1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2

283 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Quyết Tranh Chấp Thương Mại Quốc Tế Giữa Các Quốc Gia, Vùng Lãnh Thổ, Giữa Các Quốc Gia Với Thương Nhân
Định dạng
Số trang 283
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Luật Thương mại quốc tế đi sâu phân tích các kiến thức pháp luật về thương mại quốc tế và cập nhật một cách đầy đủ sự phát triển của Luật Thương mại quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Giáo trình kết cấu gồm 9 chương và chia thành 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia với thương nhân; pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế; pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

CHƯƠNG 5

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ GIỮA CÁC QUỐC GIA,

VÙNG LÃNH THỔ, GIỮA CÁC QUỐC GIA

VỚI THƯƠNG NHÂN

Tranh chấp thương mại quốc tế giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ thường phát sinh do những bất đồng, mâu thuẫn trong cách hiểu, cách thực hiện các cam kết mà các chủ thể này đã xác lập Do vậy, về cơ bản các tranh chấp này sẽ được giải quyết trên cơ sở pháp luật quốc tế, căn cứ vào các điều ước quốc tế mà các bên ký kết hoặc gia nhập hoặc căn cứ vào tập quán quốc tế Chương 5 tập trung làm rõ về cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO (mục 5.1) và cơ chế giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực (mục 5.2) để làm rõ đặc trưng của các cơ chế giải quyết tranh chấp này Nhiều thoả thuận thương mại khu vực còn xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia nước tiếp nhận Đây

là bước tiến mới của Luật Thương mại quốc tế hiện đại so với Luật Thương mại quốc tế truyền thống

5.1 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KHUÔN KHỔ WTO

Trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, tranh chấp giữa các thành viên sẽ được giải quyết bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settlement Body, viết tắt là DSB) DSB được thành lập trên cơ sở của thỏa thuận về các Quy tắc và Thủ tục về việc giải quyết tranh chấp (Dispute Settlement Understanding, viết tắt là DSU) Thỏa thuận này là kết quả quan trọng của Vòng đàm phán Uruguay và là một trụ cột quan trọng của WTO Về cơ bản, đây là cơ chế chung giải quyết tranh chấp giữa các thành viên của WTO liên quan đến các quy định

Trang 2

của WTO Thỏa thuận này quy định không chỉ cơ chế chung về giải quyết tranh chấp, mà còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp riêng liên quan đến một số các hiệp định đa phương cụ thể như: Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, So với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT 1947, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được coi là có sự đổi mới toàn diện, thể hiện ở cơ cấu tổ chức, các cấp giải quyết và cơ chế ra quyết định Cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT 1947 được coi là một cơ chế không thường trực (ad hoc) với những thủ tục mang tính chính trị nhiều hơn Mục tiêu của cơ chế này chỉ nhằm tìm ra các giải pháp mang tính thỏa thuận giữa các bên tranh chấp hơn là giải quyết các tranh chấp này theo phương diện pháp lý như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

5.1.1 Khái quát về cơ chế giải quyết trong khuôn khổ WTO

5.1.1.1 Cơ cấu tổ chức của Cơ quan giải quyết tranh chấp

Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) nằm dưới quyền kiểm soát của Đại hội đồng của WTO Thực chất, cơ quan này cũng bao gồm tất cả các thành viên của Đại hội đồng Điểm khác biệt so với Đại hội đồng là DSB có Chủ tịch và quy tắc hoạt động riêng (Điều IV.3 Hiệp định WTO) DSB có thẩm quyền thành lập Ban hội thẩm và thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan Phúc thẩm, duy trì sự giám sát việc thực hiện các phán quyết và khuyến nghị trong giải quyết tranh chấp, cho phép tạm hoãn việc thi hành những nhượng bộ và nghĩa vụ theo các hiệp định có liên quan Đây là cơ quan điều hành, ra quyết định và thông qua Báo cáo của các cơ quan chuyên trách

Ban hội thẩm là cơ quan trực tiếp giải quyết tranh chấp Ban hội thẩm do DSB thành lập, bao gồm từ 3 đến 5 thành viên có nhiệm vụ xem xét vụ việc và đưa ra các khuyến nghị trên cơ sở các quy định của WTO Thành viên của Ban hội thẩm được lựa chọn trong số các quan chức của chính phủ và/hoặc các chuyên gia phi chính phủ Các thành viên này phải đảm bảo nguyên tắc là không thuộc quốc tịch của các bên tranh chấp hoặc của một quốc gia cùng là thành viên trong một liên minh thuế quan hoặc

Trang 3

trong một thị trường chung với một trong các bên tranh chấp Ban hội thẩm được tổ chức theo quy chế không thường trực, được thành lập trên cơ

sở có vụ việc phát sinh và được yêu cầu giải quyết tại DSB Ban hội thẩm hoạt động độc lập Kết quả của công việc của Ban hội thẩm là một bản báo cáo Bản báo cáo này được trình lên DSB để DSB thông qua

Cơ quan Phúc thẩm (Appellate Body, viết tắt là AB) là cơ quan do DSB thành lập Được coi là cấp xét xử thứ hai trong khuôn khổ giải quyết tranh chấp của WTO Đây là cơ quan có quy chế thường trực, bao gồm 7 thành viên có nhiệm kỳ 4 năm (có thể được bầu lại 1 lần) Các thành viên này phải là những người có uy tín đã được công nhận và có kinh nghiệm chuyên môn đã được chứng minh trong các lĩnh vực pháp luật, thương mại quốc tế và trong những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hiệp định có liên quan Trong số 7 thành viên này, chỉ có 3 thành viên được xét xử trong các vụ việc cụ thể Khi có yêu cầu phúc thẩm, AB thành lập Nhóm làm việc (Working groups) gồm 3 thành viên Các thành viên này được lựa chọn luân phiên theo từng vụ việc Nhiệm vụ của AB

là chỉ xem xét những vấn đề về mặt pháp lý và giải thích pháp luật trong Báo cáo của Ban hội thẩm, chứ không giải quyết lại nội dung vụ việc Điều đó cũng có nghĩa là khi có Báo cáo của Ban hội thẩm, các bên tranh chấp chỉ được quyền kháng cáo lên AB khi thấy rằng Báo cáo này có những vấn đề về mặt pháp lý chưa đúng, hoặc chưa giải thích đúng các quy định của các hiệp định có liên quan của Ban hội thẩm Kết quả của công việc này là một Báo cáo Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc làm thay đổi các khuyến nghị ở trong Báo cáo của Ban hội thẩm

5.1.1.2 Cơ chế ra quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp trong WTO

Quyết định của DSB được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận phủ định (Điều 2.4, và ghi chú 1 DSU) Với nguyên tắc đồng thuận phủ định này, DSB đã khắc phục được hạn chế của cơ chế giải quyết tranh chấp trước đó của GATT 1947

Trước đây, các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATT 1947 luôn có nguy cơ không được thông qua do cơ chế thông qua quyết định được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc đồng thuận

Trang 4

khẳng định Theo đó, việc thành lập Ban hội thẩm hay thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm chỉ có thể được thông qua khi không có sự phản đối chính thức từ bất kỳ bên tham gia nào của GATT 1947

Đây chính là điểm yếu của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT

1947 Do các quyết định thành lập Ban hội thẩm hay thông qua báo cáo đều có thể bị bên bị khiếu kiện cản trở Dù trong thực tiễn giải quyết tranh chấp của GATT 1947 không luôn trong tình trạng như vậy Các bên

ký kết là bị đơn thường không ngăn cản các quyết định đồng thuận và cho phép tiến hành giải quyết các tranh chấp với sự tham gia của họ, ngay cả khi quyết định đó sẽ có hại cho họ Họ làm như vậy vì những lợi ích lâu dài của mình vì biết rằng việc sử dụng thái quá quyền phủ quyết

sẽ bị các bên khác trả đũa lại tương tự Vì vậy, các Ban hội thẩm cũng đã được thành lập và các báo cáo của họ thường được thông qua mặc dù cũng bị trì hoãn

Tuy nhiên, cơ chế thông qua quyết định này của GATT 1947 đã làm cản trở các bên đưa tranh chấp ra giải quyết Thực tế cho thấy có rất nhiều tranh chấp chưa từng được đưa ra trước GATT vì bên khiếu kiện lo ngại rằng bên bị khiếu kiện sẽ dùng quyền phủ quyết Nguy cơ của việc dùng quyền phủ quyết cũng đã làm suy yếu hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT Ngoài ra, việc sử dụng quyền phủ quyết đã diễn ra trong thực tiễn, đặc biệt là trong những lĩnh vực nhạy cảm về chính trị hoặc quan trọng về kinh tế, như chống bán phá giá Hệ quả là vào những năm

1980, hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT đã suy yếu dần, do các bên ký kết, đặc biệt là Cộng đồng châu Âu, Mỹ, thường cản trở việc thành lập Ban hội thẩm và việc thông qua các báo cáo của Ban hội thẩm Việc các báo cáo của Ban hội thẩm có nguy cơ bị cản trở, không thông qua cũng làm ảnh hưởng tới nội dung các phán quyết của Ban hội thẩm Ban hội thẩm biết trước rằng báo cáo của họ cũng phải được bên thua kiện chấp thuận thì mới được thông qua Vì vậy, động cơ đưa ra phán quyết không chỉ dựa trên cơ sở giá trị pháp lý của vụ kiện, mà còn phải tính đến một giải pháp mang “tính ngoại giao” bằng việc đưa ra một thoả hiệp mà cả hai bên (bên khiếu nại và bên bị khiếu nại) đều có thể chấp nhận được

Trang 5

Những yếu kém về mặt cơ cấu của hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT là rất đáng kể, dù cuối cùng nhiều tranh chấp cũng đã được giải quyết Trước thực trạng trên, WTO đã thay đổi lại cơ chế thông qua quyết định giải quyết tranh chấp của DSB

Trong Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO (DSU), quyền của các bên, nhất là bên có biện pháp bị kiện, trong việc ngăn cản việc thành lập Ban hội thẩm hoặc thông qua báo cáo đã bị loại bỏ Hiện nay, Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) tự động thành lập Ban hội thẩm và thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và

Cơ quan Phúc thẩm, trừ khi có sự đồng thuận không nhất trí làm như vậy Đây được gọi là quy tắc “đồng thuận nghịch” hay “đồng thuận phủ định” Quy tắc này giúp cho các báo cáo của Ban hội thẩm hay của Cơ quan phúc thẩm sẽ luôn được thông qua trừ trường hợp có sự đồng thuận phản đối Báo cáo Điều đó có nghĩa là khi một Báo cáo được trình lên DSB để xem xét, báo cáo này sẽ luôn được coi là đã được DSB quyết định đồng thuận thông qua, nếu không có Thành viên nào tại cuộc họp của DSB chính thức phản đối quyết định đã được đề xuất

5.1.1.3 Mục tiêu của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO

Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO đóng vai trò tích cực trong việc bảo vệ hệ thống các quy định mang tính pháp lý của WTO và giúp điều hành một cách hiệu quả hoạt động của tổ chức này Điều 3 của DSU khẳng định rõ "Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO là một nhân tố trung tâm trong việc tạo ra sự an toàn và khả năng dự đoán trước cho hệ thống thương mại đa phương", nhằm "bảo vệ quyền và nghĩa vụ của tất

cả các thành viên" Chính vì vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp được coi là một trong ba yếu tố quan trọng tạo nên thiết chế WTO bên cạnh nguyên tắc có đi có lại và nguyên tắc không phân biệt đối xử Thiếu một trong ba yếu tố này sẽ có thể dẫn đến sự sụp đổ của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được thành lập nhằm đạt được một số mục tiêu quan trọng sau:

+ Bảo đảm sự an toàn và tính dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương

Trang 6

Đây cũng là mục tiêu trọng tâm của hệ thống giải quyết tranh chấp WTO WTO cần phải có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định WTO Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO làm cho hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán trước Khi một thành viên bị kết luận là không tuân thủ quy định của WTO, hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ đưa

ra cách giải quyết tương đối nhanh chóng đối với vấn đề đó bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay

+ Bảo đảm việc thực hiện đúng các cam kết, các nghĩa vụ của các thành viên theo các hiệp định của WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có mục tiêu bảo đảm các thành viên của WTO phải thực hiện theo đúng các cam kết của mình đối với các thành viên khác, theo đúng các kết quả của quá trình đàm phán lâu dài mà các thành viên WTO đã rất khó khăn để đạt được Trong trường hợp một thành viên không rút lại hoặc sửa đổi những biện pháp bị coi là không phù hợp, thành viên đó có thể sẽ bị trừng phạt thương mại bằng việc bị yêu cầu áp dụng biện pháp bồi thường Biện pháp bồi thường cũng được thực hiện trong trường hợp việc rút lại ngay lập tức các biện pháp bị cho là không phù hợp hoặc không thực tế Về mặt nguyên tắc, việc áp dụng biện pháp bồi thường sẽ chỉ được thực hiện với danh nghĩa tạm thời

+ Giải thích rõ ràng các quy định của các hiệp định trong khuôn khổ WTO

Phạm vi chính xác của quyền và nghĩa vụ được nêu trong Hiệp định WTO không hoàn toàn được rõ ràng ngay nếu chỉ đọc văn bản Hiệp định Các điều khoản pháp lý thường được viết ra theo ngôn ngữ chung để có thể áp dụng chung và bao trùm một số lượng lớn các trường hợp, tình huống cụ thể Do đó, việc một số tình tiết nào đó có gây ra vi phạm quy định pháp luật được hàm chứa trong một điều khoản cụ thể nào đó hay không là một câu hỏi mà không dễ gì có được câu trả lời Trong phần lớn các trường hợp, câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy sau khi giải thích được các nội dung của quy định liên quan Thêm vào đó, các quy định

Trang 7

pháp lý trong các hiệp định quốc tế thường thiếu sự rõ ràng bởi câu chữ của chúng là kết quả của sự thỏa hiệp sau các vòng đàm phán đa phương Những thành viên khác nhau tham gia vào quá trình đàm phán thường phải dung hòa các quan điểm khác nhau thông qua việc thống nhất nội dung của văn kiện sao cho có thể hiểu theo nhiều cách để vẫn thỏa mãn được yêu cầu của các nhóm có quyền lợi kinh tế khác nhau Các nhà đàm phán cũng có thể nhờ đó mà hiểu những quy định cụ thể theo các cách trái ngược và khác nhau Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO có nhiệm vụ chỉ ra một cách rõ ràng rằng hệ thống giải quyết tranh chấp có mục tiêu làm rõ các quy định của Hiệp định WTO “phù hợp với những quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế”

+ Bảo đảm cho các thành viên được hưởng các lợi ích hợp lý mà mình đáng lẽ được hưởng từ các quy định của WTO

Nếu một thành viên tin rằng một thành viên khác đang áp dụng biện pháp phù hợp với các quy định của WTO nhưng đã triệt tiêu hoặc làm phương hại đến lợi ích hợp lý mà mình đáng lẽ được nhận theo bất

kỳ quy định nào của WTO (Điều XXIII GATT 1994), thành viên đó hoàn toàn được quyền sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO yêu cầu bảo đảm các lợi ích hợp pháp của mình

5.1.2 Đặc trưng của cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO

5.1.2.1 Là cơ chế liên quốc gia

Đây là cơ chế chỉ dành cho các chủ thể là Quốc gia, vùng lãnh thổ

là thành viên của WTO Nói một cách khác, các chủ thể tư là thể nhân và pháp nhân sẽ không được sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp này Hầu hết các quy định của WTO tạo ra quyền và nghĩa vụ của các thành viên WTO Do vậy, cơ chế giải quyết tranh chấp được thành lập nhằm bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của họ

Việc cơ chế này không cho phép các chủ thể tư được quyền sử dụng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của họ được cho là không thực sự phù hợp Bởi các tranh chấp thương mại quốc tế thường là những tranh chấp giữa các chủ thể tư Mặc dù thương mại quốc tế được hiểu trong

Trang 8

WTO như là dòng hàng hóa và dịch vụ lưu chuyển giữa các nước thành viên, nhưng nói chung, các chính phủ không trực tiếp tiến hành các hoạt động thương mại này mà do các đối tác kinh tế tư nhân tiến hành Ngoài

ra, một số hiệp định của WTO còn quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ cho công dân của các thành viên của WTO như Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) hoặc Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) Rõ ràng, trong các Hiệp định này, tranh chấp có thể xảy ra liên quan đến các chủ thể tư này, hoặc giữa các chủ thể tư này với các Quốc gia có liên quan Những tranh chấp này khó

có thể được coi là những tranh chấp liên quốc gia, liên chính phủ Thế nhưng, để giải quyết các tranh chấp này, các chủ thể tư buộc phải nhờ đến sự can thiệp của Chính phủ quốc gia Sự hỗ trợ này có thể được thực hiện dưới hình thức "bảo hộ ngoại giao" (thuật ngữ tiếng Anh là

"diplomatic protection") trong pháp luật quốc tế Hạn chế của biện pháp này là các chủ thể tư sẽ phải phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định của Chính phủ quốc gia có hay không tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO

5.1.2.2 Cho phép các bên lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp

Khi có tranh chấp liên quan đến các quy định của WTO, các thành viên luôn có quyền được tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp thích hợp nhất Các thành viên của WTO có thể lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp như môi giới, hòa giải, trung gian, trọng tài hoặc theo thủ tục trong khuôn khổ của DSB Các phương thức môi giới, hòa giải, trung gian thường được coi là những phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chất chính trị hơn so với các phương thức còn lại Các phương thức này có thể thực hiện một cách độc lập hoặc là những thủ tục trong quá trình giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ DSU

 Khi là những thủ tục trong quá trình giải quyết tranh chấp trong

khuôn khổ DSU: Các bên có thể hạn chế quyền tự do lựa chọn phương

thức giải quyết tranh chấp bằng cách thỏa thuận một phương thức giải quyết nhất định trước khi có tranh chấp xảy ra Tuy nhiên, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn một phương thức khác vào bất kỳ thời điểm nào, trên

Trang 9

cơ sở tự nguyện thỏa thuận Nguyên tắc này được quy định rõ trong Điều 5 Thỏa thuận về các Quy tắc và thủ tục về việc giải quyết tranh chấp Theo

đó, các phương thức như môi giới, hòa giải hoặc trung gian luôn có thể được yêu cầu thực hiện bởi một bên tranh chấp Nếu bên kia đồng ý, phương thức này sẽ được tiến hành vào bất kỳ lúc nào ngay cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập Trong khuôn khổ cơ chế giải quyết tranh chấp này, phương thức trọng tài có thể được thực hiện trong các thủ tục như: (1) Xác định thời hạn thực hiện khuyến nghị trong trường hợp Bên thua kiện không thể thực hiện ngay khuyến nghị; (2) Xác định mức độ trả đũa trong trường hợp Bên thua kiện có kiến nghị về vấn đề này Thành viên của trọng tài là các thành viên của Ban hội thẩm ban đầu, hoặc do một trọng tài viên được Tổng Giám đốc WTO chỉ định

 Khi là phương thức giải quyết tranh chấp độc lập: Các phương thức môi giới, trung gian, hòa giải sẽ trở thành phương thức giải quyết độc lập khi các bên đạt được kết quả và dừng lại ở các thủ tục này khi giải quyết tranh chấp Đối với phương thức trọng tài, phương thức này có những quy định riêng biệt hơn Trong trường hợp này, trọng tài chỉ có thể được thực hiện để giải quyết tranh chấp đối với các vấn đề đã được các bên xác định rõ ràng và thống nhất Các Bên tranh chấp có nghĩa vụ thông báo cho tất cả các thành viên quyết định lựa chọn trọng tài độc lập trước khi thủ tục tố tụng được bắt đầu Tố tụng trọng tài được tiến hành theo nguyên tắc xử kín, các thành viên khác của WTO chỉ có thể tham gia tố tụng nếu được các Bên tranh chấp đồng ý Cũng giống như trọng tài thông thường, phán quyết của trọng tài giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO là chung thẩm, các Bên phải nghiêm túc tuân thủ Các Bên có nghĩa vụ thông báo phán quyết cho các thành viên của WTO và cho Hội đồng của hiệp định có liên quan Tuy nhiên, phán quyết của trọng tài phải phù hợp với các hiệp định có liên quan và không được gây thiệt hại cho bất kỳ thành viên nào khác của WTO Các thành viên của WTO có quyền đưa ra các câu hỏi liên quan đến phán quyết này

5.1.2.3 Là cơ chế giải quyết tranh chấp chung

Đây là cơ chế giải quyết tranh chấp áp dụng chung cho tất cả các tranh chấp phát sinh từ các Hiệp định của WTO, ngoại trừ các tranh chấp

Trang 10

được quy định tại Điều 1 khoản 2 DSU Theo điều khoản này, các quy tắc và thủ tục của DSU phải được áp dụng “với điều kiện phải tuân theo những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung về giải quyết tranh chấp được ghi trong các hiệp định có liên quan được nêu trong Phụ lục 2 của Thỏa thuận này” Trong trường hợp có sự khác biệt, "những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung trong Phụ lục 2 phải được ưu tiên áp dụng" Như vậy, với các quy định này, có thể thấy rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong DSU được coi là cơ chế áp dụng chung cho tất

cả các tranh chấp, trừ trường hợp đối với một số các hiệp định riêng biệt Thực ra, nguyên tắc áp dụng này gắn liền với cơ chế phân loại các hiệp định của WTO Theo đó, các hiệp định này được phân thành 3 loại sau:

 Loại thứ nhất là các hiệp định thương mại đa biên được nêu trong Phụ lục 1 các Hiệp định WTO: GATT (Phụ lục 1A), GATS (Phụ lục 1B), TRIPS (Phụ lục 1C) Ngoài ra, cơ chế của DSU còn áp dụng cho các tranh chấp liên quan đến các quy định của Hiệp định WTO, DSU Tất cả

các hiệp định này được quy định trong Phụ lục 1 của DSU Đối với các

hiệp định này, cơ chế giải quyết tranh chấp của DSU được áp dụng một cách toàn diện

 Loại thứ hai là các hiệp định thương mại nhiều bên Các hiệp định

này được quy định tại Phụ lục 1 của DSU Đối với các hiệp định này,

DSU không áp dụng một cách chính thức đối với các hiệp định này Các thành viên tham gia hiệp định này được quyền quyết định áp dụng hay không cơ chế giải quyết tranh chấp của DSU, hoặc tự mình xác định những thể thức áp dụng riêng cơ chế này đối với hiệp định nhiều bên của mình Trong trường hợp áp dụng riêng cơ chế giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp phải thông báo với DSB về những thay đổi về thủ tục cũng như về những quy định mà các bên tự tạo ra

 Loại thứ ba là các hiệp định đa bên hoặc nhiều bên có chứa đựng những quy tắc và thủ tục đặc biệt về giải quyết tranh chấp Các hiệp định

này được quy định tại Phụ lục 2 của DSU Đối với trường hợp này, hai

cơ chế giải quyết tranh chấp chung và riêng sẽ cùng tồn tại Trong trường hợp có sự xung đột giữa hai cơ chế này, cơ chế giải quyết tranh chấp riêng sẽ được ưu tiên áp dụng Trong trường hợp, một tranh chấp đòi hỏi

