phải hoàn toàn khách quan, công bằng Yêu cầu này đòi hỏikhi trách phạt một cá nhân hay tập thể phải hết sức thận trọng khi nhận xét, đánhgiá những hành vi sai lệch của đối tượng giáo dục Đặc biệt, khi quyết định hìnhthức, mức độ trách phạt sao cho công bằng đối với mọi người, mọi trường hợp.Tuyệt đối không vì định kiến cá nhân mà luận tội, trừng phạt nặng, kỉ luật oan đốivới học sinh Ngược lại, không thể vì quen thân, thiên vị mà giảm nhẹ mức độ saiphạm, hoặc chỉ trách phạt cho qua loa

Trang 18

+ Trách phạt phải đảm bảo cho đối tượng bị trách phạt nhận rõ những sailầm của mình, thấy được lí do trách phạt, mức độ nghiêm trọng của những sai sót

và sự trách phạt là tất yếu nên thật sự ân hận và quyết tâm sữa chữa

+ Trách phạt phải đảm bảo tôn trọng nhân phẩm và chú ý tới những đặc điểm

cá biệt của những cá nhân hoặc tập thể bị trách phạt, tuyệt đối không được xúcphạm về thân thể và tình cảm của các em, phải tin tưởng ở sự tiến bộ trong tươnglai

+ Phải hình thành được dư luận lành mạnh, đồng tình với sự trách phạt nhằmgiúp cho đối tượng bị trách phát sớm nhận ra sai lầm để quyết tâm sửa chữa

Câu7: Khái niệm, bản chất, nhiệm vụ, động lực, logic của quá trình dạy học Khái ni m v quá trình d y h c ệm về quá trình dạy học ề quá trình dạy học ạy học ọc.

Định nhgĩa quá trình dạy học

Theo bạn hiểu thì qúa trình dạy học là gì?

Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động diễn ra dưới sự tổ chức, điều khiển của người giáo viên (dạy) người học tự giác, tích cực biết tự tổ chức, tự điểu khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học (học).

Khi xem xét quá trình dạy học một cách tĩnh, nghĩa là xem xét nó ởmột thời điểm nhất định thì quá trình này bao gồm các thành tố cơ bản sau:Mục đích xã hội của dạy học: đây là “đơn đặt hàng” của xã hội đối

với các nhà sư phạm (người làm công tác dạy học – giáo dục) Mục đích này đượchiện thực hoá bằng nội dung dạy học

Nội dung dạy học: là một hệ thống những tri thức (kinh nghiệm lịch sử– xã hội) của thế hệ đi trước để lại cùng với những kỹ năng, kỹ xảo và thái

độ ứng xử tương ứng với nó thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học

xã hội và chính bản thân con người

Người thầy giáo (nhà giáo dục): là người được đào tạo nghễ dạy học

với đầy đủ những phẩm chất và năng lực phù hợp

Hệ thống các phương pháp dạy học…

Hệ thống các phương tiện dạy học…

Các hình thức tổ chức hoạt động dạy – học

Người học (người được giáo dục): là những con người đang trong tuổi

trưởng thành, đang trong buổi “bình minh của cuộc đời” với tất cả những gìđăc trưng, vốn có của lứa tuổi này

Kết quả của hoạt động dạy học: là mô hình nhân cách của người học phù hợp với yêu cầu của xã hội trong tương lai Đó là một con người phát triểntoàn diện: có phẩm chất đạo đức tốt, có trí tụê phát triển – thông minh, sáng tạo; cókhả năng lao động để tự nuôi sống chính mình và nuôi sống người khác; có khảnăng cảm thụ và sáng tạo thẩm mỹ

Toàn bộ những thành tố đó lại được đặt trong một môi trường giáodục

Trang 19

hết sức phong phú và đa dạng bao gồm: sự phát triển kinh tế xã hội, văn hoá, khoahọc – công nghệ…

Trong những thành tố đó thầy giáo được coi là có vai trò chủ đạo, còn

người học sinh có vai trò là chủ động (chủ thể của hoạt độnng), nội dung dạy học

là đối tượng tác động, tạo thành 3 đỉnh của một tam giác

ND

Tuỳ theo sự tác động khác nhau của 3 thành tố này mà có 3 cách tiếp cận khác nhau đối với quá trình dạy học trong lịch sử Hoặc là lấy người dạy làm trung tâm; hoặc là lấy nội dung dạy học làm trung trung tâm; hoặc là lấy học sinh làm trung tâm

Bản chất của hoạt động học trong quá trình dạy học.

Hãy Phân tích bản chất của hoạt động dạy học theo lý luận dạy học hiện đại, từ đórút ra kết luận sư phạm cần thiết!

Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển

bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất đinh.

