PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
7.2. CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
7.2.4. Quy định về việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Nội dung trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chủ yếu tập trung về quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua. Cấu trúc nội dung này của Công ước Viên 1980 rất cụ thể và rõ ràng trách nhiệm của bên bán và bên mua. Đây là những vấn đề quan trọng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và đặc biệt quan trọng khi xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
7.2.4.1. Trách nhiệm của bên bán
Nghĩa vụ của bên bán tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi hợp đồng không có quy định cụ thể về nghĩa vụ của bên bán thì nghĩa vụ của bên bán sẽ được xác định theo luật áp dụng cho hợp đồng theo sự lựa chọn của các bên hoặc được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
Theo quy định của Công ước Viên 1980 thì nghĩa vụ của người bán là: Giao hàng, giao chứng từ có liên quan đến hàng hóa và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa. Các nghĩa vụ này phải thực hiện đúng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này.
a. Nghĩa vụ giao hàng
Giao hàng được coi là nghĩa vụ cơ bản nhất của người bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của người bán đều có liên quan đến và nhằm mục đích hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho người mua.
Trường hợp các bên có thỏa thuận giao hàng tại địa điểm cụ thể thì bên bán phải giao hàng cho bên mua đúng địa điểm mà đã chỉ rõ trong hợp đồng. Việc xác định địa điểm trong hợp đồng là việc làm tối thiểu phải có của hai bên và đặc biệt là bên bán. Tuy nhiên, trong trường hợp hai bên không thỏa thuận địa điểm giao hàng thì Công ước Viên đưa ra nguyên tắc xác định địa điểm giao hàng như sau:
+ Trường hợp hợp đồng mua bán liên quan đến việc vận chuyển, người bán là phải giao hàng cho người chuyên chở đầu tiên để chuyển
giao cho người mua (Mục a, Điều 31). Người vận chuyển đầu tiên do bên mua thuê. Trong trường hợp hợp đồng có kèm các điều kiện của Incoterm thì nghĩa vụ thuê người vận chuyển có thể thuộc bên bán hoặc bên mua tùy vào các điều kiện thương mại được sử dụng. Ví dụ, căn cứ vào điều kiện FOB, CIF - Incoterm 2010, nghĩa vụ của người bán là phải đặt hàng trên tàu tại cảng gửi hàng nơi có phương tiện của người vận chuyển của bên mua. Bên bán phải vận chuyển từ một điểm nội địa cho tới cảng bốc hàng để đảm bảo được hàng hóa nằm dưới quyền định đoạt của bên mua thông qua người vận chuyển đầu tiên.
+ Nếu tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên biết rằng hàng hóa đã được sản xuất tại một địa điểm cụ thể và hợp đồng không yêu cầu hay ủy quyền cho việc vận chuyển hàng hóa thì nghĩa vụ của người bán là phải đặt hàng dưới sự định đoạt của bên mua tại địa điểm sản xuất đó, hay tại địa điểm mà người bán đã giới thiệu về sản phẩm đó. Trong trường hợp này cả hai bên phải biết về vị trí cụ thể của hàng hóa sẽ được lấy ra từ một kho nào đó, hay được sản xuất tại một nơi cụ thể. Hai bên phải biết rằng hàng hóa đã tồn tại trên thực tế và có thể kiểm chứng luôn khi giao kết hợp đồng. Chính vì vậy, địa điểm giao hàng chính là nơi mà hàng hóa được lấy ra từ nơi nguồn gốc của nó hay từ lúc giới thiệu về hàng hóa trước khi ký hợp đồng.
+ Đối với các trường hợp còn lại, nghĩa vụ của bên bán là đặt hàng dưới quyền định đoạt của bên mua tại nơi bên bán có trụ sở thương mại vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Nếu bên bán có hơn một trụ sở kinh doanh thì địa điểm giao hàng được xác định theo Điều 10 Công ước Viên. Việc giao hàng tại trụ sở của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng trong một số trường hợp có thể gây bất tiện cho các bên, đặc biệt là khi hợp đồng được giao kết tại trụ sở kinh doanh của người mua hoặc tại một số địa điểm khác mà không liên quan đến trụ sở, nơi cư trú của người bán, hoặc giao kết hợp đồng vắng mặt. Hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua khi người bán đã thực hiện nghĩa vụ cần thiết của mình để bảo đảm cho người mua có quyền sở hữu hàng hóa đó. Thông thường, điều này sẽ bao gồm việc xác định các hàng hóa được giao và việc đưa ra tuyên bố nhằm cho phép người mua sở hữu hàng hóa đó.
b. Thời gian giao hàng và chuyển giao chứng từ
Điều 33 Công ước Viên có quy định về việc xác định thời gian giao hàng như sau:
+ Nếu thời gian giao hàng là một ngày cụ thể được nêu trong hợp đồng hoặc được xác định thông qua hợp đồng, có tính đến các yếu tố có liên quan như nội dung đàm phán, các cuộc trao đổi, giấy tờ liên quan,...
bên bán có nghĩa vụ giao hàng vào ngày xác định đó.