Trang 11

việc giải thích và áp dụng đồng thời cả hai hiệp định (hiệp định được quy

định tại Phụ lục 1 của DSU và tại Phụ lục 2 của DSU), các bên tranh

chấp phải thỏa thuận lựa chọn quy tắc và thủ tục áp dụng Trong trường hợp không thể thỏa thuận được với nhau, các bên có quyền yêu cầu Chủ tịch DSB quyết định những quy tắc và thủ tục phải tuân theo Việc quyết định những quy tắc và thủ tục này được đưa ra trên nguyên tắc những quy tắc và thủ tục đặc biệt hoặc bổ sung cần phải được sử dụng khi có thể, và những quy tắc và thủ tục được nêu trong DSU chỉ cần được sử dụng ở mức cần thiết để tránh xảy ra mâu thuẫn Nói một cách khác, Chủ tịch DSB phải ưu tiên sử dụng các quy tắc và thủ tục riêng biệt

5.1.3 Các nguyên tắc chung của cơ chế giải quyết tranh chấp

5.1.3.1 Bảo toàn các quyền và nghĩa vụ của các Thành viên WTO

Một tranh chấp phát sinh khi một Thành viên WTO thông qua một biện pháp chính sách thương mại mà một hay nhiều thành viên khác coi

là không phù hợp với nghĩa vụ theo Hiệp định WTO Trong trường hợp

đó, bất kỳ thành viên nào cảm thấy bị thiệt hại đều được phép viện dẫn đến các điều khoản và thủ tục của hệ thống giải quyết tranh chấp để chính thức phản đối lại biện pháp đó

Nếu các bên tranh chấp không thể đạt được một hoà giải thì bên khiếu kiện được bảo đảm giải quyết bằng một quy trình dựa trên nguyên tắc mà theo đó tính đúng đắn của đơn kiện sẽ được xem xét bởi một cơ quan độc lập (Ban hội thẩm hoặc Cơ quan Phúc thẩm) Nếu bên khiếu kiện thắng kiện thì kết quả mong muốn là việc bên bị kiện rút bỏ biện pháp bị coi là không phù hợp với Hiệp định WTO Bồi thường và các biện pháp trả đũa chỉ là các biện pháp thứ yếu và có tính tạm thời đối với một sự vi phạm Hiệp định WTO

Như vậy, hệ thống giải quyết tranh chấp cho phép có một cơ chế giải quyết tranh chấp mà nhờ đó các thành viên WTO có thể bảo đảm rằng các quyền của họ theo Hiệp định WTO được thực hiện Hệ thống này cũng quan trọng đối với cả bên bị khiếu kiện để họ tự bảo vệ mình nếu họ không đồng ý với lời cáo buộc của bên khiếu kiện Trong trường

Trang 12

hợp này, hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò bảo vệ quyền và nghĩa vụ của thành viên theo Hiệp định WTO Các quyết định của các cơ quan liên quan nhằm mục tiêu phản ánh và thực thi một cách đúng đắn các quyền và nghĩa vụ như được quy định tại Hiệp định WTO

Nguyên tắc này còn đòi hỏi các khuyến nghị và phán quyết của DSB không được làm tăng hoặc giảm các quyền và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định có liên quan Đây là một nguyên tắc quan trọng, mang tính định hướng của DSU Các giải pháp nêu ra (kể cả các vấn đề liên quan đến tham vấn và trọng tài) phải phù hợp với những hiệp định

có liên quan và không được triệt tiêu hay làm giảm những lợi ích mà các thành viên có được theo những hiệp định đó, hoặc không được ngăn cản việc đạt được bất kỳ mục tiêu nào của những hiệp định này

5.1.3.2 Làm rõ quyền lợi và nghĩa vụ thông qua giải thích

Phạm vi chính xác của quyền và nghĩa vụ được nêu trong Hiệp định WTO không hoàn toàn được rõ ràng ngay nếu chỉ đọc văn bản Hiệp định Các điều khoản pháp lý thường được viết ra theo ngôn ngữ chung để có thể áp dụng chung và bao trùm một số lượng lớn các trường hợp, tình huống cụ thể Do đó, việc áp dụng vào các tình huống thực tiễn cụ thể sẽ

có thể gặp nhiều khó khăn Trong phần lớn các trường hợp, câu trả lời chỉ có thể được tìm thấy sau khi giải thích được các nội dung của quy định liên quan Thêm vào đó, các quy định pháp lý trong các hiệp định quốc tế thường thiếu sự rõ ràng bởi câu chữ của chúng là kết quả của sự thỏa hiệp sau các vòng đàm phán đa phương Những thành viên khác nhau tham gia vào quá trình đàm phán thường phải dung hòa các quan điểm khác nhau thông qua việc thống nhất nội dung của văn kiện sao cho

có thể hiểu theo nhiều cách để vẫn thỏa mãn được yêu cầu của các nhóm

có quyền lợi kinh tế khác nhau Chính vì vậy nguyên tắc chung đặt ra cho

cơ chế giải quyết tranh chấp DSB là phải làm rõ các quy định của Hiệp định WTO

Việc giải thích, làm rõ các quy định của WTO phải được thực hiện theo đúng quy tắc có tính tập quán quốc tế về giải thích DSU dẫn chiếu đến các “quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế (Điều 3.2 của DSU) Tuy nhiên, các quy tắc của pháp luật tập quán quốc tế thường

Trang 13

không được viết thành văn bản, nhưng đã có một số công ước quốc tế pháp điển hóa một số quy tắc của pháp luật tập quán về giải thích điều ước quốc tế Đáng chú ý là các Điều 31 (Quy định chung về giải thích); điều 32 (Phương tiện bổ sung cho giải thích) và Điều 33 (Giải thích điều ước được chứng thực bằng hai hay nhiều ngôn ngữ) của Công ước Viên

về Luật Điều ước quốc tế hàm chứa nhiều quy tắc có tính tập quán về giải thích điều ước quốc tế

Các quy định của WTO cần được giải thích phù hợp với nghĩa thông thường của từ ngữ trong quy định liên quan, được cân nhắc trong bối cảnh của chúng và theo mục đích và đối tượng của hiệp định liên quan Nghĩa thông thường của một thuật ngữ trong một quy định cần được làm rõ trên cơ sở lời văn đơn thuần Những định nghĩa về thuật ngữ này trong từ điển có thể sử dụng để trợ giúp cho mục tiêu đó “Bối cảnh”

là nói đến các kết luận có thể được đưa ra trên các cơ sở, chẳng hạn như cấu trúc, nội dung hoặc thuật ngữ ở các điều khoản khác cùng trong hiệp định, đặc biệt là những điều khoản có trước và sau quy định cần giải thích “Đối tượng và mục đích” là nói đến mục đích rõ ràng hay ngụ ý của quy định liên quan hay cả hiệp định nói chung Trên thực tế, Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm dường như dựa nhiều vào nghĩa thông thường và bối cảnh hơn là vào đối tượng và mục đích của các điều khoản cần giải thích Lịch sử đàm phán hiệp định chỉ là một công cụ thứ cấp bổ sung cho việc giải thích, công cụ này chỉ được sử dụng để khẳng định sự giải thích theo nghĩa thông thường Một trong những hệ luận của các nguyên tắc giải thích là ý nghĩa và hiệu lực phải được đưa ra đối với tất

cả các thuật ngữ của một hiệp định thay vì làm cho toàn bộ các phần của một hiệp định trở nên thừa và vô dụng

Thêm vào đó, Điều 17.6 của DSU cũng ngầm công nhận rằng các Ban hội thẩm được phép phát triển các giải thích pháp lý Do đó, “thẩm quyền duy nhất” theo Điều IX:2 của Hiệp định WTO phải được hiểu là

khả năng thông qua những giải thích “chính thức”, có hiệu lực chung đối

với tất cả các thành viên WTO Điều này khác với các giải thích của các

Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm là chỉ áp dụng cho các bên tranh

chấp và cho một tranh chấp cụ thể

Trang 14

5.1.3.3 Ưu tiên giải pháp thỏa thuận

Giống như các hệ thống pháp luật khác, DSU ưu tiên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng trực tiếp giữa các bên, với mong muốn các bên tự dàn xếp, thỏa thuận và phù hợp với Hiệp định WTO Việc xét xử chỉ được sử dụng khi các bên không thể đưa ra được giải pháp này

Với tư cách là giai đoạn đầu tiên của mỗi tranh chấp, DSU yêu cầu các bên tham vấn chính thức đưa ra một khuôn khổ mà theo đó các bên tranh chấp phải ít nhất là cố gắng đàm phán để đạt được hòa giải Ngay

cả khi vụ kiện đến giai đoạn xét xử, các bên vẫn có thể tự dàn xếp với nhau và luôn được khuyến khích nỗ lực theo hướng này

5.1.3.4 Giải quyết tranh chấp nhanh chóng

DSU nhấn mạnh rằng giải quyết tranh chấp nhanh chóng là rất quan trọng nếu WTO muốn hoạt động hiệu quả và sự cân bằng các quyền

và nghĩa vụ giữa các thành viên được duy trì DSU đưa ra các thủ tục tương đối cụ thể và thời gian tương ứng phải tuân thủ trong giải quyết tranh chấp Thủ tục cụ thể được đưa ra nhằm mục tiêu đạt hiệu quả, bao gồm cả quyền của bên khiếu kiện được đi tiếp theo các bước tố tụng với đơn khiếu kiện ngay cả khi không có sự đồng ý của bên bị khiếu kiện Các cuộc tranh chấp trong WTO thường rất phức tạp, cả về tình tiết và căn cứ pháp lý Các bên thường đưa ra một số lượng đáng kể các số liệu

và tài liệu liên quan đến biện pháp đang tranh chấp và họ cũng đưa ra những lý lẽ pháp lý rất cụ thể Các bên cần thời gian để chuẩn bị những

lý lẽ về thực tế và về pháp lý để trả lời cho những lập luận mà bên đối lập đưa ra Ban hội thẩm và/hoặc Cơ quan phúc thẩm được bổ nhiệm để giải quyết vấn đề sẽ cần phải xem xét tất cả các bằng chứng và lý lẽ, có thể phải nghe chuyên gia và đưa ra lập luận chi tiết để giúp đưa ra kết luận Một vụ kiện được xét xử cần không quá 12 tháng để Ban hội thẩm đưa ra phán quyết và không quá 15 tháng trong trường hợp được phúc thẩm Nếu tính đến tất cả các khía cạnh này, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và, trong mọi trường hợp, nhanh hơn nhiều so với các hệ thống tòa án của nước thành viên hoặc hệ thống tài phán quốc tế khác

Trang 15

5.1.3.5 Cấm quyết định đơn phương

Việc thông qua DSU cho thấy các thành viên WTO đã đồng ý sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết các tranh chấp thương mại trong WTO của họ thay vì sử dụng đến hành động đơn phương Điều này có nghĩa là tuân thủ các thủ tục đã được thống nhất và tôn trọng các phán quyết khi được đưa ra, thay vì đơn phương áp dụng pháp luật Nếu một thành viên khiếu kiện thành viên khác là đã vi phạm các quy tắc WTO và hành động một cách đơn phương là áp dụng biện pháp đối kháng thì có nghĩa thành viên đó cũng vi phạm nghĩa vụ

Để ngăn chặn mâu thuẫn gia tăng như vậy, DSU yêu cầu bắt buộc

sử dụng hệ thống đa phương để giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO khi họ muốn một thành viên khác sửa sai trong khuôn khổ Hiệp định WTO Việc sử dụng cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO được yêu cầu đối với trường hợp một thành viên tin tưởng rằng thành viên khác đã vi phạm Hiệp định WTO, hoặc làm triệt tiêu, hoặc suy giảm các lợi ích theo các hiệp định WTO, hoặc làm cản trở việc đạt mục tiêu của một trong số các hiệp định

Trong các trường hợp như vậy, một thành viên không thể hành động dựa trên các quyết định đơn phương khi xảy ra một trong các tình huống trên mà chỉ có thể hành động sau khi đã sử dụng việc giải quyết tranh chấp theo các thủ tục và quy tắc của DSU Thành viên đó chỉ có thể được hành động dựa trên các kết luận của Ban hội thẩm được thông qua hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm hoặc phán quyết của trọng tài đã được thông qua Thành viên liên quan cũng phải tuân thủ các thủ tục được đề ra trong DSU đối với việc xác định về thời gian thực hiện và áp dụng các biện pháp trả đũa chỉ trên cơ sở được phép của DSB