Về bản chất, hoạt động học là hoạt động nhận thức đặc biệt của học sinh Nóđược thể hiện như sau;

Trước hết “Học” là một hoạt động nhận thức

Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người Đó là sự

phản ánh tâm lý của con người được bắt đầu từ cảm giác- tri giác đến tư duy –tưởng tượng Sự phản ánh đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức

độ cao nhất của tính chất cải tạo là sự sáng tạo Sự phản ánh đó không phải thụđộng như chiếc gương mà bảo giờ nó cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của

mỗi người Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng lại trở về với thực tiễn Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức thế giới”.

Tuy nhiên trong hoạt động học tập, tuỳ theo điểm xuất phát trong quá trìnhnhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu tượng đến cụ thể

Tính đặc biệt của hoạt động nhận thức của học sinh được thể hiện ở chỗ:

Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới chonhân loại mà chủ yếu là sự tái tạo những tri thức mà loài người đã tạo ra, nên họnhận thức những điều rút ra từ kho tàng tri thức chung của nhân loại để tạo ra cáimới cho bản thân mình

Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm,thử và sai như quá trình nhận thức chung của loài người, mà diễn ra theo conđường đã được khám phá, đã có sự gia công của các nhà sư phạm

Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học

Thông qua hoạt động học của học sinh trong quá trình dạy học chúng ta cóthể hình thành ở các em thế giới quan khoa học, động cơ học tập đúng đắn cũng cácphẩm chất nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội

Ngoài ra:

Trang 20

Đối tượng của hoạt động này là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tương ứngvới nó Có thể nói, cái mà hoạt động học hướng tới là sự chiếm lĩnh tri thức, kỹnăng, kỹ xảo của xã hội thông qua sự tái tạo những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đó ở

cá nhân Việc tái tạo này sẽ không thể thực hiện được nếu người học chỉ là kháchthể bị động trước những tác động sư phạm, nếu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉtruyền tới người học theo cơ chế “Máy phát” (người dạy), “Máy nhận” (người học).Hay nói cách khách là theo kiểu “Thầy đọc, trò ghi” Muốn học có kết quả thực sựthì người học phải tích cực tiến hành hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác,

và năng lực trí tuệ của bản thân mình

Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính bản thân mình.Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếpthu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Không những thế nó còn tiếp thu cả những phươngpháp giành lấy tri thức Muốn cho hoạt động học được diễn ra đạt kết quả cao,người ta phải biết cách học, nghĩa là phải có tri thức về bản thân hoạt động học:

Kết luận sư phạm:

Trong quá trình dạy học phải quan tâm đến việc phát triển năng lực nhậnthức của học sinh và tổ chức các hoạt động học tập sao cho năng lực nhận thức cóthể phát triển ở mức độ cao nhất

Cần phải chú ý tới tính đặc biệt trong quá trình nhận thức của học sinh đểtránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quá trình nhậnthức của học sinh Song cũng không vì quá coi trọng tính đặc biệt đó mà thiếu quantâm đến việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm hiểu và tập tham gia các hoạt độngtìm tòi khoa học vừa sức, có mức độ nâng cao dần để cho các em tự khai thác trithức, nghiên cứu khoa học trong tương lai

Nhiệm vụ dạy học ở trường Phổ thông.

Hãy phân tích các nhiệm vụ dạy học của nhà trường phổ thông!

Dựa trên đặc điểm chủ yếu: Mục tiêu đào tạo, sự phát triển của khoa

học – công nghệ, đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh, đặc điểm của hoạt động dạyhọc ở trường Phổ thông có thể đề ra 3 nhiệm vụ dạy học sau đây:

a.Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản,hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội- nhân văn Đồngthời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Tại sao lại chỉ điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ

thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước?

Để tồn tại và phát triển thì loài người không ngừng đi sâu tìm hiểu, khám phánhững bí mật của thế giới, để nhận thức và cải tạo nó, phục vụ cho lợi ích của conngười Trong quá trình đó loài người đã tích luỹ, khái quá hoá những kinh nghiệm

có được dưới dạng những định lý, định luật, những tư tưởng khoa học, những họcthuyết… tất cả đó người ta gọi là tri thức của nhân loại Những tri thức này là vôcùng lớn “Biển học là vô bờ” Mỗi một người trong suốt cuộc đời của mình sẽkhông sao có thể nắm hết được “Tri thức ơ, thử hỏi tri thức là cái gì, khi mà cảcuộc đời của một con người nếu chỉ dành riêng cho việc đọc sách, cũng chỉ đọc hếtđược 15 vạn cuốn Trong khi đó loài người xuất bản mỗi năm hàng tỉ cuốn sách”

Ngày đăng: 17/07/2022, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1) xếp đặt các bảng trả lời đã được chấm theo thứ tự các điểm số từ cao xuống thấp. - Đề cương Môn Giáo dục học
1 xếp đặt các bảng trả lời đã được chấm theo thứ tự các điểm số từ cao xuống thấp (Trang 39)
1) xếp đặt các bảng trả lời đã được chấm theo thứ tự các điểm số từ cao xuống thấp. - Đề cương Môn Giáo dục học
1 xếp đặt các bảng trả lời đã được chấm theo thứ tự các điểm số từ cao xuống thấp (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w