+ Nếu thời gian giao hàng là một khoảng thời gian được nêu trong hợp đồng hoặc được xác định thông qua hợp đồng, có tính đến các yếu tố liên quan nêu trên, bên mua sẽ có quyền quyết định lựa chọn một ngày trong khoảng thời gian đó để giao hàng. Đây là một quy định có lợi cho bên mua. Bên bán sẽ phải lệ thuộc vào bên mua nếu hai bên không quy định rõ ràng về thời gian giao hàng cụ thể, mà chỉ quy định một khoảng thời gian.
Trong các trường hợp khác, nếu không thể xác định được ngày giao hàng cụ thể, thì người bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý kể từ thời điểm ký kết hợp đồng.
Trong trường hợp người bán giao hàng trước thời hạn, bên mua có quyền chấp nhận hoặc từ chối việc giao hàng trước thời hạn quy định trong hợp đồng (Điều 52 khoản 2). Khi bên mua đã đồng ý nhận hàng trước thời hạn như vậy thì trong thời hạn chưa hết hạn giao hàng bên bán có thể giao hàng mới để thay cho hàng đã giao không phù hợp với hợp đồng, hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng đã giao. Với điều kiện việc khắc phục này không gây ra một phí tổn nào đối với bên mua (Điều 37). Trên thực tế quy định này làm cho việc giao hàng của bên bán được trở nên nghiêm túc hơn, và cẩn trọng hơn vì mọi hành vi của bên này có thể dẫn tới những hậu quả gây tổn thất cho bên kia, vì việc giao hàng trước có thể gây ra sự chuẩn bị không tốt hoặc dẫn tới nhầm lẫn trong kinh doanh chính vì thế mà quyền đòi bồi thường của bên mua luôn được ghi nhận. Khi bên mua chứng minh được thiệt hại hợp lý phát sinh do việc giao hàng không phù hợp, bên bán có nghĩa vụ phải bồi thường cho bên mua.
Chứng từ của hàng hóa là một phần của hàng hóa, nó làm cho hàng hóa trở nên hợp pháp, chính vì vậy việc chuyển giao giấy tờ đúng quy định của hợp đồng và của luật áp dụng được coi là một nghĩa vụ quan trọng của người bán. Mặc dù hai việc giao hàng hóa và giao chứng từ là hai hành vi hoàn toàn độc lập. Tuy nhiên, hai hành vi này lại cùng chung một mục đích đó là làm cho hàng hóa được chuyển giao đầy đủ cho bên mua và kể từ đó trách nhiệm của hàng hóa được chuyển sang cho bên mua. Khi chưa đến thời hạn giao chứng từ mà bên bán đã giao đầy đủ cho bên mua, nếu việc làm này gây thiệt hại cho bên mua thì đó là hành vi vi phạm và phải bồi thường. Trong trường hợp này bên mua phải chứng minh được hành vi của bên bán gây thiệt hại cho mình.
c. Tính phù hợp của hàng hóa
Đối tượng và chất lượng hàng hóa là những nội dung quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Bên bán phải thực hiện giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theo thỏa thuận và theo quy định của Công ước. Trong việc giao nhận hàng hóa, vấn đề xác minh hàng hóa có phù hợp với hợp đồng về đối tượng và chất lượng hay không có ý nghĩa rất quan trọng. Về nguyên tắc, phải căn cứ nội dung cụ thể của hợp đồng để xác định vấn đề này. Trong trường hợp không thể xác định được theo hợp đồng thì căn cứ vào quy định của pháp luật áp dụng đối với hợp đồng.
