VÀ VẬN TẢI QUỐC TẾ
8.1. PHÁP LUẬT VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ
8.1.2. Nguồn luật điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ
Biết rằng pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng hoàn toàn độc lập với pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa. Dù thư tín
dụng được hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán hàng hóa, bởi người yêu cầu mở tín dụng sẽ phải dựa trên cơ sở của hợp đồng mua bán đã ký kết để viết yêu cầu mở thư tín dụng, cũng như các tiêu chí để thanh toán thư tín dụng, nhưng thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. Trong quá trình thực hiện thư tín dụng, ngân hàng không có nghĩa vụ phải xem xét việc thực hiện hợp đồng mua bán mà chỉ căn cứ vào việc kiểm tra bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản của thư tín dụng. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, thư tín dụng là cam kết độc lập giữa ngân hàng và người yêu cầu về việc trả tiền cho người thụ hưởng. Về bản chất, đây là quan hệ hợp đồng dịch vụ giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành. Do vậy, quan hệ thư tín dụng hoàn toàn phân biệt với quan hệ mua bán hàng hóa. Khi đó, việc các bên đã lựa chọn được một loại pháp luật để điều chỉnh quan hệ mua bán giữa họ không thể dẫn đến việc xác định pháp luật đó là pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng.
8.1.2.1. Luật do các bên lựa chọn
Pháp luật của Liên minh châu Âu cũng như pháp luật của quốc gia thành viên đều tôn trọng thỏa thuận này của các bên. Điều 3 khoản 1 Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ của hợp đồng45 nêu rõ các bên được quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh hợp đồng, miễn là sự lựa chọn này phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng.
Công ước Rome cũng cho phép các bên được quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho một phần hoặc toàn bộ hợp đồng. Tuy nhiên, trong thực tế, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP, mà không quy định pháp luật quốc gia để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ.
Pháp luật Việt Nam cũng công nhận và tôn trọng sự thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên với quy định của luật chung (Điều 683 Bộ luật Dân sự 2015) và của luật chuyên ngành (pháp luật ngân hàng). Trong lĩnh vực thanh toán, quyền tự do thỏa thuận của các bên, giới hạn ở các tập quán thương mại. Điều 3 khoản 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động ngân
45 Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ của hợp đồng là điều ước quốc tế được áp dụng cho tất cả các thành viên của Liên minh châu Âu.
hàng được quyền thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại, bao gồm:
a) Tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành;
b) Tập quán thương mại khác không trái với pháp luật Việt Nam”. Như vậy, nếu các bên thỏa thuận UCP là luật điều chỉnh quan hệ tín dụng giữa các bên thì thỏa thuận này được pháp luật Việt Nam công nhận với tư cách là tập quán thương mại quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế ban hành. Trong Luật các tổ chức tín dụng không có điều khoản nào cho phép các bên được quyền lựa chọn pháp luật quốc gia khác để điều chỉnh. Nếu căn cứ vào khoản 1 và 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng, có thể thấy nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành so với luật chung được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng. Do vậy, trong quan hệ tín dụng các bên sẽ chỉ tuân theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác, là không cho phép các bên quyền thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, mà chỉ cho phép thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại như đã nêu ở trên. Thực tế các thư tín dụng do các ngân hàng ở Việt Nam phát hành cũng đều chỉ chứa đựng điều khoản quy định áp dụng UCP mà không đề cập đến pháp luật quốc gia nào khác để điều chỉnh.
8.1.2.2. Luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận lựa chọn Trong thực tế, các tín dụng chứng từ được lưu thông thường không quy định pháp luật nào sẽ được áp dụng để điều chỉnh. Do vậy, để có thể xác định được nguồn luật điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ, cần phải căn cứ vào quy phạm xung đột pháp luật trong các công ước quốc tế hoặc trong pháp luật quốc gia.
Quan hệ tín dụng chứng từ về bản chất là quan hệ hợp đồng. Do vậy, quan hệ tín dụng chứng từ sẽ được điều chỉnh trên cơ sở pháp luật về hợp đồng. Khi đó các quy phạm xung đột pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng sẽ được sử dụng để xác định luật điều chỉnh cho quan hệ thư tín dụng chứng từ. Ví dụ, trong quan hệ giữa các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, quan hệ tín dụng chứng từ được điều chỉnh bởi Công ước Rome 1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng. Công ước Rome 1980 quy định, khi các bên có liên quan không lựa chọn luật áp dụng theo các quy định của Công ước Rome thì hợp đồng sẽ do pháp luật của nước mà
hợp đồng đó có “mối liên hệ mật thiết nhất” điều chỉnh (Điều 4 khoản 1).
Hợp đồng có “mối liên hệ mật thiết nhất” với quốc gia mà bên phải thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính (Điều 4 khoản 2). Do vậy, khi áp dụng Công ước Rome, trước tiên cần phải xác định nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng chứng từ thì mới có thể xác định được luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ này.
Để biết được nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng chứng từ, cần phải xác định được rõ mối quan hệ của các bên khi tham gia quan hệ này.
Mối quan hệ này có sự khác nhau tùy vào các trường hợp khác nhau. Có thể chia thành hai trường hợp:
+ Trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng phát sinh tranh chấp: Ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hoặc ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng.
