Các trường hợp miễn trách nhiệm

Một phần của tài liệu Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2 (Trang 155 - 162)

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

7.2. CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ

7.2.6. Các trường hợp miễn trách nhiệm

Như đã nêu ở phần trên, hành vi vi phạm hợp đồng của một bên sẽ dẫn đến trách nhiệm của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp hành vi vi phạm lại không dẫn đến trách nhiệm của bên vi phạm. Đó là trường hợp miễn trách nhiệm.

Mặc dù, hợp đồng thương mại quốc tế được ký kết trên nguyên tắc sự thỏa thuận, tự do ý chí của các bên, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng không thể tránh khỏi các sự kiện xảy ra ảnh hưởng tới việc thực hiện hợp đồng mà không phải do lỗi của các bên. Đó hoàn toàn là do sự kiện khách quan, mà trước đó các bên không biết hoặc không thể lường trước được. Nói một cách khác, hành vi vi phạm hợp đồng của một bên là do sự kiện khách quan tác động đến. Trong trường hợp này, vấn đề miễn trách nhiệm được đặt ra. Các trường hợp miễn trách nhiệm có thể được các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định.

Trong trường hợp do các bên thỏa thuận, cần căn cứ vào điều khoản của hợp đồng để xác định trường hợp miễn trách nhiệm cho bên vi phạm. Nếu các bên không thỏa thuận về các trường hợp này, thì vấn đề miễn trách nhiệm phải được xác định dựa trên quy định của pháp luật được áp dụng để điều chỉnh vấn đề này của hợp đồng.

Thông thường, có 4 trường hợp được miễn trách nhiệm được hầu hết hệ thống pháp luật trên thế giới thừa nhận:

+ Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;

+ Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

+ Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

+ Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Trước tiên, trên cơ sở tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, các nguồn luật đều cho phép các bên được quyền thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm khi thực hiện hợp đồng. Ngoài các trường hợp do các bên thỏa thuận, pháp luật còn quy định trường hợp hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia là một trường hợp miễn trách nhiệm. Điều 80 Công ước Viên 1980 cũng có quy định tương tự khi nêu rõ: “Một bên không được quyền viện dẫn hành vi vi phạm của bên kia nếu hành vi đó là do sự thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi của mình”.

Sự kiện bất khả kháng là một trong những trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định của nhiều hệ thống pháp luật quốc gia. Sự kiện bất khả kháng là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Pháp “force majeure” có nghĩa là “sức mạnh tối cao” hoặc “sức mạnh không thể kháng cự nổi”. Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên tai) như: lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần… Việc coi các hiện tượng thiên tai có thể là sự kiện bất khả kháng được áp dụng khá thống nhất trong luật pháp và thực tiễn của các nước trên thế giới. Sự kiện bất khả kháng cũng có thể là những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ…

Mặc dù trong Công ước Viên 1980 không có quy định rõ ràng về sự kiện bất khả kháng nhưng Điều 79 quy định những dấu hiệu của sự kiện này. Điều 79 Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế quy định “Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kì một nghĩa vụ nào đó của mình nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện đó là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và họ không thể lường trước được trở ngại đó một cách hợp lí vào lúc giao kết hợp

đồng, không thể tránh được và cũng không thể khắc phục được các hậu quả của nó”. Có thể thấy rằng, đặc trưng cơ bản của sự kiện bất khả kháng là:

- Vào thời điểm ký hợp đồng các bên không thể dự liệu hay lường trước được sẽ xảy ra một trở ngại vượt khỏi tầm kiểm soát của mình;

- Hậu quả mà nó gây ra là không thể tránh được.