5.1.3.6 Tính chất bắt buộc

Hệ thống giải quyết tranh chấp có tính bắt buộc Tất cả các thành viên WTO đều phải tuân thủ, bởi họ đã ký và phê chuẩn Hiệp định WTO với tư cách là cả gói cam kết chung, mà DSU là một phần trong đó DSU buộc tất cả các thành viên WTO phải tuân thủ hệ thống giải quyết tranh chấp đối với tất cả các tranh chấp phát sinh trong khuôn khổ

Trang 16

Hiệp định WTO Do đó, không giống các hệ thống giải quyết tranh chấp quốc tế khác, các bên tranh chấp không cần thiết phải có một tuyên bố riêng hay thỏa thuận riêng về việc chấp nhận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Việc chấp thuận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp đã được hàm chứa trong việc thành viên gia nhập vào WTO Kết quả là từng thành viên WTO được bảo đảm quyền tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp và không thành viên bị kiện nào

có thể trốn tránh được quyền tài phán này

5.1.4 Các loại tranh chấp trong khuôn khổ của WTO

Các tranh chấp này được phân thành 3 loại như sau:

+ Tranh chấp liên quan đến sự vi phạm quy định của WTO

(violation complaint): Tranh chấp này phát sinh khi có sự vi phạm quy định của một hiệp định nào đó của WTO

+ Tranh chấp không có vi phạm quy định (non - violation complaint):

Tranh chấp xảy ra khi một thành viên nhận thấy rằng lợi ích thu được trực tiếp hoặc gián tiếp từ một hiệp định bị vô hiệu hoặc việc thực hiện một trong những mục tiêu của hiệp định vì thế bị cản trở khi một thành viên áp dụng một biện pháp thương mại nào đó, dù biện pháp này không trái với quy định của hiệp định (xem thêm điều XXIII khoản 1 GATT)

+ Tranh chấp khi có tình huống xảy đến (situation complaint):

Tranh chấp xảy ra khi một thành viên nhận thấy rằng lợi ích thu được trực tiếp hoặc gián tiếp từ một hiệp định bị vô hiệu hoặc việc thực hiện một trong những mục tiêu của hiệp định vì thế bị cản trở khi có sự tồn tại một tình huống bất kỳ

5.1.5 Trình tự giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO

Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có thể phân thành ba giai đoạn: Giai đoạn “tiền xét xử”; Giai đoạn “xét xử”, Giai đoạn thực hiện quyết định Giai đoạn “tiền xét xử” được hiểu là giai đoạn các bên tự giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng trực tiếp giữa các bên hoặc thông qua một bên thứ ba do các bên tự quyết định (5.1.5.1.) Giai đoạn

“xét xử” là khi các bên đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan giải

Trang 17

quyết tranh chấp của WTO là DSB (5.1.5.2) Sau khi có quyết định giải quyết tranh chấp các bên sẽ chuyển sang giai đoạn thực hiện (5.1.5.3)

5.1.5.1 Giải quyết tranh chấp giữa các bên

Giai đoạn này mang tính chất chính trị và có các thủ tục sau: Tham vấn (các bên trực tiếp giải quyết tranh chấp giữa họ); Môi giới, trung

gian, hòa giải (các bên giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ 3)

a Tham vấn (Điều 4 DSU)

Thủ tục này được thực hiện khi tranh chấp chưa phát sinh Khi phát hiện có một thành viên áp dụng biện pháp làm ảnh hưởng đến sự vận hành của một hoặc nhiều hiệp định đối với quốc gia, vùng lãnh thổ của mình, thành viên này có quyền đề nghị tham vấn Bên nhận được yêu cầu tham vấn có nghĩa vụ phải trả lời yêu cầu này trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu và phải tham gia vào tham vấn trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu Thời hạn tiến hành tham vấn có thể được rút ngắn trong trường hợp khẩn cấp, kể cả trường hợp liên quan đến hàng hóa dễ hỏng, xuống còn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu Nếu không tuân thủ các thời hạn nêu trên, thành viên yêu cầu tham vấn có thể trực tiếp yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Yêu cầu tham vấn phải được lập bằng văn bản và phải được thông báo cho DSB và các Hội đồng, Ủy ban liên quan Quá trình tham vấn được giữ bí mật, không làm ảnh hưởng đến các quyền tiếp theo khác của các thành viên trong giải quyết tranh chấp và được thực hiện trên tinh thần thiện chí của các bên Các thành viên khác (không phải là các bên của tranh chấp) có quyền được tham gia vào quá trình tham vấn nếu thấy rằng họ có lợi ích thương mại đáng kể trong vụ việc được tham vấn này

và được thành viên nhận được yêu cầu tham vấn xác nhận Trong trường hợp này, các thành viên phải thông báo lại cho DSB Nếu như yêu cầu tham gia tham vấn không được chấp nhận, thành viên muốn tham gia vẫn

có quyền yêu cầu tham vấn độc lập như quy trình nêu trên

b Môi giới, trung gian, hòa giải (Điều 5 DSU)

Đây là các thủ tục được tiến hành một cách tự nguyện, bí mật, không làm phương hại đến quyền của bất kỳ bên nào trong những bước

Trang 18

tố tụng tiếp theo Các bên được quyền tự do quyết định áp dụng những thủ tục này vào bất kỳ lúc nào sau khi tranh chấp phát sinh, kể cả khi Ban hội thẩm đã được thành lập và đang tiến hành tố tụng DSU không quy định rõ cá nhân, tổ chức nào có thể đứng ra đảm nhiệm vai trò môi giới, trung gian, hòa giải Tuy nhiên, theo khoản 6 Điều 5 DSU, Tổng Giám đốc WTO có thể, trên cương vị công tác chính thức của mình, đưa ra sáng kiến về việc làm người môi giới, hòa giải hoặc trung gian, nhằm giúp các thành viên giải quyết tranh chấp

5.1.5.2 Giải quyết tranh chấp tại DSB

a Giải quyết tranh chấp tại Ban hội thẩm

Ban hội thẩm được thành lập trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của Bên đề nghị tham vấn Sau khi Bên được tham vấn từ chối tham vấn hoặc tham vấn không đạt kết quả, Bên đề nghị tham vấn có quyền yêu cầu thành lập Ban hội thẩm trong vòng 60 ngày kể từ ngày có yêu cầu tham vấn (khoản 7 Điều 4) Trong trường hợp khẩn cấp, mà việc tham vấn không thể giải quyết được tranh chấp trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn, Bên đề nghị tham vấn có thể yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Văn bản yêu cầu thành lập Ban hội thẩm (Panel) phải nêu một số điểm sau: quá trình tham vấn, các biện pháp cụ thể đang được bàn cãi và tóm tắt ngắn gọn về cơ sở pháp lý của đơn kiện

Ban hội thẩm bao gồm 3 hội thẩm viên, trừ khi các bên tranh chấp cùng thỏa thuận về một ban hội thẩm gồm 5 hội thẩm viên trong vòng 10 ngày kể từ ngày thành lập Ban hội thẩm Các thành viên này do Ban thư

ký WTO đề xuất Trong vòng 20 ngày kể từ khi có quyết định thành lập Ban hội thẩm, nếu các bên tranh chấp không có sự nhất trí về thành viên Ban hội thẩm, Tổng Giám đốc WTO phải bổ nhiệm các hội thẩm mà Tổng Giám đốc cho là thích hợp nhất để giải quyết tranh chấp, theo yêu cầu của bất kỳ bên nào Chủ tịch DSB phải thông báo cho các bên tranh chấp về thành phần của Ban hội thẩm đã được thành lập không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu

Khi có hai hoặc nhiều thành viên yêu cầu thành lập Ban hội thẩm

để giải quyết cùng một vấn đề, DSB có thể xem xét thành lập một Ban

Trang 19

hội thẩm duy nhất Trường hợp không thể thành lập Ban hội thẩm duy nhất, các ban hội thẩm được thành lập riêng rẽ phải được bố trí có chung hội thẩm viên và phải được sắp xếp thời gian biểu sao cho các hội thẩm viên này hoạt động một cách có hiệu quả nhất

Bất kỳ thành viên nào của WTO có quyền lợi đáng kể trong vấn đề đang được Ban hội thẩm xem xét, có quyền thông báo cho DSB và tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc với tư cách là Bên thứ ba Bên thứ ba

có quyền được trình bày vấn đề bằng văn bản trước Ban hội thẩm và gửi đến các bên tranh chấp Nếu Bên thứ ba thấy rằng biện pháp là đối tượng của việc giải quyết tại Ban hội thẩm đã triệt tiêu hoặc làm phương hại đến quyền lợi của mình theo bất kỳ hiệp định có liên quan nào, Bên thứ

ba có quyền sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp thông thường với danh nghĩa là một bên của tranh chấp

Ban hội thẩm hoạt động theo các thủ tục được quy định tại Điều 12 DSU Một cách tóm tắt, Ban hội thẩm sẽ xem xét hai vấn đề sau:

+ Đánh giá những tình tiết thực tế của vụ việc: Các tình tiết thực tế của vụ việc sẽ được xác định trên cơ sở các văn bản đệ trình của các bên tranh chấp Ban hội thẩm thiết lập lại các tình tiết của vụ việc một cách khách quan

+ Đánh giá sự phù hợp của những tình tiết này với các quy định của hiệp định có liên quan: Dựa trên các tình tiết được thiết lập, Ban hội thẩm đưa ra các đánh giá, nhận định về mức độ phù hợp của các tình tiết này với các quy định của các hiệp định có liên quan, để từ đó làm căn cứ đưa ra các khuyến nghị hoặc quyết nghị phù hợp

Kết quả của các hoạt động này là Bản báo cáo của Ban hội thẩm Bản báo cáo này phải được lập bằng văn bản có các nội dung sau: trình bày các tình tiết thực tế của vụ việc, khả năng áp dụng các điều khoản

có liên quan và lý lẽ đằng sau bất cứ kết luận và khuyến nghị nào được đưa ra

Thời hạn đưa ra Báo cáo là không quá 6 tháng kể từ ngày Ban hội thẩm được thành lập Trong trường hợp khẩn cấp, kể cả những trường hợp liên quan đến hàng dễ hỏng, thời hạn này được rút ngắn trong vòng 3

Trang 20

tháng Thời hạn này có thể được kéo dài trên cơ sở yêu cầu của Ban hội thẩm Yêu cầu này phải được lập bằng văn bản có nêu rõ lý do trì hoãn cùng với khoảng thời gian dự kiến đưa ra báo cáo để trình lên DSB Tuy nhiên, trong bất kỳ trường hợp này, thời gian này không vượt quá 9 tháng DSU có những quy định riêng áp dụng đối với các nước đang phát triển khi các nước này có những biện pháp là đối tượng của vụ việc tranh chấp

Báo cáo của Ban hội thẩm phải được chuyển tới tất cả các thành viên của DSB và được DSB thông qua trong vòng 60 ngày kể từ ngày chuyển tới các thành viên của DSB Báo cáo sẽ được thông qua tại phiên họp DSB, trừ khi một bên tranh chấp chính thức thông báo cho DSB về quyết định kháng cáo của mình, hoặc DSB quyết định trên cơ sở đồng thuận không thông qua bản báo cáo này

Trường hợp có phản đối về Báo cáo của Ban hội thẩm: Thành viên phản đối phải đệ trình văn bản giải thích lý do phản đối của mình tới DSB ít nhất 10 ngày trước ngày DSB tiến hành phiên họp xem xét báo cáo của Ban hội thẩm

Khi nhận được thông báo về quyết định kháng cáo, thủ tục phúc thẩm được tiến hành Thủ tục này không làm ảnh hưởng đến quyền của các thành viên được thể hiện quan điểm về Bản báo cáo của Ban hội thẩm

b Giải quyết tại Cơ quan phúc thẩm

Trình tự phúc thẩm này được tiến hành khi có thông báo về quyết định kháng cáo của một bên tranh chấp, sau khi nhận được Bản báo cáo của Ban hội thẩm