Trong trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ tín dụng thì việc xác định luật áp dụng sẽ đơn giản hơn trường hợp có nhiều ngân hàng ở các quốc gia tham gia vào quan hệ tín dụng. Có ba lựa chọn có thể được xem xét: Luật của nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở hoặc luật của nước nơi ngân hàng xác nhận có trụ sở, luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng và luật của nước nơi người yêu cầu mở thư tín dụng có trụ sở hoặc luật của nước nơi người thụ hưởng có trụ sở, nếu các bên không có sự thỏa thuận.
Căn cứ vào Điều 4 khoản 2 Công ước Rome, luật của ngân hàng phát hành (trong mối quan hệ ngân hàng phát hành và người thụ hưởng) và luật của ngân hàng xác nhận (trong mối quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng) sẽ phù hợp hơn với tiêu chí này. Bởi trong quan hệ tín dụng, hoạt động của ngân hàng phát hành tín dụng hoặc của ngân hàng xác nhận là nhằm thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng chứng từ. Đó là hành động từ chối hoặc thanh toán của ngân hàng sau khi kiểm tra chứng từ, chứ không phải là hành động chuyển tiền vào tài khoản. Do đó, phải áp dụng luật của nước nơi có ngân hàng phát hành hoặc nơi có ngân hàng xác nhận. Pháp luật của một số nước như Pháp, Thụy Sỹ và Anh cũng theo xu hướng trên.
+ Trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng phát sinh tranh chấp: Khi có nhiều ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau cùng tham gia vào quan hệ tín dụng, thì việc xác định luật áp dụng trở nên phức tạp. Ví dụ, một ngân hàng ở Ấn độ đã phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là một công ty có trụ sở tại London (Anh) nhằm thanh toán hợp đồng mua bán sản phẩm luyện kim. Thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng khác của Ấn độ, có chi nhánh tại London. Ngân hàng xác nhận đã thanh toán khoản tiền theo thư tín dụng.
Sau đó, ngân hàng phát hành phát hiện ra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình là giả mạo và đã từ chối trả tiền cho ngân hàng xác nhận. Tranh chấp xảy ra sẽ do pháp luật quốc gia nào điều chỉnh? Việc xác định luật áp dụng sẽ phụ thuộc vào các mối quan hệ cụ thể phát sinh trong quan hệ tín dụng chứng từ.
Nếu như tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ giữa ngân hàng thông báo và ngân hàng xác nhận, thì cần phải xác định bản chất của mối quan hệ này và tìm ra nghĩa vụ đặc thù của nó. Cụ thể, có thể thấy nghĩa vụ đặc thù của quan hệ này là nghĩa vụ xác nhận thư tín dụng. Do vậy, luật được áp dụng ở đây phải là luật của nước nơi có ngân hàng xác nhận.
Trong vụ việc này, chi nhánh của ngân hàng Ấn Độ cam kết xác nhận thư tín dụng. Chi nhánh này là ở Anh nên luật của Anh sẽ được áp dụng để điều chỉnh.
Nếu tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ giữa người thụ hưởng và ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng thanh toán thì luật được áp dụng sẽ phải là luật của nước nơi ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng phát hành có trụ sở hoặc có chi nhánh thực hiện giao dịch. Pháp luật của Singapore cũng có xu hướng áp dụng luật có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng. Theo các thẩm phán Singapore, đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nơi thanh toán thư tín dụng. Thư tín dụng chỉ được thanh toán khi ngân hàng phát hành chấp nhận chứng từ.
Tóm lại, pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như công ước quốc tế về luật áp dụng đối với nghĩa vụ của hợp đồng đều hướng về luật của nước nơi có ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đặc thù trong các
quan hệ tín dụng cụ thể. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại có một số quy định khác biệt trong lĩnh vực này.
Căn cứ vào Điều 683 BLDS 2015 của Việt Nam, khi các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ mật thiết nhất với hợp đồng đó được áp dụng. Để xác định được pháp luật nước có mối liên hệ gắn bó nhất đối với hợp đồng, pháp luật Việt Nam cũng đưa ra một số nguyên tắc xác định tại Điều 683 khoản 2 như sau:
+ Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa;
+ Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ;
+ Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ;
+ Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động. Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân;
+ Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng.
Áp dụng cho quan hệ tín dụng, có thể xác định pháp luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng là pháp luật của nước nơi pháp nhân cung cấp dịch vụ được thành lập, tức là pháp luật nơi ngân hàng thực hiện dịch vụ cung cấp phương tiện thanh toán. Quy định này đã khắc phục hạn chế của pháp luật Việt Nam trước đây khi căn cứ vào pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Bởi quan hệ tín dụng là quan hệ phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể và được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau với các quan hệ khác nhau. Ngoài ra, trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Trong trường hợp không có sự thỏa thuận giữa các bên thì
địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo pháp luật Việt Nam trước đây, là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản. Kết quả việc xác định này thường là luật của nước nơi có trụ sở hoặc cư trú của người thụ hưởng chứ không phải là pháp luật của nước nơi có ngân hàng phát hành, thông báo hoặc xác nhận thư tín dụng. Quy định mới của BLDS 2015 cũng phù hợp với thông lệ quốc tế về xác định pháp luật áp dụng cho các quan hệ tín dụng.