Theo Điều 35 Công ước Viên 1980, nếu hợp đồng không quy định cụ thể về phẩm chất hàng hóa thì hàng hóa không được coi là đủ quy cách phẩm chất khi:
+ Hàng không thích hợp cho mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng; hoặc
+ Hàng không thích hợp với bất kỳ mục đích nào mà người bán đã cho người mua biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lúc kí kết hợp đồng; hoặc
+ Hàng hóa không phù hợp với các tính chất của hàng mẫu (trong trường hợp bán hàng theo mẫu) mà người bán đã cung cấp cho người mua; hoặc
+ Hàng không được đóng trong bao bì theo cách thông thường để bảo vệ hàng hóa.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc xác định mục đích sử dụng của mặt hàng cùng loại trên thị trường thường là không dễ dàng vì mỗi mặt hàng lại có những đặc tính khác biệt và nó có thể phù hợp với thị trường này nhưng lại không phù hợp với thị trường khác. Việc chọn mặt hàng để dẫn chiếu cũng là sự tranh cãi của các bên. Chính từ sự phức tạp, khó khăn trong việc xác định chất lượng hàng hóa nên trong thực tiễn các vấn đề này thường xảy ra tranh chấp. Để hạn chế các tranh chấp có thể xảy ra các bên trong hợp đồng cần lưu ý thỏa thuận và phải ghi rõ trong hợp đồng về:
+ Phương pháp xác định chất lượng như: mô tả chất lượng, dẫn chiếu đến hàng hóa lưu thông trên thị trường hoặc theo một mẫu hàng;
+ Các phương pháp, phương tiện thiết bị, tiêu chuẩn để xác định chất lượng hàng hóa;
+ Giấy chứng nhận chất lượng hàng hóa do cơ quan nào cấp, thẩm quyền của cơ quan cấp giấy, giá trị pháp lý của giấy chứng nhận chất lượng đó;
+ Biên bản và thời hạn giám định chất lượng hàng hóa không thể chậm trễ hơn thời hạn cho phép trong hợp đồng. Biên bản giám định phải do cơ quan có thẩm quyền do pháp luật quy định hoặc được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Nếu không, khi tranh chấp xảy ra, bên kia sẽ không chấp nhận biên bản giám định đó.
Khi việc giao hàng của bên bán có một phần hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán sẽ phải chịu các biện pháp xử lý của bên mua được quy định trong Điều 46 đến Điều 50 của Công ước Viên 1980. Đó là:
+ Giao hàng thay thế, hoặc + Hủy hợp đồng, hoặc
+ Giảm giá hàng hóa đối với phần hàng không phù hợp với hợp đồng.
Bên cạnh đó, bên mua được quyền đòi bồi thường thiệt hại đối với những chi phí phát sinh do hành vi vi phạm của bên bán gây ra.
Trường hợp bên bán giao hàng vượt số lượng theo hợp đồng, bên mua có quyền lựa chọn chấp nhận hay từ chối số lượng phụ trội đó. Tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh doanh hay mối quan hệ của các bên mà bên mua quyết định việc chấp nhận hay không. Nếu bên mua không chấp nhận thì bên bán phải chuyển hàng về và chỉ được thanh toán tiền hàng đúng với số lượng đã thỏa thuận. Ngoài ra, nếu việc giao hàng vượt số lượng này gây ra một khoản phí tổn không đáng có nào đó (phí vận chuyển, phí bảo hiểm...) thì bên bán phải hoàn toàn chịu. Nếu bên mua chấp nhận nhận số hàng phụ trội có thể là toàn bộ hoặc một phần đó thì bên mua phải thanh toán đầy đủ tiền hàng đối với số hàng phụ trội đó theo giá quy định của hợp đồng.
Bên mua có quyền được kiểm tra hàng hóa khi nhận. Thời gian và địa điểm kiểm tra hàng hóa có thể được các bên thỏa thuận trước trong hợp đồng. Nếu hợp đồng không quy định thì bên mua phải kiểm tra hàng hóa và đảm bảo sự kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà thực tế có thể làm được. Thời gian hợp lý là tùy theo từng loại hàng hóa hoặc nó được xác định theo tập quán, thói quen của các bên.
Địa điểm kiểm tra hàng hóa có thể được quy định khác nhau tùy vào từng trường hợp.
Trong trường hợp hợp đồng có quy định về việc chuyên chở hàng hóa, thì việc kiểm tra hàng hóa có thể dời lại đến lúc hàng tới nơi đến.
Nếu địa điểm đến của hàng hóa bị thay đổi khi hàng hóa đang trên đường vận chuyển tới hoặc hàng hóa được bên mua gửi đi tiếp và bên mua không có khả năng hợp lý để kiểm tra hàng hóa, còn bên bán đã biết hay đáng lẽ phải biết, về khả năng đổi lộ trình hay gửi tiếp đi của hàng hóa, khi giao kết hợp đồng, thì việc kiểm tra hàng được dời đến khi hàng hóa tới nơi đến mới.
Trong trường hợp bên bán giao hàng cho người chuyên chở nhưng mặt hàng đó không được quy định chi tiết bằng cách ghi ký hiệu trên hàng hóa, bằng các chứng từ chuyên chở hay bằng một cách nào đó, thì bên bán phải có nghĩa vụ thông báo những thay đổi, những chỉ dẫn về hàng hóa được gửi kèm theo cho bên mua biết để họ có thể kiểm tra hàng hóa tốt nhất (Điều 32 Công ước Viên 1980).