Quyền kháng cáo được giới hạn trong phạm vi các vấn đề pháp lý hoặc những vấn đề liên quan đến giải thích pháp luật được đưa ra trong Báo cáo của Ban hội thẩm Hơn nữa, chỉ có các bên tranh chấp mới có quyền kháng cáo Báo cáo của Ban hội thẩm Các bên thứ ba không có quyền này, dù vẫn được quyền trình bày ý kiến của mình (có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng) trước Cơ quan phúc thẩm Quá trình làm việc của Cơ quan phúc thẩm được giữ kín Các báo cáo của Cơ quan phúc

Trang 21

thẩm phải được soạn thảo không có sự tham gia của các bên tranh chấp

và trên cơ sở các thông tin được cung cấp và các ý kiến được đưa ra Thời hạn đưa ra Báo cáo không được quá 60 ngày kể từ ngày bên kháng cáo chính thức thông báo quyết định kháng cáo của mình Thời hạn này có thể gia hạn bởi DSB trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản của Cơ quan phúc thẩm Yêu cầu này phải nêu rõ lý do trì hoãn cùng với khoảng thời gian dự kiến đệ trình báo cáo Tuy nhiên trong mọi trường hợp, thời hạn này không được vượt quá 90 ngày

Cơ quan phúc thẩm có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc quyết định ngược lại với các ý kiến và kết luận của Ban hội thẩm Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm luôn được DSB thông qua trừ khi DSB quyết định trên

cơ sở đồng thuận không thông qua Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm trong vòng 30 ngày kể từ ngày Báo cáo được chuyển tới các thành viên Tuy nhiên, quy định này cũng không làm ảnh hưởng đến quyền của các thành viên được thể hiện quan điểm của mình về Bản báo cáo của Cơ quan phúc thẩm

Các bên tranh chấp bắt buộc phải chấp nhận vô điều kiện Bản báo cáo của Cơ quan phúc thẩm sau khi được thông qua và phải thực hiện các khuyến nghị được nêu ra trong Bản báo cáo này

Sau khi nhận được báo cáo của Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm, DSB phải ra quyết định thông qua báo cáo

Thời hạn để thông qua báo cáo không quá 9 tháng trong trường hợp không bị kháng cáo và là 12 tháng nếu bị kháng cáo, kể từ ngày thành lập Ban hội thẩm Nếu Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm kéo dài thời hạn để đưa ra báo cáo, thời gian kéo dài phải được tính thêm vào thời hạn trên

c Thực hiện Quyết định của DSB

Trường hợp đồng ý thực hiện các yêu cầu của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm

Khi Báo cáo được thông qua kết luận rằng một biện pháp nào đó là không phù hợp với hiệp định có liên quan thì Ban hội thẩm hoặc Cơ quan

Trang 22

phúc thẩm phải đưa ra các yêu cầu buộc Bên có biện pháp không phù hợp phải rút lại các biện pháp này hoặc sửa đổi biện pháp sao cho phù hợp với các quy định của hiệp định đó Báo cáo cũng có thể đề xuất các cách thức thực hiện các khuyến nghị đó

Các yêu cầu này phải không được thêm hoặc giảm bớt đi các quyền

và nghĩa vụ được quy định trong các hiệp định có liên quan

Trong trường hợp khiếu kiện không có sự vi phạm (non - violation complaint), yêu cầu đưa ra có thể là những giải pháp nhằm thỏa mãn các bên có liên quan, như bồi thường

Trong vòng 30 ngày kể từ ngày báo cáo của Ban hội thẩm hoặc Cơ quan phúc thẩm được thông qua, thành viên có liên quan (bên bị kết luận

là có biện pháp không phù hợp hoặc gây thiệt hại) phải thông báo cho DSB về các dự định của mình đối với việc thực hiện các kết luận đó Việc thực hiện phải tuân thủ các quy định sau:

+ Phải tuân theo ngay lập tức các yêu cầu

+ Trường hợp không thể thực hiện được ngay, thì phải thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý Khoảng thời gian hợp lý này được xác định như sau: (1) Là khoảng thời gian do thành viên đó đề xuất và được DSB thông qua; nếu không, (2) Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận để thành viên đó phải thực hiện yêu cầu trong vòng 45 ngày kể từ ngày DSB thông qua báo cáo; nếu không, (3) Theo phán quyết của trọng tài tiến hành trong vòng 90 ngày kể từ ngày DSB thông qua báo cáo DSB có nhiệm vụ giám sát việc thực hiện các kết luận đã được thông qua Trong thời gian thực hiện, tất cả các thành viên đều có quyền

có ý kiến về việc thực hiện này Ý kiến này phải được thực hiện bằng văn bản và gửi đến DSB chậm nhất là 10 ngày trước khi tiến hành phiên họp của DSB

Bồi thường và tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại (concessions)

Khi các yêu cầu của DSB không được thực hiện trong khoảng thời gian hợp lý, các bên tranh chấp có thể áp dụng các biện pháp bồi thường

Trang 23

và tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại hoặc các nghĩa vụ khác phát sinh từ hiệp định có liên quan Đây được coi là các biện pháp tạm thời, nhằm đạt được mục tiêu ưu tiên số một là thực hiện đầy đủ các khuyến nghị của DSB

Bồi thường thiệt hại được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên tranh chấp và phù hợp với hiệp định có liên quan Nếu các bên không đạt được thỏa thuận này, Bên thắng kiện được quyền yêu cầu DSB, trong vòng 20 ngày kể từ khi hết thời hạn thực hiện khuyến nghị, cho phép tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại và các nghĩa

vụ khác theo nguyên tắc và thủ tục như sau:

+ Tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại và các nghĩa vụ khác tương ứng với thiệt hại trong cùng lĩnh vực mà Ban hội thẩm hoặc

Cơ quan phúc thẩm đã xác định là có vi phạm hoặc làm triệt tiêu hoặc gây phương hại (trả đũa)

+ Tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại và các nghĩa vụ khác trong những lĩnh vực khác, nhưng vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của cùng hiệp định (trả đũa chéo lĩnh vực), trong trường hợp Bên đó cho rằng việc tạm hoãn thi hành các nhượng bộ hoặc các nghĩa vụ trong cùng lĩnh vực bị thiệt hại là không thực tế hoặc không đem lại hiệu quả

+ Tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại và các nghĩa vụ khác tại một hiệp định có liên quan khác (trả đũa chéo hiệp định) nếu Bên đó cho rằng việc tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại và các nghĩa vụ khác trong lĩnh vực khác ở cùng một hiệp định là không thực tế hoặc không đem lại hiệu quả

Cần lưu ý là khi thực hiện các biện pháp trả đũa này, mức độ tạm hoãn thi hành các nhân nhượng thương mại và các nghĩa vụ khác được DSB cho phép phải tương ứng với mức độ triệt tiêu hoặc gây phương hại

mà Bên kia gây ra Việc trả đũa sẽ không được thực hiện nếu như hiệp định có liên quan cấm việc trả đũa như vậy Các trường hợp trả đũa chéo lĩnh vực và trả đũa chéo hiệp định phải được thực hiện trên cơ sở yêu cầu bằng văn bản, có nêu rõ lý do, được gửi đến DSB và các Hội đồng có liên quan và các cơ quan chuyên ngành có liên quan

Trang 24

DSB sẽ phải cho phép Bên thắng kiện được quyền trả đũa trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn hợp lý để thi hành Báo cáo, trừ khi DSB quyết định từ chối yêu cầu áp dụng biện pháp trả đũa trên cơ

sở đồng thuận (đồng thuận phủ quyết)

Nếu thành viên có liên quan phản đối mức độ trả đũa được đề xuất, hoặc khiếu nại về việc áp dụng các biện pháp trả đũa được quy định nêu trên không được tuân thủ thì vấn đề này phải được đưa ra trọng tài giải quyết

Đối với trường hợp xác định thời hạn thực hiện các khuyến nghị của DSB, Trọng tài phải được thực hiện và kết thúc trong vòng 60 ngày

kể từ ngày thời hạn hợp lý kết thúc

Đối với trường hợp xác định mức độ trả đũa, Trọng tài không xem xét bản chất của các biện pháp trả đũa mà chỉ xem xét mức độ trả đũa có tương đương với mức độ thiệt hại hay không Quyết định của trọng tài là chung thẩm, các bên liên quan không được yêu cầu giải quyết trọng tài lần thứ hai

5.2 GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KHUÔN KHỔ CÁC THỎA THUẬN THƯƠNG MẠI KHU VỰC

5.2.1 Tổng quan về giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các thỏa thuận thương mại khu vực

Mỗi thỏa thuận thương mại khu vực đều được quyền tự xây dựng

cơ chế giải quyết tranh chấp riêng của mình

Cũng giống như cơ quan giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO, cơ quan giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực được thành lập với những mục tiêu sau:

+ Bảo đảm sự an toàn cho hệ thống quy định của thỏa thuận thương mại khu vực

Mỗi thỏa thuận thương mại khu vực luôn xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên tham gia Cơ chế này được coi là người gác cổng bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống các quy định được

Trang 25

các thành viên thỏa thuận xây dựng nên Trên cơ sở nguyên tắc pacta

sunt servanda, mỗi quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ tuân thủ, thực

hiện theo các cam kết của mình phù hợp với pháp luật quốc tế Sự không tuân thủ quy định của thỏa thuận thương mại khu vực sẽ được giải quyết theo trình tự, thủ tục được quy định rõ Nếu một thành viên bị kết luận rằng không thực hiện theo đúng quy định của thỏa thuận thương mại khu vực, thành viên đó có nghĩa vụ phải sửa sai và điều chỉnh lại hành vi của mình cho phù hợp

+ Bảo đảm việc thực hiện các cam kết và các nghĩa vụ của các thành viên theo quy định của các thỏa thuận thương mại khu vực

Cũng giống như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, các cơ chế giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực có mục tiêu bảo đảm các thành viên thực hiện theo đúng các cam kết của mình đối với các thành viên khác Trong trường hợp một thành viên không rút lại hoặc sửa đổi những biện pháp bị coi là không phù hợp với cam kết, thành viên đó có thể sẽ bị trừng phạt thương mại bằng việc bị yêu cầu áp dụng biện pháp bồi thường Biện pháp bồi thường cũng được thực hiện trong trường hợp việc rút lại ngay lập tức các biện pháp bị cho là không phù hợp hoặc không thực tế Về mặt nguyên tắc, việc áp dụng biện pháp bồi thường sẽ chỉ được thực hiện với danh nghĩa tạm thời

+ Giải thích rõ ràng các quy định của thỏa thuận thương mại khu vực Bên cạnh việc bảo đảm thực hiện đúng các quy định của thỏa thuận thương mại khu vực và bảo đảm an toàn cho toàn bộ hệ thống các quy định này, cơ chế giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực có mục tiêu quan trọng là giải thích nội dung của các quy định

đó, hướng tới việc hiểu và vận dụng một cách thống nhất các quy định giữa các quốc gia thành viên Chính vì vậy, mỗi thỏa thuận thương mại khu vực, cần thiết lập một cơ quan giải quyết tranh chấp cho riêng mình Bởi cơ quan có chức năng giải thích một cách chính thức các quy định của thỏa thuận khi có tranh chấp phát sinh giữa các thành viên về cách hiểu và vận dụng các quy định này

Trang 26

Thực tế cho thấy, các thỏa thuận thương mại khu vực đều tự xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp riêng Các cơ chế này có thể được thành lập theo những hình thức khác nhau tùy vào mục tiêu thành lập của từng thỏa thuận thương mại khu vực Ví dụ, với mục tiêu hướng tới việc xây dựng tổ chức siêu quốc gia, Liên minh châu Âu thiết lập nên Tòa án Công lý Liên minh châu Âu, với thẩm quyền đối với các vấn đề liên quan đến luật pháp của Liên minh châu Âu Trong khuôn khổ của ASEAN và các thỏa thuận thương mại khu vực khác, cơ chế giải quyết tranh chấp được xây dựng một cách đơn giản hơn