Sự kiện này xảy ra chỉ sau khi ký hợp đồng, không phải do lỗi của bất kỳ bên nào. Nó xảy ra ngoài ý muốn và các bên không thể dự đoán trước, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn đến việc không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng. Tuy nhiên, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho bên có quyền về sự tồn tại của trở ngại và ảnh hưởng của chúng đối với khả năng thực hiện của mình. Nếu thông báo không đến tay người nhận trong khoảng thời hạn hợp lý kể từ khi bên có nghĩa vụ biết hoặc buộc phải biết về trở ngại, bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho bên kia. Tuy nhiên, điều khoản bất khả kháng không làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Việc miễn trách nhiệm thực hiện hợp đồng chỉ có hiệu lực trong thời gian tồn tại trở ngại đó. Trong một số trường hợp, sự kiện bất khả kháng có thể dẫn đến việc chấm dứt thực hiện hợp đồng, như đối với những hợp đồng có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ, còn đại đa số thì sự kiện bất khả kháng chỉ làm trì hoãn việc thực hiện hợp đồng trong khoảng thời gian gián đoạn đó.

Không phải sự kiện bất khả kháng nào cũng được coi là điều khoản miễn trừ việc thực hiện hợp đồng. Nếu sự kiện bất khả kháng phát sinh sau thời hạn thực hiện hợp đồng thì không được áp dụng điều khoản miễn trách nhiệm. Do đó, sự kiện bất khả kháng phải có mối quan hệ trực tiếp với việc không thực hiện được nghĩa vụ của hợp đồng. Nói cách khác, sự kiện bất khả kháng phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc không thể thực hiện được nghĩa vụ. Nếu một sự kiện nào đó chỉ có ảnh hưởng ở mức độ gây cản trở khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ thì không được miễn trừ trách nhiệm.

Với cách hiểu về sự kiện bất khả kháng như được nêu ở trên, có thể thấy trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng, cũng có thể được coi là một sự kiện bất khả kháng theo quy định của Công ước Viên 1980.

Tương tự với quan điểm được ghi nhận trong Công ước Viên, Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT, tại Điều 7.1.7 như sau “Bên có nghĩa vụ được miễn trừ hậu quả do việc không thực hiện của bên mình, nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện là do một trở ngại vượt khỏi tầm kiểm soát của mình, và không thể mong chờ một cách hợp lý ở mình xem xét được những trở ngại này vào thời điểm ký kết hợp đồng, dự đoán hay vượt qua được trở ngại hoặc dự đoán được hay vượt qua được hậu quả của trở ngại đó”.

Điều 156 khoản 1 BLDS 2015 của Việt Nam cũng có giải thích về sự kiện bất khả kháng theo hướng tương tự. Theo đó, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự còn có khái niệm về “trở ngại khách quan”38. Tuy nhiên, chỉ sự kiện bất khả kháng mới được coi là một trường hợp miễn trách nhiệm.

Dựa vào đặc thù của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, ngoài các bên tham gia thường sẽ có bên thứ ba tham gia. Pháp luật quốc tế cũng có quy định trường hợp miễn trách nhiệm do lỗi của người thứ ba tham gia vào quan hệ hợp đồng quốc tế. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình là do người thứ ba, mà họ nhờ thực hiện, không thực hiện được nghĩa vụ vì lý do bất khả kháng, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm theo khoản 2 Điều 79 Công ước Viên 1980. Pháp luật Việt Nam thì không có quy định chi tiết tương tự, tuy nhiên, cho phép các bên có thể tự thỏa thuận trong hợp đồng về trường hợp miễn trách nhiệm này.

38 Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình (Điều 156 khoản 1 BLDS 2015).

CÂU HỎI LÝ THUYẾT CHƯƠNG 7

1. Trình bày vấn đề chuyển giao rủi ro đối với hàng hóa được quy định trong Công ước Viên 1980 và so sánh với pháp luật Việt Nam?

2. Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu trong Công ước Viên 1980?

3. Phân tích nội dung liên quan tới hình thức của hợp đồng được quy định trong Công ước Viên 1980 và so sánh với pháp luật Việt Nam?

