PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
7.2. CÔNG ƯỚC CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
7.2.5. Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trong hoạt động thực tiễn, việc một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của hợp đồng luôn có thể xảy ra.
Tình trạng này được coi là một sự vi phạm hợp đồng. Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là việc một bên không thực hiện, thực hiện
không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, như không thực hiện nghĩa vụ giao hàng, thanh toán, không giao đủ số lượng hàng hóa,… Hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ để xác định trách nhiệm của bên vi phạm. Trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các biện pháp được thực hiện nhằm buộc bên vi phạm phải tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc/và khắc phục những hậu quả do việc vi phạm hợp đồng gây ra. Dưới đây là một số loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đang được áp dụng trên thế giới.
7.2.5.1. Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là trách nhiệm của bên vi phạm phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng với bên bị vi phạm. Quyền yêu cầu buộc thực hiện đúng hợp đồng không bắt buộc phải được thỏa thuận trước trong hợp đồng. Vì bản chất của buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp đảm bảo cho mục đích của hợp đồng được thực hiện. Buộc thực hiện đúng hợp đồng có thể được thực hiện giữa các bên trong hợp đồng với nhau hoặc thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp sau này.
Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng đối với người mua và người bán như sau:
+ Đối với người bán, trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc người bán phải giao hàng thay thế trong thời hạn hợp lý, nếu hàng không phù hợp với quy định của hợp đồng. Tuy nhiên, người mua chỉ được quyền yêu cầu người bán thực hiện trách nhiệm này khi sự không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản của hợp đồng. Sự vi phạm cơ bản của hợp đồng về điều khoản hàng hóa có thể là hàng kém chất lượng, trọng lượng,… Yêu cầu về việc thay thế hàng hóa phải được đưa ra cùng lúc, hoặc trong một thời gian hợp lý sau đó, với việc thông báo về việc không phù hợp của hàng hóa, kể từ khi người mua phát hiện ra hoặc lẽ ra phải phát hiện ra sự không phù hợp đó. Mọi chi phí về việc sửa chữa, thay thế và những thiệt hại gây ra cho người mua sẽ thuộc trách nhiệm của người bán.
+ Đối với người mua, trường hợp người mua vi phạm các nghĩa vụ của mình, người bán có quyền yêu cầu người mua thanh toán, nhận hàng, hay thực hiện các nghĩa vụ khác của người mua, trừ trường hợp người bán đã sử dụng một chế tài không thích hợp với các yêu cầu đó (ví dụ như hủy hợp đồng). Người bán có thể chấp nhận cho người mua một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp người bán nhận được thông báo của người mua cho biết sẽ không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn ấn định thêm. Trong thời hạn ấn định thêm cho người mua thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, người bán không được áp dụng bất cứ một chế tài vi phạm hợp đồng nào khác, trừ quyền đòi bồi thường thiệt hại vì người mua chậm thực hiện nghĩa vụ.
Bộ nguyên tắc UNIDROIT cũng có quy định tương tự. Theo đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu phía bên kia thực hiện nghĩa vụ thanh toán, thực hiện một công việc, sửa chữa hoặc đổi vật,… Bên vi phạm cũng có quyền thay đổi biện pháp xử lý trong trường hợp bên kia vẫn tiếp tục không thực hiện yêu cầu.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh (Điều 297 - Luật Thương mại 2005).
So với các biện pháp khác, buộc thực hiện đúng hợp đồng thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ phải làm của bên không thực hiện. Biện pháp này có thể được áp dụng khi chưa có thiệt hại xảy ra. Xuất phát từ việc không thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng mà có thể dẫn tới việc làm phát sinh các biện pháp khác như bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, tạm ngừng, đình chỉ và hủy hợp đồng.
7.2.5.2. Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là một trong những chế định quan trọng được quy định thành một mục trong Công ước Viên. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra đối với bên vi phạm nhằm bảo đảm bù đắp cho những thiệt hại xảy ra đối với bên bị thiệt hại. Biện pháp này có thể được thực hiện độc lập hoặc được thực hiện cùng các biện pháp khác.
Bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường những tổn thất do xảy ra hành vi vi phạm gây ra. Công ước Viên 1980 quy định tiền bồi thường thiệt hại là khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên bị vi phạm phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Còn pháp luật Việt Nam quy định phạm vi thiệt hại được đền bù bao gồm hai loại giá trị tổn thất thực tế mà bên bị vi phạm phải gánh chịu và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều 302 Luật Thương mại 2005). Điểm chung của Công ước Viên 1980 và Luật Thương mại của Việt Nam đều quy định bên bị thiệt hại được yêu cầu bồi thường bao gồm khoản tiền thực tế, trực tiếp bị tổn thất và khoản lợi ích đáng lẽ được hưởng nếu thực hiện đúng hợp đồng.