Dù được xác lập dưới các hình thức khác nhau, các cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ thỏa thuận thương mại khu vực đều có một số đặc điểm chung sau:

+ Bảo đảm quyền khiếu kiện của các chủ thể tư: Các cơ chế giải

quyết tranh chấp này đều được xác lập nhằm tạo lập các cơ quan giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ thành viên giống như

cơ chế của WTO Tuy nhiên, điểm khác biệt với DSU của WTO là các

cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các thỏa thuận thương mại khu vực còn có quy định cho phép các chủ thể tư được quyền sử dụng cơ chế giải quyết này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong các tranh chấp giữa họ với các quốc gia có liên quan Cụ thể, trong một

số vụ việc, đặc biệt là những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của thể nhân, của nhà đầu tư nước ngoài, cơ chế giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực cho phép các chủ thể này được quyền khiếu kiện quốc gia ra các cơ quan giải quyết tranh chấp khác nhau, mà không bắt buộc phải sử dụng các thiết chế giải quyết tranh chấp tại quốc gia có liên quan, hay nước nhận đầu tư

+ Có tính độc lập với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO:

Những cơ chế giải quyết tranh chấp này đều có tính độc lập đối với cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của WTO Biết rằng các thỏa thuận thương mại khu vực đều thừa nhận nghĩa vụ tuân thủ các quy định của WTO, bảo đảm phù hợp với các quy định của WTO Trong một số trường hợp các thỏa thuận này còn coi một số quy định của WTO như một phần của thỏa thuận Tuy nhiên, khi có tranh chấp phát sinh từ việc

Trang 27

hiểu, việc thực hiện các quy định của thỏa thuận, cơ chế giải quyết tranh chấp trong các thỏa thuận thương mại khu vực vẫn có vai trò quyết định

Hệ quả dẫn đến là chỉ các quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp trong thỏa thuận thương mại khu vực mới được coi là có giá trị ràng buộc các bên

+ Bảo đảm quyền khiếu kiện của các quốc gia, vùng lãnh thổ thành

viên ra cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO: Cơ chế giải quyết tranh

chấp trong khuôn khổ các thỏa thuận thương mại khu vực không bắt buộc các thành viên tham gia phải giải quyết tất cả các tranh chấp giữa

họ theo cơ chế giải quyết tranh chấp đó Cơ chế giải quyết tranh chấp của thỏa thuận thương mại khu vực chỉ có nhiệm vụ giải thích, giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quy định của thỏa thuận đó Trong trường hợp các quy định của WTO được coi là một phần của thỏa thuận thương mại khu vực, cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại khu vực còn cho phép các thành viên được sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO

để giải quyết tranh chấp giữa họ, ví dụ trường hợp của NAFTA, của TPP (đối với các tranh chấp liên quan đến biện pháp phòng vệ thương mại toàn cầu, biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp) Tuy nhiên, một số

ít thỏa thuận thương mại lại quy định bắt buộc thành viên chỉ được quyền

sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của mình để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ Đó là trường hợp của Liên minh châu Âu

5.2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp trong một số thỏa thuận thương mại khu vực

5.2.2.1 Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong ASEAN

Trên cơ sở Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN, Nghị định thư về cơ chế giải quyết tranh chấp (PDSM) được ký kết tại Manila (Philippine) vào ngày 20/11/1996 khai sinh ra Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại của ASEAN Ngoài ra, các nước thành viên ASEAN còn ký thêm Nghị định thư tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp vào ngày 29/11/2004 (ASEAN Protocol on Enhanced Dispute Settlement Mechanism) Năm 2007, Hiến chương ASEAN cũng dành một chương quy định về giải quyết tranh chấp (Chương VIII) Năm

Trang 28

2010, các quốc gia thành viên đã ký kết Nghị định thư 2010 sửa đổi Hiến chương ASEAN 2007 về cơ chế giải quyết tranh chấp Đây là những văn bản tạo nên cơ sở pháp lý cho việc triển khai cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong ASEAN

Cơ chế giải quyết tranh chấp theo PDSM là tổng thể thống nhất các

cơ quan, cách thức, trình tự và thủ tục giải quyết tranh chấp cũng như thi hành phán quyết trong giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN Cơ chế này chỉ được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên Các doanh nghiệp, dù có quyền và lợi ích trực tiếp

bị xâm hại, không thể tự động sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp, mà phải thông qua chính phủ của mình

Cơ quan giải quyết tranh chấp theo quy định tại Nghị định thư 2004 bao gồm:

+ Hội nghị quan chức kinh tế cao cấp SEOM: Hội nghị này có quyền thành lập Ban hội thẩm; thông qua báo cáo của Ban hội thẩm và

cơ quan phúc thẩm; giám sát việc thực hiện các phán quyết đã được SEOM thông qua và cho phép việc hoãn thi hành các nhượng bộ hay các nghĩa vụ khác theo các hiệp định của ASEAN

+ Hội nghị Bộ trưởng kinh tế AEM: Có thẩm quyền thành lập cơ quan phúc thẩm và bổ nhiệm các thành viên của Cơ quan phúc thẩm thường trực

+ Ban thư ký ASEAN: Là cơ quan trợ giúp cho Ban hội thẩm và cơ quan phúc thẩm, đặc biệt trong các vấn đề về pháp lý, lịch sử có liên quan,

Cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại của ASEAN bao gồm 4 giai đoạn: tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm và thi hành phán quyết + Tham vấn: Nếu các nước thành viên cho rằng những lợi ích mà

họ trực tiếp hay gián tiếp được hưởng theo bất kỳ Hiệp định được áp dụng nào của ASEAN đang bị hủy bỏ hoặc bị phương hại, hoặc mục tiêu của Hiệp định đó bị cản trở do một nước thành viên khác không thực hiện nghĩa vụ của mình theo hiệp định thì có thể khiếu nại tới nước thành

Trang 29

viên đó để được giải quyết một cách thỏa đáng Nước thành viên nhận được khiếu nại phải trả lời trong vòng 10 ngày sau khi nhận được yêu cầu và phải bước vào tham vấn trong vòng 30 ngày Nếu việc tham vấn không giải quyết được tranh chấp trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu thì bên khiếu nại có thể đưa vụ việc ra giải quyết tại SEOM

+ Trung gian, hòa giải, môi giới: Các bên tranh chấp luôn được quyền tự tiến hành giải quyết các mâu thuẫn, bất đồng của mình thông qua một bên thứ ba, theo các hình thức là trung gian, hòa giải hoặc môi giới Ngay khi những biện pháp này kết thúc, các bên có thể tiến hành sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của SEOM

+ Hội thẩm: Ban hội thẩm có nghĩa vụ đánh giá một cách khách quan tranh chấp bao gồm cả việc xác minh các sự kiện của vụ việc, khả năng áp dụng cũng như tính phù hợp với các quy định của Hiệp định liên quan và thu thập các chứng cứ khác hỗ trợ cho SEOM trong việc ra quyết định Sau khi kết thúc công việc, Ban hội thẩm làm báo cáo đệ trình lên SEOM Nếu các bên không có kháng cáo thì báo cáo này sẽ được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận nghịch (giống như cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO)

+ Phúc thẩm: Trong trường hợp không đồng ý với báo cáo của Ban hội thẩm, các bên tranh chấp có quyền kháng cáo lên Cơ quan phúc thẩm Cơ quan phúc thẩm thành lập nhóm phúc thẩm riêng cho từng vụ tranh chấp, với nhiệm vụ xem xét báo cáo của Ban phúc thẩm Phạm vi xem xét chỉ giới hạn ở các kết luận và giải thích pháp lý được nêu trong báo cáo phù hợp hay không phù hợp với các quy định của Hiệp định có liên quan, mà không xem xét các vấn đề khác Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được đệ trình lên SEOM Cơ quan này thông qua báo cáo theo nguyên tắc đồng thuận nghịch

+ Thi hành phán quyết: Bên thua kiện có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của SEOM trong vòng 60 ngày kể từ khi báo cáo của Ban hội thẩm hoặc báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được SEOM thông qua, trừ khi các bên thỏa thuận một khoảng thời gian dài hơn SEOM giám sát

Trang 30

việc thực hiện phán quyết của bên thua kiện tại mỗi cuộc họp của mình cho đến khi phán quyết được thi hành Bên thua kiện phải đệ trình lên SEOM một bản báo cáo nêu rõ quá trình thực hiện phán quyết tối thiểu

10 ngày trước mỗi phiên họp của SEOM

+ Hết thời hạn thi hành mà bên vi phạm vẫn không chịu thực hiện phán quyết, bên thắng kiện được quyền yêu cầu bồi thường Việc bồi thường được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên Nếu trong vòng 20 ngày kể từ khi hết hạn thi hành phán quyết mà các bên không thỏa thuận được về việc bồi thường thì bên thắng kiện có quyền yêu cầu SEOM cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa bằng cách đình chỉ thi hành ưu đãi hay các nghĩa vụ khác theo các hiệp định của ASEAN Trong vòng 30 ngày kể từ khi hết hạn thi hành phán quyết, SEOM sẽ cho phép bên thắng kiện tiến hành các biện pháp này

Tổng thời gian giải quyết một vụ tranh chấp không được vượt quá

445 ngày, trừ khi các bên có thỏa thuận một khoảng thời gian thực hiện phán quyết dài hơn

Đây là cơ chế giải quyết tranh chấp chung giữa các nước thành viên của ASEAN Tuy nhiên, đối với lĩnh vực đầu tư, ASEAN có hẳn cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với quốc gia thành viên, được quy định trong Hiệp định ACIA (từ Điều 28 đến Điều 41) Phạm vi giải quyết tranh chấp là những hành vi vi phạm nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến quyền lợi cơ bản của nhà đầu tư Cụ thể những tranh chấp về đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, quản trị cấp cao và Hội đồng quản trị, đối xử đầu tư, bồi thường trong trường hợp xung đột; chuyển tiền; quản lý, điều hành, bán hoặc hủy bỏ một khoản đầu tư được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên có tranh chấp xác nhận bằng văn bản; khoản đầu tư của nhà đầu tư được xác nhận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia thành viên bị thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra

Hiệp định cho phép các bên luôn được quyền thương lượng với nhau ở bất kỳ thời điểm nào để giải quyết tranh chấp, ngay cả khi các bên

đã đưa tranh chấp ra cơ quan giải quyết tranh chấp của Hiệp định Các bên có quyền yêu cầu tham vấn và thương lượng trực tiếp hoặc thông qua

Trang 31

hòa giải Cụ thể, nhà đầu tư phải gửi yêu cầu bằng văn bản đến cơ quan

có thẩm quyền của quốc gia tiếp nhận đầu tư

Trong trường hợp tranh chấp không thể giải quyết được bằng tham vấn trong thời hạn 180 ngày kể từ ngày quốc gia tiếp nhận đầu tư nhận được yêu cầu tham vấn của nhà đầu tư, nhà đầu tư được quyền đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết căn cứ vào quy định của Hiệp định ACIA Nhà đầu tư được quyền lựa chọn các cơ chế giải quyết tranh chấp sau: + Tòa án tư pháp hoặc tòa án hành chính của quốc gia nước tiếp nhận đầu tư; hoặc

+ Quy định của Công ước ICSID; hoặc

+ Quy định tạo thuận lợi bổ sung của ICSID; hoặc

+ Quy định của UNCITRAL; hoặc

+ Quy định của Trung tâm trọng tài khu vực đặt tại Kuala Lumpur hoặc bất kỳ trung tâm trọng tài khu vực nào của ASEAN; hoặc