Những trách nhiệm như cung cấp giấy tờ để bảo hiểm cho hàng hóa hay chuẩn bị, thu xếp một cách tốt nhất để bên mua vận chuyển hàng hóa trong trường hợp hợp đồng không quy định, là những hành động tối thiểu cần được bảo đảm thực hiện trong quan hệ giữa các bên, được Công ước Viên quy định rõ.
d. Bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa
Quyền sở hữu đối với một tài sản bao gồm các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Như vậy, khi bên mua thực sự là chủ sở hữu đối với hàng hóa mua được thì họ phải có được những quyền về chiếm hữu, định đoạt và sử dụng hàng hóa đó.
Để đảm bảo những quyền sở hữu đối với hàng hóa của bên mua, bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa không bị ràng buộc bởi bất cứ quyền hạn nào của người thứ ba, bao gồm cả các quyền sở hữu công nghiệp hay các quyền về sở hữu trí tuệ khác mà bên bán đã biết hoặc không thể không biết vào thời điểm giao kết hợp đồng. Một hàng hóa không bị ràng buộc bởi bên thứ ba về quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ khác khi hàng hóa đó đã tuân thủ các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của pháp luật quốc gia bên bán, của pháp luật về sở hữu trí tuệ quốc tế và pháp luật sở hữu trí tuệ của quốc gia bên mua (khoản 1 Điều 42).
Tuy nhiên, Công ước Viên cũng quy định các trường hợp bên bán không chịu trách nhiệm về bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa (khoản 2 Điều 42). Đó là các trường hợp sau:
+ Tại thời điểm giao kết, bên mua đã biết hoặc không thể không biết về sự tồn tại quyền của bên thứ ba đối với hàng hóa đó.
+ Quyền của bên thứ ba đối với hàng hóa đó xuất phát từ việc bên mua tuân thủ sơ đồ kỹ thuật, hình vẽ, công thức hoặc những hướng dẫn tương tự đặc thù được cung cấp bởi bên mua.
Trường hợp người thứ ba có quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tài sản mua bán thì bên mua có quyền hủy hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại theo Điều 41, 42, 43 Công ước Viên.
e. Bảo quản hàng hóa
Do đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa nên pháp luật còn đưa ra các quy định về việc bảo quản hàng hóa nhằm đảm bảo lợi ích của các bên. Tại Công ước Viên 1980, việc bảo quản hàng hóa được đặt ra đối với bên bán khi hàng còn nằm dưới quyền kiểm soát và định đoạt của bên bán, hoặc trong trường hợp bên mua chậm trễ nhận hàng hoặc không trả tiền, hoặc trong những trường hợp mà việc giao hàng và trả tiền cùng thực hiện một lúc. Trong những trường hợp này, bên bán phải thực hiện những biện pháp hợp lý để bảo quản hàng hóa (Điều 85).
Nếu bên mua có ý định sử dụng quyền từ chối không nhận hàng chiếu theo hợp đồng được ký kết thì bên mua phải tiến hành các biện pháp hợp lý để bảo quản hàng hóa (Điều 86). Bên mua có quyền giữ lại hàng hóa cho tới khi bên bán hoàn trả cho họ các chi phí hợp lý.
Trường hợp bên có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa không có điều kiện thực hiện các biện pháp bảo quản hàng thì có thể giao hàng vào kho của bên thứ ba. Lúc này chi phí bảo quản hàng hóa sẽ do bên kia chịu, với điều kiện các chi phí này phải hợp lý. Đối với hàng hóa thuộc loại mau hỏng, bên có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa, trong trường hợp đã tiến hành các biện pháp bảo quản hợp lý nhưng việc bảo quản gây ra các chi phí lớn (bất hợp lý), có quyền bán hàng hóa đi. Tuy nhiên, bên này có nghĩa vụ thông báo cho bên kia biết, trong khả năng của mình, về ý định phát mại đó.
Ngoài ra, bên có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa cũng có quyền bán hàng hóa đó khi bên kia chậm trễ một cách phi lý trong việc tiếp nhận hàng hóa hoặc lấy lại hàng hoặc trong việc trả tiền hàng hay trả các chi phí bảo quản, với điều kiện phải thông báo cho bên kia biết về việc làm đó.
f. Thời điểm chuyển rủi ro
Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thường gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là trong quá trình chuyển giao hàng hóa. Vì hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan chặt chẽ đến hợp đồng vận chuyển và hàng hóa thường bị mất mát, hư hỏng trong quá trình chuyên chở, do vậy, việc xác định thời điểm chuyển rủi ro vừa có ý nghĩa pháp lý, vừa có ý nghĩa thực tiễn hết