Tương tự, Bộ nguyên tắc UNIDROIT có cách xác định phạm vi bồi thường thiệt hại rộng hơn so với Công ước Viên 1980. Theo Bộ nguyên tắc UNIDROIT, “bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường toàn bộ những thiệt hại từ việc không thực hiện nghĩa vụ của bên gây ra thiệt hại đó”. Bồi thường toàn bộ thiệt hại sẽ bao gồm cả những thiệt hại về vật chất (tổn thất và lợi ích) và phi vật chất (bắt nguồn từ nỗi đau thể chất hoặc tinh thần).
Điểm chung của các văn bản này là đều quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ và khoản tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ.
Khi đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, bên bị thiệt hại có nghĩa vụ chứng minh những thiệt hại xảy ra là có trên thực tế hoặc chắc chắn gặp phải trong thực tế. Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Đặc biệt, Công ước Viên 1980, tại Điều 77, quy định rằng trường hợp xảy ra tổn thất thì bên bị thiệt hại phải áp dụng những biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất, kể cả khoản lợi bỏ lỡ do hành vi vi phạm hợp đồng. Nếu bên bị thiệt hại không làm việc đó thì bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại mà bên có quyền lẽ ra có thể hạn chế được bằng những biện pháp hợp lý (Điều 77 Công ước Viên 1980).
Tương tự với quy định Công ước Viên, Luật Thương mại của Việt Nam cũng có quy định đối với nghĩa vụ hạn chế tổn thất này, để tránh trường hợp bên bị thiệt hại cố tình không khắc phục hậu quả nhằm đòi khoản tiền bồi thường cao hơn. Trường hợp nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất thì bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được (Điều 305 Luật Thương mại 2005). Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (PICC) cũng quy định tương tự như Công ước Viên và Luật Thương mại Việt Nam. Ngoài ra, PICC còn quy định rõ về đồng tiền tính thiệt hại và khoản tiền bồi thường phải được ấn định trước cho việc vi phạm hợp đồng. Theo Điều 7.4.12 PICC, thiệt hại được tính hoặc bằng đồng tiền quy định trong điều khoản về nghĩa vụ thanh toán, hoặc bằng đồng tiền tại nơi thiệt hại phát sinh, tuỳ theo đồng tiền nào thích hợp nhất. Quy định này làm giảm bớt tranh chấp giữa các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh khoản tiền bồi thường thiệt hại. Vì thực tế, các bên tham gia vào hợp đồng thương mại quốc tế thường là các bên có quốc tịch khác nhau, sử dụng đồng tiền khác nhau. Do đó, khi tham gia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế, các bên thường phải thỏa thuận với nhau về đồng tiền sử dụng trong nghĩa vụ thanh toán cả đối với trường hợp bồi thường thiệt hại nếu có.
7.2.5.3. Ngừng thực hiện hợp đồng
Là một trong các biện pháp được sử dụng khi có hành vi vi phạm được quy định. Khi thực hiện biện pháp này, hợp đồng vẫn phát sinh hiệu lực, các bên vẫn có nghĩa vụ thực hiện các cam kết của hợp đồng tuy việc thực hiện nghĩa vụ được tạm ngừng cho đến khi hành vi vi phạm kết thúc hoặc khi thiệt hại do hành vi vi phạm được khắc phục.
Pháp luật quốc tế đưa ra các căn cứ để các bên được phép ngừng thực hiện hợp đồng trong trường hợp các bên không có thỏa thuận. Điều 71 Công ước Viên 1980 quy định một bên có thể ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho thấy rằng, sau khi hợp đồng được ký kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ yếu những nghĩa vụ của họ, bởi lẽ:
+ Một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng.
+ Cung cách làm việc của bên kia trong việc chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng.
Những khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay trong khi thực hiện như không đủ cơ sở vật chất, kỹ thuật, điều kiện máy móc để thực hiện hoặc không đủ năng lực thực hiện,… hoặc thể hiện trong cung cách làm việc trong việc chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng như thái độ không thực hiện hoặc không có ý thức thực hiện hợp đồng… Khi nhận thấy bên đối tác có những dấu hiệu nêu trên, bên kia có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Về vấn đề này, pháp luật Việt Nam quy định tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau (Điều 308 Luật Thương mại 2005):
+ Khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng;
+ Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng.
Việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng có giá trị pháp lý nếu trong hợp đồng các bên có thỏa thuận điều kiện để một hành vi vi phạm là cơ sở để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc có sự vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng nếu các bên không có thỏa thuận. Vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng là việc vi phạm của một bên làm cho mục đích giao kết hợp đồng không đạt được. Hậu quả pháp lý của hợp đồng khi bị tạm ngừng thực hiện là hợp đồng không bị chấm dứt mà vẫn có hiệu lực. Trong khoảng thời gian tạm ngừng thực hiện hợp đồng, các bên sẽ ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình. Do pháp luật không có quy định nên khoảng thời gian tạm ngừng này dựa trên cơ sở thỏa thuận của các bên. Ngoài ra, biện pháp này có thể được áp dụng kèm theo chế tài bồi thường thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại được đặt ra khi hành vi vi phạm hợp đồng gây ra thiệt hại cho bên kia. Bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên gây ra thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
Tương tự Công ước Viên, Bộ nguyên tắc UNIDROIT có quy định về quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ của họ. Khi một bên phải thực hiện nghĩa vụ sau bên kia, thì có quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình trong trường hợp bên đó chưa thực hiện nghĩa vụ của họ (Điều 7.1.3). Có thể thấy Bộ nguyên tắc UNIDROIT có quy định khác với Luật Thương mại của Việt Nam về trường hợp được phép tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Bộ nguyên tắc UNIDROIT căn cứ vào việc một bên xét thấy phía bên kia chưa chuẩn bị thực hiện nghĩa vụ thì họ sẽ tạm thời ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình.
Ví dụ như thương nhân A và thương nhân B thỏa thuận vào ngày 15/2/2014 thương nhân A giao hàng cho thương nhân B thì thương nhân B sẽ chuyển một nửa khoản tiền thanh toán cho thương nhân A. Nhưng đến ngày 15/2/2014, vì không thấy thương nhân A giao hàng nên thương nhân B có quyền tạm ngừng việc thanh toán. Một ví dụ khác, thương nhân Việt Nam ký kết hợp đồng với thương nhân Pháp, hai bên thỏa thuận rằng sau khi có xác nhận là thương nhân Việt Nam giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên thì thương nhân Pháp sẽ trả tiền. Nhưng khi đến ngày thực hiện nghĩa vụ, dù thương nhân Pháp không nhận được bất kỳ một thông báo nào về việc thương nhân Việt Nam đã giao hàng thì thương nhân Pháp vẫn có quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình. Bộ nguyên tắc UNIDROIT thừa nhận quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng của các bên mà không cần có sự thông báo đối với bên kia. Ngược lại, pháp luật của Việt Nam quy định việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng phải được thông báo cho bên kia biết. Trong trường hợp không thông báo ngay gây thiệt hại cho bên kia thì bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng phải bồi thường thiệt hại (Điều 315 Luật Thương mại 2005).
7.2.5.4. Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Nếu tạm ngừng thực hiện hợp đồng là chỉ tạm thời hoãn việc thực hiện hợp đồng trong khoảng thời gian do các bên thỏa thuận ấn định, thì đình chỉ thực hiện hợp đồng là chấm dứt hiệu lực của hợp đồng tại thời điểm nhất định.
Công ước Viên 1980 cũng đưa ra yêu cầu phải thông báo về việc đình chỉ thực hiện hợp đồng. Bên yêu cầu đình chỉ thực hiện hợp đồng,
không phụ thuộc vào việc đình chỉ thực hiện hợp đồng xảy ra trước hay sau khi hàng gửi, phải gửi ngay thông báo đình chỉ thực hiện hợp đồng cho bên kia. Tuy nhiên, trong trường hợp bên kia đã cung cấp những bảo đảm đầy đủ cho việc thực hiện nghĩa vụ của họ thì bên muốn đình chỉ thực hiện hợp đồng không có quyền đình chỉ việc thực hiện nữa mà phải tiếp tục thực hiện hợp đồng đó.
Nếu bên bán đã gửi hàng đi trước khi phát hiện những căn cứ để ngừng thực hiện hợp đồng thì họ có thể ngăn chặn không để hàng hóa được giao cho bên mua, ngay cả khi bên mua có trong tay chứng từ cho phép họ nhận hàng. Khi việc đình chỉ thực hiện hợp đồng là có căn cứ thì bên không thực hiện những nghĩa vụ chủ yếu, sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.
So sánh với pháp luật Việt Nam, đình chỉ thực hiện hợp đồng được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ thực hiện hợp đồng;
- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng.
Như vậy, các bên có thể thỏa thuận về việc đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc ngay cả khi không có sự thỏa thuận, đình chỉ thực hiện hợp đồng vẫn có thể được thực hiện khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng. Tuy nhiên, đình chỉ thực hiện hợp đồng cũng có đặc điểm khác biệt so với tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Hậu quả pháp lý của hợp đồng khi bị đình chỉ là chấm dứt tại thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ (Điều 309 Luật Thương mại 2005). Bên yêu cầu đình chỉ thực hiện hợp đồng phải thông báo cho bên kia về việc đình chỉ này.
Tương tự với tạm ngừng thực hiện hợp đồng, pháp luật Việt Nam cũng quy định trường hợp không thông báo thì phải bồi thường nếu việc đình chỉ gây ra thiệt hại cho bên được yêu cầu.
Việc đình chỉ thực hiện hợp đồng làm chấm dứt nghĩa vụ của các bên. Đình chỉ thực hiện hợp đồng phát sinh sau khi hợp đồng đã giao kết hoặc các bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, khi đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên đã thực hiện nghĩa vụ