+ Bất kỳ trung tâm trọng tài nào, theo thỏa thuận của các bên Tranh chấp sẽ được giải quyết bởi một trong số các trọng tài nêu trên nếu đáp ứng các điều kiện sau:

+ Việc đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết được thực hiện trong thời hạn 3 năm kể từ khi nhà đầu tư biết được hoặc cần phải biết được có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo Hiệp định này gây ra tổn thất hoặc thiệt hại đến lợi ích của nhà đầu tư hoặc hoạt động đầu tư của mình; và

+ Nhà đầu tư đã thông báo bằng văn bản, ít nhất 90 ngày trước khi yêu cầu trọng tài giải quyết, đến quốc gia tiếp nhận đầu tư về ý định đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết, trong đó nêu tóm tắt các hành vi bị coi

là vi phạm nghĩa vụ theo Hiệp định cùng với các tổn thất hoặc thiệt hại cho nhà đầu tư hoặc hoạt động đầu tư; và

+ Thông báo trọng tài, theo quy định tại Điều 33 khoản 2 của Hiệp định, được gửi kèm theo văn bản từ bỏ quyền của nhà đầu tư về việc khởi kiện hoặc tiếp tục theo kiện tại tòa án tư pháp hoặc tòa án hành chính của quốc gia tiếp nhận đầu tư hoặc bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp nào

Trang 32

khác Miễn trừ này không bao gồm quyền của nhà đầu tư được khởi kiện hoặc thực hiện một biện pháp tạm thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư tại tòa án tư pháp hoặc tòa án hành chính của quốc gia nước tiếp nhận đầu tư

Trọng tài giải quyết tranh chấp bao gồm 3 trọng tài viên, nếu các bên không có thỏa thuận khác Các bên được quyền lựa chọn 1 trọng tài viên Trọng tài viên thứ ba sẽ là chủ tịch hội đồng trọng tài, được lựa chọn trên cơ sở thỏa thuận của các bên Phán quyết của hội đồng trọng tài được thông qua theo nguyên tắc đa số Các bên tranh chấp sẽ cùng nhau trả chi phí trọng tài

Hiệp định ACIA cũng quy định rõ về luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Trọng tài sẽ giải quyết tranh chấp trên cơ sở phù hợp với quy định của Hiệp định, bất kỳ thỏa thuận được xác lập giữa các quốc gia thành viên, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nước tiếp nhận căn cứ vào các tình tiết của vụ việc

Các bên được quyền thỏa thuận đình chỉ giải quyết tranh chấp tại trọng tài vào bất kỳ thời điểm nào trước khi trọng tài ra phán quyết

5.2.2.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Hiệp định TPP

Hiệp định TPP có hai cơ chế giải quyết tranh chấp: Cơ chế giải quyết tranh chấp chung và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư

và quốc gia tiếp nhận đầu tư

Cơ chế chung được quy định tại Chương 28, có phạm vi áp dụng sau: + Nhằm tránh hoặc giải quyết các tranh chấp giữa các bên liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định TPP

+ Khi một Bên cho rằng một biện pháp đang được một Bên khác thực hiện hoặc dự kiến áp dụng rõ ràng hoặc có thể không phù hợp với một nghĩa vụ theo Hiệp định này hoặc một Bên khác đã không thực hiện đúng nghĩa vụ theo Hiệp định

+ Khi một Bên cho rằng những lợi ích mà mình có thể được hưởng một cách hợp lý theo quy định tại Chương 2 (Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường hàng hóa), Chương 3 (Quy tắc xuất xứ và thủ tục xuất xứ),

Trang 33

Chương 4 (Dệt may), Chương 5 (Quản lý thuế quan và thuận lợi hóa thương mại), Chương 8 (Rào cản kỹ thuật đối với thương mại), Chương

10 (Thương mại dịch vụ xuyên biên giới) hoặc Chương 15 (Mua sắm Chính phủ)

Hiệp định quy định về quyền được lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp của các thành viên Theo đó, khi có tranh chấp phát sinh giữa các thành viên liên quan đến bất kỳ lĩnh vực nào được điều chỉnh bởi Hiệp định TPP và bất kỳ điều ước quốc tế nào, bao gồm cả các hiệp định thương mại đa phương của WTO, bên khiếu nại được quyền lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp của TPP hay của các điều ước quốc tế đó để giải quyết Một khi các bên đã có sự lựa chọn cơ quan giải quyết thì sự lựa chọn này sẽ loại trừ tất cả các cơ quan giải quyết tranh chấp khác Thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của TPP bao gồm hai giai đoạn: (1) Tham vấn, môi giới, hòa giải, trung gian; (2) Giải quyết tại Ban hội thẩm

Các bên sẽ giải quyết tranh chấp thông qua tham vấn, môi giới, trung gian hoặc hòa giải Trong trường hợp các biện pháp này thất bại, các bên có thể yêu cầu thành lập một Ban hội thẩm công bằng, không thiên vị Ban hội thẩm được thành lập trong vòng 60 ngày kể từ khi có yêu cầu tham vấn hoặc 30 ngày đối với hàng hóa mau hỏng

Ban hội thẩm sẽ gồm 3 chuyên gia độc lập về thương mại quốc tế,

có liên quan tới lĩnh vực tranh chấp Ban này sẽ tuân theo một quy tắc ứng xử chung nhằm đảm bảo tính thống nhất của cơ chế giải quyết tranh chấp Ban hội thẩm sẽ có báo cáo ban đầu trong 150 ngày kể từ khi thành viên cuối cùng của Ban được chỉ định hoặc 120 ngày trong trường hợp khẩn cấp, ví dụ như trường hợp liên quan tới các hàng hóa dễ hỏng Báo cáo ban đầu này sẽ là báo cáo mật và các bên có thể nhận xét bổ sung Một Bên tranh chấp có thể gửi văn bản nhận xét về báo cáo ban đầu của Ban hội thẩm trong vòng 15 ngày kể từ ngày báo cáo được trình bày hoặc trong thời hạn khác do các Bên tranh chấp thỏa thuận

Sau khi xem xét bất kỳ ý kiến bằng văn bản của các Bên tranh chấp đối với báo cáo ban đầu, Ban hội thẩm có thể sửa đổi báo cáo này và thực hiện bất kỳ kiểm tra thêm nếu xét thấy thích hợp

Trang 34

Báo cáo cuối cùng sẽ được hoàn thành trong vòng 30 ngày kể từ ngày có báo cáo ban đầu và phải được công bố trong vòng 15 ngày, nhưng các thông tin mật sẽ được giữ kín

Ban hội thẩm cũng sẽ cân nhắc các yêu cầu từ các đơn vị phi chính phủ tại các nước đang xảy ra tranh chấp, nếu họ muốn hội đồng cung cấp quan điểm về vụ tranh chấp

Để đảm bảo các bên sẽ tuân thủ, TPP cho phép sử dụng trả đũa thương mại (ví dụ như ngừng không cho hưởng lợi ích), nếu một bên không tuân thủ nghĩa vụ của mình Trước khi sử dụng biện pháp trả đũa thương mại, bên không tuân thủ có thể thảo luận hoặc yêu cầu một khoảng thời gian hợp lý để khắc phục các vi phạm của mình

Bồi thường và đình chỉ ưu đãi và thanh toán khoản tiền ấn định là những biện pháp tạm thời Bồi thường, đình chỉ ưu đãi và thanh toán khoản tiền ấn định chỉ được áp dụng cho đến khi Bên bị đơn đã loại bỏ

sự không phù hợp/không tuân thủ, sự triệt tiêu hoặc làm phương hại lợi ích, hoặc đạt được một giải pháp thoả đáng

Cơ chế giải quyết tranh chấp đề ra trong chương này áp dụng cho toàn bộ Hiệp định TPP, trừ một số ít trường hợp đặc biệt, ví dụ như tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với chính phủ nước tiếp nhận, được quy định trong Chương về Đầu tư Người dân các nước thành viên có thể theo dõi tiến trình tố tụng từ thời điểm các bản đệ trình được công bố, theo dõi phiên điều trần và xem báo cáo cuối cùng của Ban hội thẩm Liên quan đến tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia thành viên, Hiệp định TPP cũng có cơ chế giải quyết tranh chấp áp dụng riêng, khác với cơ chế giải quyết tranh chấp chung được nêu ở trên Cơ chế này được quy định tại Mục B Chương về Đầu tư

Theo quy định của hiệp định, nhà đầu tư được quyền khởi kiện quốc gia tiếp nhận đầu tư khi đáp ứng 2 điều kiện sau:

+ Quốc gia tiếp nhận đầu tư vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Mục A, Chương về Đầu tư của Hiệp định, hoặc những vi phạm liên quan đến cấp phép đầu tư hoặc hợp đồng đầu tư;

Trang 35

+ Khi nguyên đơn đã gánh chịu thiệt hại hoặc tổn thất do vi phạm

đó gây ra

Đối tượng được khởi kiện theo cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Chương Đầu tư bao gồm:

+ Nhà đầu tư, tự mình khởi kiện vì quyền lợi của mình

+ Nhà đầu tư nhân danh doanh nghiệp, tại quốc gia nơi tiếp nhận đầu tư, mà mình sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp

Về phương thức giải quyết tranh chấp, nhà đầu tư có quyền bỏ qua các cơ quan giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật tại quốc gia tiếp nhận đầu tư, mà có thể trực tiếp sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định tại Hiệp định này, như UNCITRAL, như ICSID

Đối với các tranh chấp này, Hiệp định yêu cầu các bên của tranh chấp phải tiến hành giải quyết thông qua bàn bạc và thương lượng với nhau, trong đó bao gồm việc áp dụng các thủ tục không mang tính ràng buộc với các bên như thông qua môi giới, trung gian hoặc hòa giải Chỉ khi không thể giải quyết thông qua các phương thức này trong vòng sáu tháng

kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu bàn bạc và thương lượng từ Bên bị đơn (quốc gia nơi tiếp nhận đầu tư), nguyên đơn (nhà đầu tư) hoặc đại diện cho mình, mới được quyền nộp hồ sơ khởi kiện lên cơ quan tài phán theo quy định của Hiệp định tại Mục B Chương về Đầu tư

Nhà đầu tư nộp hồ sơ khởi kiện đối với vụ kiện theo một trong các phương án sau:

+ Căn cứ theo Công ước ICSID và các Nguyên tắc Tố tụng Trọng tài của ICSID với điều kiện Bên bị đơn lẫn Quốc gia của nhà đầu tư là các thành viên của Công ước ICSID;

+ Căn cứ theo các Quy định tạo thuận lợi bổ sung của ICSID với điều kiện là Bên bị đơn hoặc Quốc gia của nhà đầu tư đều là thành viên của Công ước ICSID;

+ Căn cứ theo các nguyên tắc của UNCITRAL; hoặc

Trang 36

+ Nếu nhà đầu tư và Quốc gia tiếp nhận đầu tư đã thống nhất với nhau về cơ quan tài phán khác và các nguyên tắc trọng tài khác

Các thành viên của Hiệp định sẽ phải chấp thuận giải quyết vụ kiện thông qua thủ tục trọng tài theo quy định của Hiệp định Hiệp định quy định về thời hiệu nộp đơn khởi kiện là 3 năm 6 tháng kể từ thời điểm bên nguyên đơn là người đầu tiên hoặc đáng lý phải là người đầu tiên nhận thức được hành vi vi phạm và nhận thức rằng bên nguyên đơn hoặc doanh nghiệp đã gánh chịu tổn thất hoặc thiệt hại

Hiệp định cũng quy định về các điều kiện để đơn kiện được coi là chấp thuận giải quyết vụ kiện thông qua thủ tục trọng tài Cụ thể, đơn kiện phải có:

+ Văn bản chấp thuận giải quyết tranh chấp bằng thủ tục trọng tài tuân theo các trình tự quy định trong Hiệp định này; và