4. Nêu cách xác định tính quốc tế trong Công ước Viên và so sánh với pháp luật Việt Nam?

BÀI TẬP CHƯƠNG 7 Bài tp 1

A (doanh nghiệp Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán thép với B (doanh nghiệp Thái Lan). Xét các trường hợp Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế có thể điều chỉnh hợp đồng này, biết rằng Thái Lan chưa phải là thành viên Công ước này.

Bài tp 2

A (doanh nghiệp Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán gạo với B (doanh nghiệp Singapore). Hai bên lựa chọn luật áp dụng là Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế. Xét các trường hợp hợp đồng này thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên.

Bài tp 3

Doanh nghiệp A của Việt Nam ký kết hợp đồng với doanh nghiệp B của Pháp theo đó A sẽ bán cho B 3000 tấn gạo 5% tấm với giá 430USD/tấn, CIF Nice Incoterms 2000. Ngoài ra trong hợp đồng ghi rõ A phải chịu mọi rủi ro cho đến khi hàng được giao xuống cảng. Khi hàng đến Nice, phía B phát hiện thấy một số bao gạo có nấm mốc liền mời giám định đến. Giám định cũng xác nhận có 14 bao gạo có nấm mốc.

Trước tình trạng này, B không nhận hàng và không thanh toán tiền hàng.

Sau khi tiến hành thương lượng không thành, A đành phải tìm cách bán số hàng trên với giá rẻ. Hỏi:

a. B có vi phạm nghĩa vụ nhận hàng không?

b. A có vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng không? Nếu B viện dẫn lý do hàng không đúng chất lượng, B không nhận được hàng đúng hẹn, do vậy B cũng bị lỡ hẹn với đối tác trong việc giao hàng.

B kiện A phải bồi thường thiệt hại, A có phải bồi thường thiệt hại không?

c. Công ước Viên 1980 về MBHHQT có được áp dụng trong trường hợp này không? Cần phải đáp ứng các điều kiện gì? Trong trường hợp nào thì Công ước không áp dụng? Nếu không muốn Công ước áp dụng cần phải làm gì?

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 7

Văn bản pháp luật, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế 1. Bộ luật Dân sự 2015.

2. Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015.

3. Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004.

4. Công ước của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980.

5. Công ước LaHaye về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình 1955.

6. Công ước La Haye về luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1986.

7. Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ của hợp đồng.

8. Luật Thương mại 2005.

9. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Sách, giáo trình

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Tư pháp, 2007.

2. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.

Bài viết, trang thông tin điện tử

1. Đỗ Minh Ánh, “Vấn đề sửa đổi khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trong Luật Thương mại để gia nhập Công ước Viên của Liên Hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, http://

www.cisgvn.net/ ncategorized/van-de-sua-doi-khai-niem-mua-ban-hang- hoa-quoc-te-trong-luat-thuong-mai-de-gia-nhap-cong-uoc-cua-lien-hop- quoc-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te/

2. Bộ Công Thương, “Một số điều ước đa phương thường được sử dụng trong thương mại quốc tế”, http://www.lamdong.gov.vn/vi- VN/doanhnghiep/Documents/ThuongMaiQuocTe.pdf

3. Nguyễn Thị Thanh Huyến - Một số vấn đề pháp lý về áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại 2005 - http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=

com_content&view=article&id=11801:2015-05-25-10-45-41&catid=686:

tc2014-s3&Itemid=277

4. Huỳnh Thị Thu Trang và ThS. Lê Tấn Phát - Về Điều 6 Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - http://www.

hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article

&id=11758:2015-05-22-02-34-13&catid=704:s-2&Itemid=823 5. http://www.cisgvn.net/

6. http://phapluatphattrien.vn/

7. http://mutrap.org.vn/index.php/vi/

8. https://www.wto.org/

9. http://www.trungtamwto.vn/wto/wto-vietnam 10. https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/

11. http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx 12. http://tcdcpl.moj.gov.vn/Pages/home.aspx

13. http://www.nclp.org.vn/

CHƯƠNG 8

Một phần của tài liệu Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2 (Trang 155 - 162)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(283 trang)