+ Thông báo trọng tài; kèm theo

+ Văn bản từ bỏ quyền khởi kiện hoặc tiếp tục theo đuổi vụ kiện, của nhà đầu tư (trong trường hợp khởi kiện vì lợi ích của mình) hoặc nhà đầu tư và doanh nghiệp mà mình kiểm soát (trong trường hợp nhà đầu tư nhân danh doanh nghiệp mà mình kiểm soát), tại tòa án tư pháp hoặc tòa

án hành chính theo pháp luật của một Bên, hoặc theo bất kỳ cơ chế giải quyết tranh chấp nào khác

Việc nhà đầu tư tiến hành thực hiện hành động nhằm tìm kiếm biện pháp khắc phục tạm thời theo quyết định của cơ quan tài phán và không bao gồm việc thanh toán tiền bồi thường thiệt hại tại tòa án tư pháp hoặc tòa án hành chính của quốc gia tiếp nhận đầu tư không bị coi là vi phạm điều kiện nêu trên, nếu hành động này chỉ nhằm phục vụ cho mục đích duy nhất là bảo lưu quyền lợi của doanh nghiệp trong khoảng thời gian thủ tục tố tụng trọng tài chưa được thực hiện

Tố tụng trọng tài được thực hiện theo quy định tại Hiệp định bao gồm những vấn đề liên quan đến việc lựa chọn trọng tài viên, tổ chức thực hiện theo tố tụng trọng tài, các yêu cầu đặt ra nhằm đảm bảo tính minh bạch trong thủ tục trọng tài,

Trang 37

Hiệp định cũng nêu rõ nguồn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia nước tiếp nhận Việc xác định nguồn luật áp dụng phụ thuộc vào đối tượng của đơn kiện Cụ thể:

+ Nếu đối tượng khởi kiện là hành vi vi phạm quy định tại Mục A của Chương Đầu tư, thì luật áp dụng sẽ là các nguyên tắc của pháp luật quốc tế và các quy định của Hiệp định

+ Nếu đối tượng khởi kiện là hành vi vi phạm liên quan đến cấp phép đầu tư, hợp đồng đầu tư thì cơ quan giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng: (i) pháp luật điều chỉnh việc cấp phép đầu tư hoặc pháp luật nêu trong hợp đồng đầu tư, hoặc pháp luật khác mà các bên tranh chấp có thỏa thuận; hoặc (ii) nếu trường hợp hợp đồng đầu tư không quy định cụ thể hoặc các bên không có thỏa thuận khác, thì pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật của bên bị đơn, bao gồm các quy phạm xung đột pháp luậtvà các nguyên tắc của công pháp quốc tế có thể áp dụng

5.2.2.3 Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Liên minh châu Âu

Như đã giới thiệu về Liên minh châu Âu, Tòa án công lý của Liên minh châu Âu là một trong bảy thiết chế quan trọng của tổ chức siêu quốc gia này Nhiệm vụ chính của Tòa Công lý của Liên minh châu Âu

là bảo đảm việc áp dụng thống nhất đối với tất cả các nước thành viên của EU và giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa chính phủ các quốc gia thành viên với nhau và giữa chính phủ các quốc gia với các thiết chế của Liên minh châu Âu Trong một số trường hợp, Tòa còn chấp nhận đơn kiện của các cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức khởi kiện bất kỳ thiết chế nào của Liên minh châu Âu khi cho rằng thiết chế này đã gây thiệt hại đến quyền của họ

Thành viên của Tòa Công lý của Liên minh châu Âu bao gồm thẩm phán từ tất cả các nước thành viên, mỗi quốc gia có một thẩm phán, và mười một tổng chưởng lý

Hoạt động chủ yếu của Tòa Công lý được tóm tắt như sau:

+ Giải thích pháp luật của Liên minh: Nếu tòa án quốc gia chưa thực sự rõ ràng trong việc giải thích quy định của Liên minh châu Âu

Trang 38

hoặc hiệu lực của một văn bản pháp lý của Liên minh châu Âu, tòa án quốc gia có quyền đề nghị Tòa Công lý giải thích rõ Thủ tục tương tự cũng được áp dụng đối với trường hợp xác định sự phù hợp của một đạo luật hoặc một thực tiễn tại một quốc gia thành viên với pháp luật của Liên minh châu Âu

+ Giám sát việc thực hiện đúng pháp luật của Liên minh châu Âu: Thủ tục này được áp dụng khi một quốc gia thành viên không tuân thủ pháp luật của Liên minh châu Âu Đơn khởi kiện có thể được nộp bởi Ủy ban châu Âu hoặc một quốc gia thành viên khác Trong trường hợp vi phạm được phát hiện, quốc gia vi phạm phải ngay lập tức chấm dứt hành

vi vi phạm, nếu không sẽ bị tiếp tục khởi kiện và phải nộp tiền phạt + Đình chỉ văn bản pháp luật của Liên minh châu Âu: Khi cho rằng một văn bản pháp luật của Liên minh châu Âu vi phạm các hiệp ước của Liên minh hoặc các quyền con người cơ bản, Hội đồng châu Âu, Ủy ban châu Âu hoặc Nghị viện châu Âu có thể yêu cầu Tòa Công lý đình chỉ văn bản đó Một cá nhân cũng có thể yêu cầu Tòa Công lý đình chỉ văn bản có liên quan trực tiếp đến mình

+ Bảo đảm hành động của Liên minh châu Âu: Khi Nghị viện, Hội đồng và Ủy ban phải thực hiện một quyết định nào đó trong một số trường hợp nhất định mà lại không thực hiện, các quốc gia thành viên hoặc các thiết chế khác của Liên minh và cũng có thể là các cá nhân, doanh nghiệp trong một số trường hợp, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết + Trừng phạt các thiết chế của Liên minh châu Âu (yêu cầu bồi thường thiệt hại): Tất cả các cá nhân hoặc doanh nghiệp khi cho rằng lợi ích hợp pháp của mình bị tổn hại từ việc hành động hoặc không hành động của bất kỳ thiết chế nào hoặc nhân viên của thiết chế đó, đều có quyền khởi kiện ra Tòa Công lý

Trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa Công lý bao gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn viết:

+ Các bên trình bày quan điểm của mình với Tòa Các cơ quan quốc gia, các thiết chế của Liên minh châu Âu và trong một số trường hợp các cá nhân có thể đưa ra các nhận xét

Trang 39

+ Các thông tin được tóm tắt bởi thẩm phán phụ trách, sau đó được xem xét tại cuộc họp chung của tất cả thẩm phán và tổng chưởng lý, nhằm quyết định về 2 vấn đề sau: (1) số lượng thẩm phán giải quyết vụ việc (là 3 hoặc 5 hoặc thậm chí 15 - toàn thể thành viên của Tòa - tùy vào mức độ quan trọng và phức tạp của vụ việc, thông thường là 5 thẩm phán) và (2) việc tiến hành giai đoạn tiếp theo và xác định tổng chưởng

lý phải được ra kết luận

Giai đoạn nói:

Đây là phiên xét xử công khai, tại đây luật sư của các bên: Trình bày các lý lẽ trước thẩm phán và tổng chưởng lý Thẩm phán và tổng chưởng

lý đặt các câu hỏi làm rõ vấn đề Tổng chưởng lý đưa ra kết luận vài tuần sau đó Cuối cùng, thẩm phán thảo luận và đưa ra kết luận của mình

5.2.2.4 Cơ chế giải quyết tranh chấp trong NAFTA

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ của NAFTA được thực hiện trên cơ sở Hiệp định thành lập NAFTA Hiệp định có những cơ chế giải quyết khác nhau cho từng loại tranh chấp Đối với các tranh chấp phát sinh từ thuế chống trợ cấp và các biện pháp chống bán phá giá, cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Chương 19 của Hiệp định Trong khi đó, Chương 20 quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích các quy định của Hiệp định Chương 11 giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia thành viên tiếp nhận đầu tư Cuối cùng, những tranh chấp liên quan đến dịch vụ tài chính lại được giải quyết bởi cơ chế quy định tại Chương 14 Như vậy, có thể thấy, bên cạnh các cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, NAFTA còn cho phép các chủ thể tư là nhà đầu tư được quyền sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của NAFTA (quy định tại Chương 11) khi có tranh chấp với quốc gia nước tiếp nhận đầu tư

Chương 19 cho phép các quốc gia thành viên NAFTA được quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp liên chính phủ là nhóm chuyên gia đến từ hai quốc gia có tranh chấp, thay vì thủ tục tư pháp quốc gia, để xem lại các quyết định liên quan đến biện pháp chống bán phá và chống trợ cấp Trước đây, các quyết định của chính phủ mỗi nước

Trang 40

liên quan đến việc xác định sự tồn tại của bán phá giá, của trợ cấp bị cấm

và thiệt hại, chỉ có thể được xem xét lại bởi tòa án tư pháp quốc gia hoặc tại tòa án hành chính của quốc gia đó Liên quan đến các tranh chấp trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, cơ chế giải quyết tranh chấp có điểm khác so với cơ chế tại Chương 19 Cụ thể, nhóm chuyên gia đến từ các nước tranh chấp phải được chọn lựa từ danh sách các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính của NAFTA

Chương 11 quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu

tư và quốc gia nước tiếp nhận đầu tư Đơn khởi kiện của nhà đầu tư sẽ được giải quyết theo thủ tục trọng tài trong khuôn khổ của Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) và Trung tâm quốc

tế về giải quyết tranh chấp liên quan đến đầu tư (ICSID)

Liên quan đến các tranh chấp về việc giải thích và thực hiện các quy định khác của Hiệp định NAFTA, cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại Chương 20 Hiệp định yêu cầu các thành viên phải cùng nhau hợp tác, thương lượng để giải quyết tranh chấp Các thành viên được quyền yêu cầu tham vấn thành viên khác về một biện pháp đang được thực hiện hoặc dự định thực hiện hoặc tất cả những vấn đề khác có thể làm ảnh hưởng đến sự vận hành của hiệp định này

Khi các bên tham gia tham vấn không thể giải quyết được tranh chấp giữa họ, một trong các bên có quyền yêu cầu bằng văn bản Ủy ban thương mại tự do tiến hành giải quyết tranh chấp giữa các bên Ủy ban thương mại tự do có thể nhờ sự trợ giúp của các tư vấn kỹ thuật hoặc thành lập nhóm chuyên gia để xem xét vấn đề; hoặc nhờ sự trợ giúp của môi giới, hòa giải hoặc trung gian hoặc bất kỳ một cơ chế giải quyết tranh chấp khác; hoặc trực tiếp đưa ra khuyến nghị

Khi Ủy ban thương mại tự do không thể giải quyết được các tranh chấp giữa các thành viên, bất kỳ thành viên tham vấn đều có quyền yêu cầu Ủy ban thương mại tự do thành lập nhóm trọng tài đặc biệt

Nhóm trọng tài đặc biệt bao gồm 5 thành viên Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, Nhóm trọng tài đặc biệt sẽ tiến hành công việc theo thủ tục mẫu được quy định tại Hiệp định Nhóm trọng tài tiến hành

Ngày đăng: 15/07/2022, 14:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 7: Sơ đồ mô tả phương thức chuyển tiền 39 - Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2
Bảng 7 Sơ đồ mô tả phương thức chuyển tiền 39 (Trang 164)
Bảng 8: Sơ đồ mô tả phương thức ghi sổ 41 - Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2
Bảng 8 Sơ đồ mô tả phương thức ghi sổ 41 (Trang 165)
Bảng 9: Sơ đồ mô tả phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn 42 - Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2
Bảng 9 Sơ đồ mô tả phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn 42 (Trang 167)
Bảng 10: Sơ đồ mô tả phương thức thanh toán nhờ thu - Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2
Bảng 10 Sơ đồ mô tả phương thức thanh toán nhờ thu (Trang 168)
Bảng 11: Sơ đồ mô tả quy trình thanh toán L/C 44 - Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2
Bảng 11 Sơ đồ mô tả quy trình thanh toán L/C 44 (Trang 171)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm