Nối tiếp phần 1, phần 2 của Giáo trình Thương mại quốc tế do PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên chủ biên có nội dung gồm 5 chương tiếp tục trình bày về: thuế quan - một công cụ hạn chế thương mại quốc tế, các hàng rào thương mại phi thuế quan và các khía cạnh kinh tế của chính sách thương mại, thương mại quốc tế và sự phát triển kinh tế,... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1Giáo trình Thương mại Quốc tế - 113-
CHƯƠNG 4 THUẾ QUAN – MỘT CÔNG CỤ HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Chương này giới thiệu về thuế quan (Tariff), một công cụ được sử dụng để hạn chế thương mại quốc tế và phân tích tác động của thuế quan tới nước có liên quan Thực tế cho thấy các chính phủ các quốc gia thực sự không tôn trọng tự do thương mại, mặc dù buôn bán tự do là hình thức buôn bán hiệu quả và hợp lý nhất đối với người tiêu dùng Các nhà hoạch định chính sách đã tạo ra những công cụ khác nhau để hạn chế sự tự do di chuyển hàng hóa và dịch vụ Một công cụ quan trọng nhất và cổ điển nhất để hạn chế thương mại
tự do và bảo hộ đối với sản xuất trong nước là thuế quan Thuế quan làm tăng giá hàng nhập khẩu và từ đó làm cho giá hàng nhập khẩu kém cạnh tranh hơn
4.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ QUAN
4.1.1 Khái niệm
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thuế quan Theo Từ điển Chính sách thương mại
quốc tế, thuế quan là nghĩa vụ nộp hoặc thuế đánh vào hàng hóa tại biên giới khi hàng
hóa đi từ một lãnh thổ hải quan (thông thường là một nước) sang lãnh thổ hải quan
khác Hoặc theo Dominick Salvatore: “Thuế quan là một loại thuế đánh vào hàng hóa khi nó
được vận chuyển xuyên qua biên giới quốc gia” Thuế quan là một biện pháp hay công cụ
quan trọng nhất và mang tính cổ điển nhất để thực hiện chính sách thương mại và bảo
hộ thị trường nội địa
4.1.2 Phân loại
Thuế quan có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau Theo mục đích đánh thuế, thuế quan được chia thành hai loại: thuế quan tài chính và thuế quan bảo hộ Gọi là thuế quan tài chính, bởi vì thông qua việc đánh thuế nhằm đem lại nguồn thu cho ngân sách Gọi là thuế quan bảo hộ, bởi vì thông qua việc đánh thuế nhằm bảo hộ đối với nền sản xuất trong nước
Theo đối tượng đánh thuế, thuế quan được chia thành ba loại: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế quá cảnh Thuế xuất khẩu là thuế đánh vào hàng hóa hoặc nguyên vật liệu ở thời điểm chúng rời lãnh thổ hải quan quốc gia Những lý do để đánh thuế xuất khẩu là nhằm tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, đẩy mạnh hơn nữa việc
Trang 2Giáo trình Thương mại Quốc tế - 114-
gia công hàng hóa trong nước, hình thành một chính sách đảm bảo rằng các nguyên vật liệu khan hiếm và cần thiết cho nền sản xuất trong nước phải được dự trữ ở mức tối đa cho công nghiệp nội địa Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào sản phẩm nhập khẩu tại biên giới Thuế quá cảnh là thuế đánh vào hàng hóa khi đi qua lãnh thổ của một nước trung gian
Theo phương pháp tính thuế, thuế quan được chia thành ba loại: thuế quan tính theo số lượng (còn gọi là thuế đặc định - specific tariff), thuế quan tính theo giá trị (Ad valorem tariff) và thuế quan hỗn hợp Đại đa số các quốc gia sử dụng phương pháp thuế quan tính theo giá trị Do nhiều nước ít đánh thuế vào hàng hóa xuất khẩu, hoặc nếu đánh thuế thì cũng đánh rất ít vào các sản phẩm xuất khẩu nên khi nói đến thuế quan là đồng nghĩa với thuế nhập khẩu
4.2 THUẾ NHẬP KHẨU
4.2.1 Thuế đặc định
Thuế được thể hiện bằng một khoản tiền cụ thể đánh vào một hàng hóa nhập khẩu cụ thể Thuế đặc định là một loại thuế nhập khẩu quy định: một lượng tiền thuế cố định tính trên một đơn vị hàng hóa nhập khẩu Ví dụ, thuế đặc định này có thể là 20 đôla trên một tấn hàng hóa nhập khẩu Tổng tiền bị đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu tương ứng với số lượng đơn vị hàng hóa đưa vào quốc gia nhập khẩu và không tính theo giá cả hoặc giá trị của hàng nhập khẩu
Cơ quan thuế có thể dễ dàng thu thuế đặc định vì họ chỉ cần biết số lượng hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia, chứ không phải là một lượng tiền Tuy nhiên, thuế đặc định cũng có một trở ngại khá lớn để bảo hộ các nhà sản xuất trong nước, đó là vì giá trị bảo hộ tỷ lệ nghịch với giá của hàng nhập khẩu Nếu giá nhập khẩu của nhà sản xuất nước ngoài là 5 đôla và thuế là 1 đôla trên một đơn vị, mức thuế này tương đương với 20% giá cả hàng hóa Tuy nhiên, nếu lạm phát xảy ra và giá nhập khẩu tăng lên 10 đôla, thuế nhập khẩu lúc này chỉ tương ứng là 10% của giá trị hàng nhập khẩu Các nhà sản xuất trong nước có thể cảm thấy rằng loại thuế này không thực hiện được công việc bảo
hộ (sau khi lạm phát xảy ra) như nó thường được sử dụng, tuy nhiên lợi ích của người tiêu dùng tăng lên Lạm phát xảy ra trong và sau thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai và tái diễn dưới dạng khủng khoảng lớn vào những năm cuối thập niên 1970, đầu thập niên
1980 đã khiến các quốc gia không còn chú trọng đến loại thuế này, song nó vẫn được áp dụng với nhiều mặt hàng
Trang 3Giáo trình Thương mại Quốc tế - 115-
4.2.2 Thuế quan tính theo giá trị
Theo Từ điển Chính sách thương mại quốc tế, thuế quan tính theo giá trị “dựa trên
phần trăm của giá trị hàng nhập khẩu, gọi là thuế trị giá”, hay nói cách khác là tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hóa nhập khẩu
Thuế quan tính theo giá trị có thể bảo hộ các nhà sản xuất trong nước tốt hơn thuế quan đặc định khi xảy ra lạm phát Thuế quan tính theo giá trị được thu theo số phần trăm không đổi của số tiền tương đương với một đơn vị hàng hóa nhập khẩu Vì vậy, nếu thuế quan tính theo giá trị là 10% thì một mặt hàng với giá chung trên thế giới là 10 đôla sẽ có một khoản thuế đặc định là 1 đôla Khi lạm phát xảy ra (giả sử lạm phát là 100%), giá hàng hóa sẽ tăng lên 20 đôla và do đó tiền thuế nhập khẩu với mức thuế quan tính theo giá trị không đổi (10%) sẽ là 2 đôla
Nghiên cứu trường hợp: Một số mức thuế của Mỹ
Bảng 4.1 cho thấy các mức thuế năm 1994 của những hàng hóa được lựa chọn nhập khẩu vào Mỹ Cột có đầu đề là MFN (thuế tối huệ quốc) đề cập đến mức thuế mà
Mỹ áp dụng cho các nước được hưởng Quy chế đãi ngộ tối huệ quốc Cột có đầu đề là Non-MFN (thuế phi tối huệ quốc) đề cập mức thuế cao hơn áp dụng cho các đối tác thương mại còn lại Năm 1994, các quốc gia phải đương đầu với tỷ lệ thuế cao hơn là Afghanistan, Azerbaijan, Campuchia, Cuba, Lào, Bắc Triều Tiên, Rumani, Việt Nam
Biểu thuế quan của Mỹ có nhiều loại sản phẩm và các mức độ hạn chế đối với các loại hàng hóa khác nhau
Bảng 4.1: Các loại thuế nhập khẩu được lựa chọn tại Mỹ năm 1994
Nho
+ Nếu nhập vào ngày 1/8 đến 30/9 2,2 cent/kg 3,3 cent/kg
Trang 4Giáo trình Thương mại Quốc tế - 116-
Chương trình thể thao video 3,9% 35%
Nguồn: United States International Trade Commission, Harmonized Tariff Schedule of the United States (1994), USITC Publication 2690 (Washington, DC: US Government
Printing office, 1993)
4.2.3 Thuế ưu đãi
Thuế ưu đãi là tỷ lệ thuế được áp dụng cho một mặt hàng nhập khẩu theo những hiệp định thương mại giữa các quốc gia Một quốc gia được hưởng chế độ ưu đãi sẽ phải trả mức thuế thấp hơn Tại thời điểm hiện nay, các loại thuế ưu đãi ở EU, ví dụ như Pháp nhập khẩu hàng hóa từ các nước khác như Italia sẽ trả thuế có giá trị là 0 Cùng một loại hàng thông thường có thể phải trả thuế (dương) nếu hàng hóa đó đến từ các nước không thuộc EU
4.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CỦA THUẾ QUAN
Một trong những vấn đề quan trọng mà chúng ta cần tìm hiểu khi nghiên cứu về thuế quan của các nước đó là mức thuế quan trung bình của các nước là bao nhiêu? Vấn
đề này nảy sinh vì tất cả các quốc gia đều có các tỷ lệ thuế quan khác nhau đối với hàng hóa nhập khẩu Vậy làm thế nào chúng ta có thể xác định tỷ lệ thuế quan trung bình từ
sự khác biệt lớn như vậy? Ở phần này chúng ta sử dụng hai công thức tính tỷ lệ thuế quan trung bình để trả lời các câu hỏi trên
4.3.1 Tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo
Tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo hay không có trọng số (ký hiệu R1) chính là trung bình cộng các mức thuế của tất cả các hàng hóa Giả sử chúng ta có ba mặt hàng nhập khẩu với tỷ lệ thuế quan như sau: mặt hàng A là 10%, mặt hàng B là 15%, mặt hàng C là 20% Trung bình chung của tỷ lệ này là:
3
%20
%15
%
Đây cũng chính là tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo của 3 mặt hàng A, B,
và C Tỷ lệ thuế quan trung bình này không tính đến tầm quan trọng liên quan hàng hóa nhập khẩu Nếu quốc gia nhập khẩu hầu hết hàng hóa A hay nhập khẩu hầu hết hàng hóa C thì tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo không phản ánh được chính xác mức
Trang 5Giáo trình Thương mại Quốc tế - 117-
thuế trung bình mà quốc gia đó áp dụng Chính vì vậy, chúng ta có thể sử dụng công thức tính tỷ lệ thuế quan trung bình cân đo hay có trọng số
4.3.2 Tỷ lệ thuế quan trung bình cân đo (ký hiệu R 2 )
Tỷ lệ thuế quan trung bình cân đo hay có trọng số (ký hiệu R2) chính là tỷ lệ thuế quan bình quân gia quyền của các thuế suất áp dụng cho các mặt hàng có tính đến giá trị nhập khẩu của các hàng hóa Giả sử quốc gia nhập khẩu mặt hàng A với trị giá 500.000 đôla và thuế suất là 10%, mặt hàng B với trị giá 200.000 đôla và thuế suất là 15% và mặt hàng C với trị giá 100.000 đôla và thuế suất 20% Tỷ lệ thuế quan trung bình cân đo được tính như sau:
R2 =
$000.100
$000.200
$000.500
$)000.100
%).(
20(
$)000.200
%).(
15(
$)000.500
$000.20
$000.30
$000
R2 =
$000.800
$000.100
= 0,125 hoặc 12,5%
Tỷ lệ thuế quan trung bình có trọng số (12,5%) thấp hơn tỷ lệ mức thuế không cân
đo (15%) cho thấy có nhiều hàng hóa nhập khẩu có thuế quan thấp hơn là hàng hóa chịu thuế quan nhập khẩu cao đang được nhập vào quốc gia đó một cách tương ứng Tuy nhiên, tỷ lệ thuế quan trung bình đối với hàng hóa đã cân đo có sự bất lợi liên quan đến quy luật nhu cầu Giả sử nhu cầu biến động là tương tự như nhau đối với tất cả các mặt hàng, việc mua hàng với mức thuế quan cao có chiều hướng giảm, trong khi đó việc mua hàng với mức thuế quan thấp giảm tới mức thuế quan thấp hơn Do vậy, bản thân tỷ lệ thuế quan thay đổi đối với kiện hàng nhập khẩu, tạo ra một sức nặng lớn hơn đối với hàng hóa chịu thuế nhập khẩu thấp Vì thế, tỷ lệ thuế nhập khẩu trung bình đã cân đo giảm xuống
Vấn đề cân đo có thể được minh họa trong một mô hình với thuế nhập khẩu cao đến mức không thể mua được (thuế ngăn cấm) Một loại thuế nhập khẩu với mục đích ngăn cấm có một mức thuế khá cao, nó ngăn cản hàng hóa nhập khẩu vào trong quốc gia Trong ví dụ trên, một loại thuế nhập khẩu có mục đích ngăn cấm hàng hóa nhập khẩu sẽ tồn tại nếu một mặt hàng D có tỷ lệ thuế nhập khẩu là 200% và lượng hàng nhập khẩu là 0, bởi vì tỷ lệ này quá cao Tỷ lệ thuế nhập khẩu trung bình cho một quốc gia sẽ
là 12,5%, bởi vì thuế nhập khẩu 200% có trọng lượng là 0 Ở một cực điểm, đối với một quốc gia nhập khẩu một lượng hàng rất ít với thuế nhập khẩu là 0, nhưng thuế nhập
Trang 6Giáo trình Thương mại Quốc tế - 118-
khẩu có mục đích ngăn cản đối với tất cả các mặt hàng có khả năng nhập khẩu, sẽ chịu một mức thuế nhập khẩu trung bình được cân đo là 0 và quốc gia này sẽ giống như là một quốc gia tự do thương mại
4.4 TỶ LỆ BẢO HỘ HIỆU QUẢ VỚI NHIỀU YẾU TỐ ĐẦU VÀO
Một vấn đề nảy sinh trong vòng 25-30 năm trở lại đây là người ta quan tâm đến
sự lựa chọn tỷ lệ thuế nhập khẩu phù hợp khi đánh giá ảnh hưởng của thuế nhập khẩu Vấn đề này rất quan trọng khi các quốc gia thương lượng về sự giảm tỷ lệ thuế nhập khẩu bởi vì việc thương lượng đòi hỏi sự tập trung một tỷ lệ phù hợp Trong khi người tiêu dùng quan tâm tới thuế quan áp dụng cho các hàng hóa nhập khẩu (thuế quan danh nghĩa) thì các nhà sản xuất lại quan tâm tới mức độ bảo hộ thực tế của họ là như thế nào
Để biết mức độ bảo hộ thực tế cho các nhà sản xuất thì người ta sử dụng khái niệm tỷ lệ bảo hộ có hiệu quả (Effecticve rate of proctection – ERP)
Thuế quan danh nghĩa đơn giản là tỷ lệ được đưa ra trong biểu thuế quan của một quốc gia Các nhà kinh tế sử dụng tỷ lệ thuế quan danh nghĩa để phản ánh sự quan tâm của người tiêu dùng khi giá cả hàng hóa tăng lên với sự tồn tại của thuế nhập khẩu Tuy nhiên, khi sử dụng tỷ lệ bảo hộ hiệu quả, các nhà kinh tế cũng quan tâm đến phạm
vi mà “giá trị tăng thêm” đối với ngành công nghiệp cạnh tranh nhập khẩu trong nước được chuyển đổi bởi sự tồn tại của toàn bộ cấu trúc thuế nhập khẩu (đó là, tỷ lệ thuế nhập khẩu không chỉ áp dụng đối với hàng hóa hoàn thiện mà còn áp dụng đối với hàng hóa trung gian được sử dụng để sản xuất hàng hóa hoàn thiện)
4.4.1 Khái niệm
Tỷ lệ bảo hộ hiệu quả chính là tỷ lệ giữa giá trị bổ sung dưới sự bảo hộ trừ đi giá trị bổ sung khi thương mại tự do chia giá trị gia tăng mà ngành sản xuất nội địa tạo ra khi sản xuất mặt hàng đó khi thương mại tự do
Trang 7Giáo trình Thương mại Quốc tế - 119-
nguyên liệu đầu vào PA = 500 đôla và PB = 200 đôla Do đó, giá trị nội địa tăng thêm trong trường hợp này là:
1.000 - (500 + 200) = 1.000 - 700 = 300 (đôla)
Nếu quốc gia nhập khẩu áp dụng thuế quan đối với hàng hóa F và các yếu tố đầu vào nhập khẩu (bảo hộ cho các nhà sản xuất nội địa) thì ảnh hưởng như thế nào đến giá trị nội địa tăng thêm của hàng hóa F? Giả sử mức thuế nhập khẩu (tF) đối với hàng hóa hoàn thiện F là 10% và thuế đối với nguyên liệu đầu vào A (tA) là 5% và nguyên liệu đầu vào B (tB) là 8% Như vậy, giá nội địa của hàng hóa khi có thuế quan là:
0,197( 19,7%
$300
$300
$359
1
Trong đó Vi’ là giá trị gia tăng trong ngành i khi có áp dụng thuế quan; Vi là giá trị gia tăng trong chế độ buôn bán tự do; ti là mức thuế quan đối với sản phẩm hoàn thiện; tj là mức thuế quan đối với sản phẩm trung gian j; aij là tỷ lệ thể hiện sự tham gia của j trong việc sản xuất một đơn vị sản phẩm i
Trang 8Giáo trình Thương mại Quốc tế - 120-
Trong ví dụ trên, aij đối với đầu vào A là 500 đôla/1.000 đôla hoặc 0,5 và giá trị của aij đối với đầu vào B là 200 đôla/1.000 đôla hoặc 0,2 ERP tương tự như cách tính trên là:
)016,0()025,0(1,0)
2,0()5,0(1
08,0)
2,0(05,0)
5,0(1,0
7,19197,03,0
059,03
,
0
041,0
là thu hút các nguồn khác
TÓM TẮT
Thuế quan là một công cụ cổ điển để thực hiện chính sách bảo hộ thương mại Nhiều quốc gia chú trọng khuyến khích xuất khẩu nên hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài không phải nộp thuế, hoặc nộp thuế rất thấp; chủ yếu là đánh vào hàng hóa nhập khẩu Vì vậy, khi nói đến thuế quan là chủ yếu nói đến thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu Có nhiều cách tính thuế nhập khẩu, mỗi cách đều có ưu điểm và hạn chế của nó; trong đó thuế quan tính theo giá trị là phương pháp được các nước sử dụng phổ biến Phương pháp này có ý nghĩa bảo hộ đối với sản xuất trong nước nhất là khi lạm phát xảy
ra Để biết mức thuế quan của một nước cao hay thấp, người ta sử dụng phương pháp
đo lường đơn giản: tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo và tỷ lệ thuế quan trung bình có cân đo Dĩ nhiên tỷ lệ thuế quan trung bình có cân đo bao giờ cũng chính xác và
có ý nghĩa hơn tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo Một vấn đề rất đáng được quan tâm là bảo hộ đối với sản xuất trong nước như thế nào trong điều kiện nhập khẩu các yếu tố đầu vào từ bên ngoài? Để đo lường mức độ bảo hộ đối với sản xuất trong nước cần sử dụng công thức tính ERP Tỷ lệ này càng cao thì tỷ lệ bảo hộ càng lớn và ngược lại Điều này rất thực tế và có ý nghĩa đối với các nhà sản xuất trong nước khi sử dụng các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm trung gian cần phải nhập khẩu
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày các khái niệm: Thuế đặc định, thuế quan tính theo giá trị và thuế quan ưu đãi Ưu điểm và hạn chế của từng loại thuế?
2 Cách tính thuế quan trung bình không cân đo và thuế quan trung bình cân đo
Trang 9Giáo trình Thương mại Quốc tế - 121-
3 Khái niệm tỷ lệ bảo hộ có hiệu quả và cách tính
4 Cho ba hàng hóa A, B, C; thuế suất đối với các hàng hóa tương ứng như sau: 15%, 20%, 25% Giá cả nhập khẩu của các hàng hóa tương ứng như sau: 600.000 đôla, 300.000 đôla, 100.000 đôla Hãy tính tỷ lệ thuế quan trung bình không cân đo và có cân
đo và cho biết ý nghĩa của nó?
5 Giả sử trong điều kiện tự do thương mại, giá của một sản phẩm hoàn thiện (PF) là 1.000 đôla Hai loại sản phẩm đầu vào của mặt hàng F là A và B có giá là 300 đôla
và 500 đôla Biết rằng cứ 1 sản phẩm đầu vào A và B tạo nên 1 đơn vị sản phẩm F Hàng hóa F bị đánh thuế nhập khẩu (tF) = 20% theo giá cả hàng hóa và thuế đối với mặt hàng A (tA) = 20%, thuế đối với mặt hàng B (tB) = 30% Hãy tính tỷ lệ bảo hộ hiệu quả cho ngành công nghiệp nội địa sản xuất ra hàng hóa F và diễn giải ý nghĩa của nó
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dennis R Appleyard, Alfred J Field, International Economics: Trade Theory
and Policy, Irwin, 1995
2 Dominick Salvatore, International Economics, seventh edition, Macmillan
Publishing Company, New York, 2001
3 Ngân hàng Thế giới, Sổ tay về phát triển, thương mại và WTO, NXB Chính
trị Quốc gia, H., 2004
4 Paul R Krugman, Maurice Obstfeld, Kinh tế học quốc tế - Lý thuyết và chính
sách, tập I, NXB Chính trị Quốc gia, H., 1996
5 Walter Goode, Từ điển Chính sách thương mại quốc tế, Báo Thương mại và
NXB Thống kê, H., 1997
Trang 10Giáo trình Thương mại Quốc tế - 122-
CHƯƠNG 5 CÁC HÀNG RÀO THƯƠNG MẠI PHI THUẾ QUAN VÀ CÁC KHÍA CẠNH KINH TẾ CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI
Mặc dù thuế quan là biện pháp quan trọng nhất trong các hàng rào thương mại nhưng hiện nay vai trò của nó đã bị suy giảm Việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan
có xu hướng tăng lên Có thể nói buôn bán tự do là hình thức buôn bán hiệu quả nhất và hợp lý nhất, tuy nhiên trên thực tế các quốc gia đều áp dụng những hình thức hạn chế nhất định nhằm hạn chế thương mại tự do vì lợi ích của quốc gia đó Việc giảm thuế quan là xu hướng tất yếu phù hợp với xu hướng tự do hóa thương mại Ngoài thuế quan, nhiều nước đã sử dụng hàng rào phi thuế quan để hạn chế thương mại tự do nhằm thực hiện chính sách bảo hộ thương mại Chương này tập trung phân tích các hàng rào phi thuế quan có định lượng và các hàng rào phi thuế quan không định lượng
5.1 CÁC HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN CÓ ĐỊNH LƯỢNG
“Hàng rào phi thuế quan” được định nghĩa là bất kỳ hàng rào nào, không phải là
thuế quan, làm méo mó luồng hàng hóa tự do qua biên giới quốc gia Hàng rào phi thuế quan có thể là trực tiếp, nghĩa là được thiết kế cụ thể để bảo hộ một số loại hàng hóa, hoặc cũng có thể là gián tiếp, được áp dụng vì các mục tiêu chính sách khác, nhưng có ảnh hưởng lớn đến thương mại
5.1.1 Hạn chế định lượng (Quantitative restriction)
Hạn chế định lượng chính là các hạn chế hoặc hạn ngạch về định lượng cho một sản phẩm hoặc một hàng hóa cụ thể có thể nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một giai đoạn nào đó thường là một năm Chúng được tính bằng khối lượng nhưng đôi khi bằng giá trị
WTO quy định ngoài thuế quan, thuế nội địa và các loại phí khác, các thành viên không được tạo ra hay duy trì các biện pháp như hạn ngạch, giấy phép hay các biện pháp khác nhằm hạn chế nhập khẩu từ những thành viên khác, hay hạn chế số lượng xuất khẩu
5.1.1.1 Cấm xuất khẩu, nhập khẩu (Prohibitions)
“Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn nhất đối với thương mại quốc tế Trong thương mại quốc tế có nhiều trường hợp cấm
Trang 11Giáo trình Thương mại Quốc tế - 123-
nhập khẩu như cấm hoàn toàn, cấm theo mùa, cấm tạm thời, cấm vận, cấm sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập khẩu… WTO yêu cầu không được phép áp dụng nếu không có lý do chính đáng Tuy nhiên, các thành viên có thể thi hành các biện pháp cấm xuất khẩu, nhập khẩu trong một số trường hợp ngoại lệ sau:
- Cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia
- Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội; bảo vệ con người, động vật và thực vật; bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
- Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác; cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế.”(5)
5.1.1.2 Hạn ngạch xuất khẩu (Export quotas)
Hạn ngạch xuất khẩu là các hạn chế và giới hạn trần do nước xuất khẩu áp đặt cho tổng giá trị hoặc tổng khối lượng của một số sản phẩm nhất định
Hạn ngạch xuất khẩu được dùng để bảo vệ các nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nước khỏi sự thiếu hụt tạm thời của các sản phẩm này hay việc cải thiện giá của một số sản phẩm trên thị trường thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp chúng Khả năng thứ hai chỉ có thể thực hiện ở một nước hay một nhóm nước có ưu thế xuất khẩu về một sản phẩm
5.1.1.3 Hạn ngạch nhập khẩu (Import quotas)
Hạn ngạch nhập khẩu là những sự hạn chế hoặc mức trần do nước nhập khẩu đặt
ra về giá trị hay khối lượng nhập khẩu của những loại hàng hóa nhất định được mang từ nước ngoài vào
Hạn ngạch nhập khẩu được quy định để bảo vệ các nhà sản xuất nội địa khỏi những ảnh hưởng do giá hàng hóa nhập khẩu thấp gây ra Đây là một loại hình thức của hạn chế định lượng
Phân tích tác động của hạn ngạch nhập khẩu
Thông thường, khi phân tích tác động của thuế quan và hạn ngạch, chúng ta sử dụng mô hình cung cầu đơn giản như trong Hình 5.1 và 5.2 Giả định của mô hình là
( 5) TS Trịnh Minh Anh, “Rào cản trong thương mại quốc tế hiện đại và cam kết của Việt Nam, Bộ Thương mại: Tài liệu bồi dưỡng: Các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam, Hà Nội 2007, tr.162
Trang 12Giáo trình Thương mại Quốc tế - 124-
cạnh tranh hoàn hảo và nền kinh tế nhỏ (nghĩa là “chấp nhận giá” và do đó sự biến đổi của cung hoặc cầu không ảnh hưởng đến mức giá) Phúc lợi kinh tế của quốc gia bao gồm thặng dư tiêu dùng (phần chênh lệch giữa sự sẵn lòng trả tiền và giá thực tế mà người tiêu dùng trả), thặng dư sản xuất (tổng lợi nhuận thu được của các nhà cung cấp)
và thuế doanh thu của chính
phủ Cầu tiêu dùng được minh họa
bằng đường cầu D và nhà sản xuất
đang ở trong thị trường cạnh tranh
với đường cung S Trong hệ thống
thương mại tự do, người tiêu dùng
mua hàng với mức giá thế giới
P W và lượng cầu là D 1, các nhà
cung cấp trong nước sản xuất tại
mức sản lượng S 1 và sẽ nhập khẩu
một lượng bằng khoản chênh lệch
giữa lượng cầu và mức cung ứng
nội địa Trong Hình 1, thặng dư
thuế quan t cho mỗi đơn vị hàng nhập
khẩu nước ngoài Giá trong nước sẽ là
(P W + t), nhu cầu giảm xuống D 2 và
lượng cung ứng nội địa tăng đến S 2 Kết quả là nhập khẩu giảm Thặng dư sản
xuất tăng đến (g + c), thặng dư người tiêu dùng giảm còn (a + b), nhưng chính
phủ có thêm thu nhập từ thuế quan
nhập khẩu là e Tổng phúc lợi kinh tế
của quốc gia trong sự hiện diện của thuế quan là thấp hơn so với hệ thống thương mại tự do, với khoản mất
không là (d + f) Giá tăng đẩy một số người tiêu dùng ra khỏi thị trường và sự mất mát này được thể hiện bởi tam giác f Hơn
nữa, sự gia tăng sản xuất trong nước đòi hỏi chi phí vượt quá mức chi phí của hàng nhập
Trang 13Giáo trình Thương mại Quốc tế - 125-
khẩu thay thế Do đó, tam giác d thể hiện sự suy giảm của thặng dư sản xuất trong
nước
Giả sử chính phủ áp đặt hạn ngạch nhập khẩu Điều này khiến nền kinh tế trong nước không thể nhập khẩu nhiều như trước đây Thay vào đó, để đáp ứng cầu, các nhà cung ứng nội địa phải sản xuất bằng bất kỳ lượng cầu nào vượt hạn ngạch Tuy nhiên,
do chi phí sản xuất thêm này cao hơn chi phí nhập khẩu, làm cho giá trong nước tăng
đến P Q Trong Hình 5.2, đường cung trong nước lúc này được in đậm Hạn ngạch có tác dụng chuyển dịch đường cung về bên phải với một lượng bằng hạn ngạch bất cứ khi nào mức giá cao hơn giá thế giới Đường cung thấp hơn giá thế giới không di chuyển, vì các mức cầu đó không đủ để mang lại lợi nhuận cho chủ sở hữu giấy phép nhập khẩu Hạn
ngạch A, như thuế quan, làm tăng giá trong nước và gây khoản mất không bằng (d + f)
Trong khi thuế tạo ra thu nhập cho chính phủ, hạn ngạch nhập khẩu tạo ra thặng
dư cho các chủ sở hữu giấy phép Về mặt lý thuyết, nếu chính phủ đấu giá quyền nhập khẩu thì tác động của hai công cụ là tương đương Tuy nhiên, trên thực tế, chính phủ có thể phân phối hạn ngạch dựa trên thị phần của các nhà nhập khẩu Do đó, hạn ngạch có thể tạo động cơ khiến các nhà nhập khẩu tham gia các hoạt động không hiệu quả nhằm tối đa hóa mức hạn ngạch của mình Hơn nữa, hạn ngạch cho phép chính phủ phân phát giấy phép nhập khẩu, nên hạn ngạch được xem là ít minh bạch và có thể thiếu hiệu quả
Đó là lý do tại sao thuế quan lại thường được xem là một phương tiện bảo hộ tốt hơn
Ngoài ra, thuế và hạn ngạch khác
nhau về nhiều mặt Hạn ngạch can thiệp
trực tiếp vào mối liên kết giữa giá và
lượng, đó là điều cần thiết cho các hoạt
động của hệ thống kinh tế thị
trường Thuế quan chỉ đơn giản là tạo ra
một sự chênh lệch, nhưng cho phép hệ
thống giá cả hoạt động Ví dụ, nếu cầu
hàng hóa tăng vuợt quá kỳ vọng sau khi
áp đặt hạn ngạch hoặc thuế quan, thì
hạn ngạch sẽ bảo hộ chắc chắn hơn thuế
quan Trong Hình 5.3, khi cầu bất ngờ
mở rộng đến D’ nếu sử dụng thuế quan,
lượng nhu cầu vượt quá sẽ được đáp
ứng bởi một lượng tăng trong nhập
khẩu ở mức giá P’ t Tuy nhiên, khi sử dụng
hạn ngạch, lượng nhu cầu vượt quá sẽ được
Hình 5.3: Sự khác nhau giữa thuế
quan và hạn ngạch
Trang 14Giáo trình Thương mại Quốc tế - 126-
đáp ứng bởi sự gia tăng sản xuất trong nước, dẫn đến giá trong nước tăng đến P’ Q Do
đó, hạn ngạch dẫn đến một khoản mất không thêm là (d’+ f’) tương đương với khoản
thuế quan khi cầu tăng lên
5.1.1.4 Hạn ngạch thuế quan
Trong các điều kiện nhất định, tỷ lệ thuế quan hạn ngạch (TRQ) cũng có thể được sử dụng như là một công cụ bảo hộ Theo như tên gọi, TRQ bao gồm một hạn ngạch nhất định cho một khối lượng hàng nhập khẩu mà có thể nhập khẩu với một tỷ lệ thuế quan
ưu đãi, vẫn được gọi là thuế quan trong hạn ngạch Bất kỳ lượng nhập khẩu nào vượt quá khối lượng này có thể phải chịu mức thuế quan ngoài hạn ngạch cao hơn Hình 5.4 minh họa cơ chế cơ bản của TRQ trong ba trường hợp khác nhau giữa hạn ngạch và cầu Trong trường hợp 1, hạn ngạch chỉ được sử dụng một phần (nhỏ hơn mức hạn ngạch cho phép) Biểu thuế áp dụng với nhập khẩu là thuế quan trong hạn ngạch, do đó
giá trong nước bằng P = P W + t trong và lượng nhập khẩu được tính bằng đoạn nhỏ ab
Trường hợp 2 minh họa tình huống mà trong đó hạn ngạch được sử dụng toàn bộ và hàng nhập khẩu bổ sung sẽ bị áp dụng thêm thuế quan hạn ngạch ngoài Trong trường hợp này, tỷ lệ thuế quan ngoài hạn ngạch đủ cao để ngăn chặn hàng nhập khẩu và thúc đẩy sản xuất trong nước tại
mức giá P’ Đó là do TRQ làm
dịch chuyển đường cung về
bên phải với một lượng bằng
lượng hạn ngạch Cuối cùng,
trường hợp 3 minh họa đường
cầu đủ cao để khiến hàng nhập
khẩu chịu thuế quan ngoài hạn
ngạch có lợi nhuận Giá cho
mỗi đơn vị nhập khẩu bổ sung
bằng P’’= P W + t ngoài và khối
lượng nhập khẩu tăng thêm là
de Tổng nhập khẩu trong
Trang 15Giáo trình Thương mại Quốc tế - 127-
5.1.2 Trợ cấp xuất khẩu
Khi chính phủ của một nước lớn trợ cấp xuất khẩu cho người sản xuất một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nhất định, ban đầu các nhà sản xuất sẽ kiếm được nhiều từ xuất khẩu hơn là doanh số bán hàng trong nước và do đó họ sẽ có động cơ để xuất khẩu nhiều hơn Tuy nhiên, giá bán cho người mua trong nước sẽ sớm gia tăng đến mức giá xuất khẩu được trợ cấp Nhu cầu trong nước sẽ giảm Bởi vì các nước xuất khẩu được giả định là lớn, xuất khẩu tăng sẽ đẩy mức giá cả thị trường thế giới xuống, làm giảm
tỷ lệ mậu dịch của nước đó (tức là giá xuất khẩu so với giá nhập khẩu) Ngược lại, tỷ lệ mậu dịch của của các nước nhập khẩu sẽ được cải thiện Nhìn chung, phúc lợi sẽ giảm do trợ cấp bóp méo việc phân bổ tối ưu các nguồn lực mặc dù các luồng thương mại gia tăng Trợ cấp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới phúc lợi của nước xuất khẩu do khoản mất không (hiệu quả) và tổn thất phân bổ của tỷ lệ mậu dịch Trong khi đó, tổn thất tỷ
lệ mậu dịch có thể được xem như là một lợi ích cho nước nhập khẩu dưới hình thức là lợi ích thu được của tỷ lệ mậu dịch, và khoản mất không là khoản mất mát ròng của tất
cả các bên
Hậu quả của trợ cấp là sự phân phối không đều cho cả quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu Đối với nước nhập khẩu, người tiêu dùng hoặc người mua của sản phẩm nhập khẩu nói chung sẽ được hưởng lợi từ giá thấp hơn nhờ vào trợ cấp, nhưng nhà sản xuất hàng nhập khẩu cạnh tranh bị mất mát Với các nước xuất khẩu, nhà sản xuất rõ ràng là hưởng lợi từ trợ cấp, trong khi người tiêu dùng trong nước sẽ chịu tổn hại bởi vì
họ sẽ phải trả giá cao hơn cho các sản phẩm được trợ cấp
Tác động của trợ cấp xuất khẩu
Khi nghiên cứu tác động của trợ cấp xuất khẩu, quy mô của nước xuất khẩu là rất quan trọng Khi nước xuất khẩu nhỏ áp dụng trợ cấp xuất khẩu, giá thế giới sẽ không bị ảnh hưởng Khi một nước xuất khẩu lớn áp dụng trợ cấp xuất khẩu, xuất khẩu của nước
đó tăng lên và đồng thời lượng cung cấp thế giới cũng tăng Điều này đẩy giá thế giới giảm do ảnh hưởng của tỷ lệ mậu dịch Hình 5.5 thể hiện dòng thương mại của một loại hàng hóa giữa hai nước lớn, một là xuất khẩu và một là nhập khẩu Để đơn giản hóa, tất
cả các biến của nước xuất khẩu được biểu thị bằng dấu hoa thị Đường cầu của nước
xuất khẩu cho một hàng hóa là D* và đường cung là S*, tạo ra một đường cung xuất khẩu ký hiệu là XS Tương tự, trong nước nhập khẩu, đường cầu hàng hóa là D và đường cung là S, tạo ra đường cầu nhập khẩu MD Trong điều kiện thương mại tự do (FT), giá thế giới được xác định là P FT tương ứng với điểm giao nhau giữa đường cầu nhập khẩu và đường cung xuất khẩu trong thị trường thế giới, được biểu thị bởi điểm 1 trong mô hình ở giữa
Trang 16Giáo trình Thương mại Quốc tế - 128-
Hình 5.5: Tác động của trợ cấp xuất khẩu của một nước lớn
Việc áp dụng một mức trợ cấp cụ thể (một lượng nhất định cho mỗi đơn vị) của
nước xuất khẩu lên hàng xuất khẩu, ký hiệu là S, làm dịch chuyển đường cung xuất
khẩu ra XS’ Đường cung xuất khẩu dịch chuyển xuống bằng lượng tiền trợ cấp, phản
ánh chi phí biên của hàng xuất khẩu thấp Xuất khẩu tăng và giá thế giới giảm Trong thị
trường nhập khẩu, giá giảm xuống từ P FT xuống P 1 dẫn đến sự gia tăng nhu cầu từ D FT
đến D 1 (sự di chuyển từ điểm 1 đến điểm 3 trên thị trường thế giới) Mặt khác, trợ cấp xuất khẩu làm tăng giá trong nước xuất khẩu và tạo ra một sự sai khác giữa các mức giá
trong hai thị trường Nói cách khác, giá trong nước xuất khẩu được tính bằng P *1 = P 1 +
S Kết quả là, người tiêu dùng trong nước xuất khẩu giảm mức tiêu dùng và nhà sản
xuất hàng xuất khẩu với giá cao hơn, như được thể hiện bởi sự di chuyển từ điểm 1 đến
điểm 2 trên đường cung ứng xuất khẩu XS Thương mại tăng từ Q FT đến Q 1
Phúc lợi ròng từ trợ cấp xuất khẩu đối với các nước nhập khẩu là dương Thật vậy, mặc dù mức giá thấp hơn dẫn đến mức sản xuất thấp hơn của các công ty cạnh
tranh với nhập khẩu, giảm thặng dư sản xuất bằng diện tích của vùng a, như trong sơ đồ
bên phải, nhưng sự thiệt hại thì được bồi thường bằng sự gia tăng phúc lợi của người
tiêu dùng, bằng tổng của a, b, c và d Đối với nước xuất khẩu, hiệu quả phúc lợi là âm Tổn thất phúc lợi của người tiêu dùng bằng A + B; nhà sản xuất đạt được A + B + C và tiêu dùng chính phủ là diện tích B + C + D + E + F + G + H + I Vì vậy, mất mát phúc lợi ròng bằng tổng của B - khoản mất không của tiêu dùng, với D - khoản mất không của nhà sản xuất, và E + F + G + H + I là tổn thất tỷ lệ mậu dịch Tổn thất tiêu dùng được tạo
ra do số lượng người tiêu dùng tham gia giao dịch trên thị trường giảm đi, và tổn thất sản xuất được giải thích bởi việc phải sử dụng các nguồn lực bổ sung và đắt hơn nhiều
để tăng xuất khẩu, điều này sẽ không xảy ra nếu không có trợ cấp xuất khẩu Trên
phương diện thế giới, khoản mất không bằng tổng của b và d cộng với phần mất tổn thất
của tỷ trọng mậu dịch của nước xuất khẩu do không được bồi thường bằng lợi ích có được từ tỷ trọng mậu dịch của nước nhập khẩu
Trang 17Giáo trình Thương mại Quốc tế - 129-
Trợ cấp sản xuất sẽ có tác dụng tương tự như trợ cấp xuất khẩu Sự khác biệt chính là với trợ cấp sản xuất, giá trong nước tại nước xuất khẩu bị giảm xuống do giá thế giới giảm khi nguồn cung tăng Người tiêu dùng và người sản xuất trong quốc gia xuất khẩu sẽ có lợi
Những phân tích trợ cấp được xem xét cùng với một số hoạt động kinh tế hoặc một số yếu tố khác, chẳng hạn như sản xuất hoặc xuất khẩu Các chính phủ cũng thường xuyên dùng trợ cấp để tài trợ toàn bộ hoặc một phần cho việc mua lại các tài sản cố định, chẳng hạn như công nghệ, máy móc và thiết bị Những loại trợ cấp như vậy có thể được thanh toán một lần hay một vài lần và thường được gọi là trợ cấp không định kỳ Các khoản trợ cấp này có thể ảnh hưởng đến cạnh tranh khi vượt quá thời kỳ mà trợ cấp được cung cấp thật sự Ảnh hưởng có thể là tăng đầu tư của một số công ty trong thị trường liên quan Kết quả là, nhiều công ty sẽ năng động hơn trong ngành công nghiệp hoặc các công ty hiện tại sẽ sản xuất trên quy mô lớn hơn Điều này có thể có tác động vào điều kiện cạnh tranh trong thị trường thế giới Khoảng thời gian của các tác động như vậy vào cạnh tranh quốc tế phụ thuộc vào tỷ lệ khấu hao tài sản cố định và sự tiến triển của cầu trong những năm sau đầu tư
5.1.3 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary export restraint – VER) là một hiệp định
tự nguyện giữa các nhà cung ứng nước ngoài với chính phủ nước chủ nhà để hạn chế số lượng xuất khẩu một mặt hàng nào đó vào nước này Như vậy, đây là một loại hình quota nhập khẩu tự nguyện, mặc dù là không có giấy phép nên chính phủ không có nguồn thu Chính các công ty xuất khẩu có lợi nhờ giá cao hơn
Khi những hạn chế xuất khẩu tự nguyện thành công, chúng cũng có những tác động kinh tế giống như một hạn ngạch nhập khẩu tương đương Việc thực hiện VERxuất phát từ sự xem xét xu hướng chính trị Một quốc gia nhập khẩu, đã từng ủng hộ cho những đặc điểm thuận lợi của tự do thương mại có thể không muốn áp đặt một hạn ngạch nhập khẩu công khai bởi vì nó sẽ bao hàm sự ra đời về mặt pháp lý đối với tự do thương mại Ngược lại, một quốc gia có thể lựa chọn để thương lượng một hiệp ước với nhà phân phối nước ngoài nhờ đó mà nhà phân phối có thể đồng ý chủ động kiềm chế việc gửi hàng hóa xuất khẩu sang nước nhập khẩu
5.1.4 Cacten quốc tế
Cacten quốc tế (International cartel) là tổ chức của các nhà cung ứng về một loại
sản phẩm nào đó, phân bố ở các quốc gia khác nhau (hay là một nhóm các chính phủ) đồng ý hạn chế sản xuất và xuất khẩu với mục đích làm tăng lợi ích của tổ chức đó
Trang 18Giáo trình Thương mại Quốc tế - 130-
Cacten quốc tế có tiếng nhất hiện nay là tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization of Petroleum Exporting Countries - OPEC), thành lập năm 1960 Các nước thành viên đầu tiên của OPEC gồm có: Iran, Iraq, Saudi Arabia, Coet Tổ chức này nhằm mục tiêu điều phối và thống nhất các chính sách sản xuất và xuất khẩu dầu
Cacten sẽ đạt hiệu quả nhất khi chỉ có một số ít hãng (chính phủ) thống trị một hoạt động nào đó
5.2 CÁC HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN KHÔNG ĐỊNH LƯỢNG
5.2.1 Các điều khoản thu mua của chính phủ
Các điều khoản thu mua của Chính phủ được coi một rào cản thương mại vì các
điều khoản này hạn chế việc các cơ quan chính phủ trong nước mua các sản phẩm của nước ngoài Ví dụ, Luật mua hàng hóa của Mỹ quy định các cơ quan chính phủ liên bang phải mua hàng hóa của các công ty Mỹ trừ khi giá của các công ty này cao hơn 6% so với nhà phân phối nước ngoài
5.2.2 Các biện pháp quản lý giá
Các biện pháp quản lý giá nhập khẩu hay giá bán trong nước có thể có tác động trực tiếp hay gián tiếp tới xuất nhập khẩu hàng hóa
5.2.2.1 Trị giá tính thuế hải quan (Customs valuation)
Là các biện pháp do các cơ quan hải quan sử dụng để định giá đối với hàng nhập khẩu nhằm mục đích tính thuế nhập khẩu đúng Hiệp định về việc thực hiện điều VII (Định giá Hải quan) của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GAT) nhằm mục đích quy định một hệ thống công bằng, thống nhất và trung lập để định giá các hàng hóa, ngăn ngừa việc sử dụng các giá trị hải quan giả hoặc tùy tiện
5.2.2.2 Giá bán tối đa (Maximum selling price)
Giá bán tối đa trong nước đối với một loại hàng hóa nào đó có thể hạn chế nhập khẩu, đặc biệt là đối với các nhà xuất khẩu không có khả năng cạnh tranh cao Ví dụ, nếu quy định giá gạo ở Việt Nam loại 5% tấm lên tới 10 đôla/kg thì sẽ không có khả xuất khẩu, vì thị trường nước nhập khẩu không thể chấp nhận
Mặc dù các quy đinh về giá bán tối đa trong nước thiếu tính ràng buộc nhưng vấn
đề này thường được các thành viên đặt ra với các nước đang gia nhập, ví dụ như Việt Nam
Trang 19Giáo trình Thương mại Quốc tế - 131-
5.2.3 Các biện pháp liên quan dến doanh nghiệp
5.2.3.1 Doanh nghiệp thương mại nhà nước
Các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu được nhà nước ban cho những đặc quyền nhất định (doanh nghiệp thương mại nhà nước) có thể gây ra những trở ngại lớn tới thương mại quốc tế Các thành viên phải cam kết các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thương mại nhà nước phù hợp với các nguyên tắc chung về đối xử không phân biệt với các doanh nghiệp tư nhân và phải tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa chỉ dựa trên tiêu chí thương mại, chẳng hạn như giá cả, chất lượng, tiếp thị, vận tải…; đồng thời phải dành cho các doanh nghiệp của các thành viên khác những cơ hội thích hợp tham gia cạnh tranh trong việc mua bán hàng hóa phù hợp với thông lệ kinh doanh chung Các thành viên có nghĩa vụ thông báo cho WTO về các doanh nghiệp thương mại nhà nước của họ.(6)
5.2.3.2 Quyền thương mại/quyền kinh doanh (trading rights)
Là quyền dành cho một số công ty nhất định được tiến hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu ở các nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoặc các nước đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Quyền kinh doanh có thể chỉ giới hạn ở việc xuất khẩu một mặt hàng nhất định hoặc kinh doanh một loại mặt hàng nào đó Các công ty không nhất thiết phải là công ty nhà nước mới được hưởng quyền kinh doanh Nếu các công ty có quyền kinh doanh là công ty nhà nước thì vấn đề này lại trở thành vấn đề thương mại quốc doanh
5.2.4 Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Technical barriers to trade)
Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Technical barriers to trade) là những cản trở thương mại thông qua hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp Hiệp định hàng rào kỹ thuật đối với thương mại trong WTO quy định hài hòa, giảm và loại bỏ các hàng rào này
Mục tiêu của Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại là nhằm bảo
vệ sức khỏe và sự an toàn của con người, các loại động thực vật và môi trường
Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại có thể là các quy định kỹ thuật (technical requirements), tiêu chuẩn và thủ tục xác định sự phù hợp(7) Cụ thể như sau:
(6) Tài liệu như đã dẫn ở (4 ), tr 169
(7) Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại
Trang 20Giáo trình Thương mại Quốc tế - 132-
Các quy định và tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đều đặt ra các yêu cầu liên quan đến tính chất vật lý của sản phẩm Các yêu cầu này có thể liên quan đến kích thước, hình dáng, thiết kế và các chức năng của sản phẩm Các yêu cầu này cũng
có thể quy định liên quan đến nhãn mác, đóng gói, ký hiệu sản phẩm và mở rộng tới quy trình và phương pháp sản xuất liên quan đến sản phẩm
Một chính phủ thường đưa ra những tiêu chuẩn chính thức và tiêu chuẩn kỹ thuật Nếu một quốc gia áp dụng các tiêu chuẩn khác với các nước láng giềng của mình, thì có thể coi nước đó đang áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu Các công ty nước ngoài có thể sẽ nhận thấy rằng việc sản xuất một dạng sản phẩm của họ đặc biệt cho riêng một thị trường là quá tốn kém Ví dụ, ở Italia, đạo luật quy định rằng bột làm mì sợi phải từ lúa mì Durum, nhờ vậy nước này đã ngăn cản được các loại bột mì khác vào thị trường Italia
5.2.5 Các thủ tục đánh giá sự phù hợp
Bao gồm các thủ tục như xét nghiệm, kiểm tra xác thực, kiểm định, chứng nhận các sản phẩm đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn đặt ra nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử và đãi ngộ quốc gia, phải minh bạch và tiến tới hài hòa Các thành viên có thể đưa ra các biện pháp để bảo vệ môi trường, sức khỏe con người và động thực vật, ngăn ngừa các hành động xấu nhưng không được áp dụng theo cách thức tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện, hay hạn chế vô lý đối với thương mại quốc tế
5.2.6 Kiểm dịch động vật và thực vật
Kiểm dịch động vật và thực vật (Sanitary and Phytosanitary - SPS) (8) là một Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ của WTO bao gồm các biện pháp nhằm bảo vệ cuộc sống, sức khỏe của con người và động vật Hiệp định quy định nhằm phòng tránh những rủi ro về vệ sinh của hàng hóa có thể phát sinh từ các chất phụ gia, các chất gây độc tố và chất có hại đối với cơ thể con người có trong các loại lương thực, thực phẩm và
đồ uống Hiệp định cũng đưa ra các quy định về việc ngăn chặn sự lây lan của các loại thực phẩm có hại… Các biện pháp được quy định trong Hiệp định SPS cũng nhằm mục đích đảm bảo rằng các quy định về an toàn và sức khỏe không có những ảnh hưởng quá mức tới thương mại quốc tế.(9)
Ngoài ra còn có các quy định khác liên quan đến sản phẩm như: thủ tục về đóng gói sản phẩm, yêu cầu về dán nhãn sinh thái, các yêu cầu về phương pháp sản xuất/khai thác và chế biến sản phẩm, các yêu cầu của người tiêu dùng
(8) Hiệp định SPS
9 Tài liệu như đã dẫn ở (4), tr.173
Trang 21Giáo trình Thương mại Quốc tế - 133-
Tương tự, các chính phủ yêu cầu tất cả các sản phẩm nội địa và hàng nhập khẩu phải đảm bảo các yêu cầu về đóng gói và nhãn mác nhất định
5.2.7 Các thủ tục hành chính
Quy định về thanh toán: Các nước đang phát triển đang đối mặt với một nhu cầu
dự trữ ngoại tệ mạnh, có thể cần cho việc kiểm soát ngoại tệ phát sinh
Trong trường hợp đặc biệt, các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển phải bán ngoại tệ thu được của họ cho ngân hàng trung ương, ngân hàng này sẽ phân phối số ngoại tệ cần thiết cho các nhà nhập khẩu để thanh toán hàng nhập khẩu Do đó, nhập khẩu tự do không thể thực hiện được vì ngoại tệ bị phân chia từng phần Hình thức hạn chế này có thể gây ra những biến dạng nghiêm trọng đối với hàng nhập khẩu so với mô hình tự do thương mại Bên cạnh đó, đôi khi các nước đang phát triển sử dụng hình thức
“yêu cầu đặt cọc trước” Trong tình huống này, các nhà nhập khẩu chỉ nhận được giấy phép nhập khẩu khi đã đặt cọc vào quỹ của chính phủ một số lượng tương đương với số phần trăm cụ thể của giá trị hàng nhập khẩu trong tương lai Khoản đặt cọc này sẽ được hoàn trả khi hàng nhập khẩu đã được đưa vào trong nước, nhưng đồng thời nhà nhập khẩu cũng mất cơ hội chi phí vốn
Quy định về thủ tục hải quan: Các thủ tục hải quan rắc rối, mất nhiều thời gian tại
các cửa khẩu nhập khẩu cũng đóng vai trò là hàng rào phi thuế quan gián tiếp
5.2.8 Các chính sách nội địa bổ sung ảnh hưởng đến thương mại
Các chính sách này trợ giúp cho các công ty trong nước cũng có những tác động trực tiếp đối với thương mại Mặc dù sự hỗ trợ cụ thể có thể không chủ định gây ảnh hưởng đến thương mại, tiền trợ giúp làm giảm chi phí các công ty đó có thể kích thích các hoạt động xuất khẩu
Trong trường hợp một công ty nhập khẩu với các chi phí giảm thông qua trợ cấp của chính phủ có thể làm cho các công ty trong nước cạnh tranh với giá thấp hơn, dẫn đến tăng sản lượng, tạo công ăn việc làm và giảm nhập khẩu Một khoản cho vay của chính phủ Mỹ với lãi suất thấp cho công ty Chrysler dưới thời kỳ đương nhiệm của Tổng thống Jimmy Carter cũng có thể được cho là một chương trình hỗ trợ của chính phủ đã
có những tác động đến thương mại
Chương trình khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa cũng sẽ ảnh hưởng tới hàng nhập khẩu, v.v…
Trang 22Giáo trình Thương mại Quốc tế - 134-
Tương tự, việc chính phủ cung cấp các chương trình tái đào tạo, hỗ trợ về quản
lý, tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, các khoản tín dụng thuế đầu tư hay thuế đặc biệt
có lợi cho các công ty trong nước sản xuất hàng thương mại có thể có tác động trực tiếp đối với sự cạnh tranh về chi phí liên quan và thương mại quốc tế
Nói chung, chúng ta đều thấy rất rõ sự hiện diện của rất nhiều hình thức kiểm soát ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Chúng ta mới chỉ đề cập đến những phương tiện, công cụ được bàn đến rộng rãi nhất Thông tin về một nước cụ thể có thể có được chỉ bằng cách nghiên cứu nước đó Tuy nhiên tự do thương mại không tồn tại trên thế giới này
5.3 NHỮNG LÝ LẼ (LẬP LUẬN) VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ THƯƠNG MẠI
5.3.1 Lý lẽ về “ngành công nghiệp non trẻ”
Giả thiết một “mặt hàng có thể nhập khẩu” cũng có thể được sản xuất trong nước
ở những xí nghiệp mới hình thành gần đây, hoặc ở những đơn vị mới đưa vào hoạt động Những xí nghiệp “non trẻ” này phải chịu những chi phí ban đầu cao và không thể cạnh tranh ngay trong một vài năm đầu tiên với các đối thủ nước ngoài đã được thành lập lâu năm Chính sách tự do buôn bán có thể sẽ bóp chết nó ngay từ khi mới sinh ra Một hình thức thuế quan tạm thời đánh vào hàng nhập khẩu sẽ cho phép những xí nghiệp như vậy trưởng thành cho tới “độ chín muồi” và được bảo vệ chống lại “cơn gió lạnh” của cạnh tranh từ nước ngoài
5.3.2 Lý lẽ về “tài chính công cộng”
Chính phủ cần có nguồn thu để đáp ứng các chi phí trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng, để tiến hành việc trả nợ và giải quyết các khoản chi trả khác Thuế doanh thu đánh vào hàng hóa và thuế thu nhập đánh vào các cá nhân là loại dễ gây méo mó Chỉ một thực tế rằng thuế quan cũng gây ra một sự méo mó chưa đủ để cho phép miễn thuế đối với hoạt động buôn bán quốc tế
Ở đây có hai điểm cần đưa ra để bảo vệ cho thuế nhập khẩu Thứ nhất, để thu được thuế nhập khẩu chi phí phải bỏ ra sẽ rẻ, rẻ hơn nhiều so với các loại thuế tiêu dùng,
mà đối với chúng số điểm thu thuế thông thường sẽ lớn hơn nhiều Trong lịch sử, đế quốc La Mã từng trông cậy chủ yếu vào các loại thuế đánh vào hoạt động buôn bán bằng đường biển, một phần vì hoạt động này chỉ thông qua một số ít hải cảng nên việc trốn thuế khó diễn ra, một phần vì nhiều loại thuế khác (ví dụ như thuế thu nhập) không có tính khả thi Thứ hai, yếu tố trợ cấp sản xuất ẩn giấu trong các loại thuế quan có thể là
Trang 23Giáo trình Thương mại Quốc tế - 135-
điều hoàn toàn đáng mong muốn, đặc biệt khi nền kinh tế đang ở trong tình trạng không
sử dụng hết nguồn lực
5.3.3 Lý lẽ về “tình trạng thất nghiệp”
Theo một nghĩa nào đấy, thuế nhập khẩu là một loại trợ cấp việc làm Song nó có nghĩa rộng hơn và cũng có nghĩa hẹp hơn Nó có nghĩa hẹp hơn vì nó chỉ trợ cấp cho việc làm ở các ngành sản xuất trong nước có thể nhập khẩu, chứ không phải ở mọi ngành của nền kinh tế Đây là một khu vực hạn chế Nó cũng có nghĩa rộng hơn là vì trợ cấp không chỉ đối với việc làm mà còn cho các yếu tố sản xuất khác như đất đai, tiền vốn
và nguyên liệu, là những thứ có thể không cần thiết hoặc không tốt
Trợ cấp đối với sản xuất là tương đương với việc trợ cấp cho tất cả các yếu tố, chứ không phải cho lao động Điều không tốt ở đây là trợ cấp sản xuất cũng có nghĩa là một loại thuế tiêu dùng đối với hàng hóa có thể nhập khẩu, tạo ra một sự méo mó ở những nơi mà trước đây hoàn toàn không có Như vậy tình trạng thất nghiệp không hề biện minh cho việc áp dụng thuế quan
5.3.4 Lý lẽ về “phân phối thu nhập”
Theo nghĩa hình học, tác động về mặt phúc lợi xã hội khi đánh thuế quan sẽ có một sự chuyển dịch lợi ích từ những người tiêu dùng sang những người sản xuất để có thể bù lại sự mất mát Nếu được như vậy thì chế độ thuế quan là có lợi về mặt xã hội Nhưng ở đây có một vấn đề: Giả sử chúng ta có thể tìm thấy một phương pháp khác nào đấy để phân phối lại thu nhập cho những người mà xã hội muốn ưu tiên Việc chuyển dịch trực tiếp thu nhập cho họ sẽ có tất cả những cái được coi là ưu điểm mà không kéo theo một nhược điểm nào, vì những diện tích liên quan không bị mất đi Nếu có thể thuyết phục người tiêu dùng chuyển giao phần diện tích tăng thêm sang cho các cá nhân thích hợp, xã hội chắc chắn sẽ được lợi nhiều hơn là sử dụng thuế quan Thuế nhập khẩu
mà Nhật Bản và các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu (EC) đánh vào nông sản là một ví
dụ lý thú
5.5.5 Lý lẽ về “bảo vệ văn hóa, lối sống”
Có những quốc gia đề cao tính dân tộc trong tiêu dùng hàng hóa Một số quốc gia rất chú trọng giữ gìn truyền thống văn hóa, lối sống trong tiêu dùng Có những loại sản phẩm trở thành hàng hóa được mọi quốc gia chấp nhận nhưng các mặt hàng tiêu dùng
xa xỉ, cao cấp thì một số nước đang phát triển chưa thể chấp nhận Quan điểm này được
sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển để bảo vệ cho các biện pháp bảo hộ thương mại của mình Tuy nhiên, phải chăng chỉ có thuế quan mới ngăn chặn được hàng xa xỉ
Trang 24Giáo trình Thương mại Quốc tế - 136-
tràn vào từ nước ngoài? Câu trả lời rõ ràng là không, bởi vì các nhà sản xuất nội địa rất
có thể tập trung nguồn lực khan hiếm để sản xuất các sản phẩm xa xỉ đó một khi giá cả trong nước gia tăng vì thuế quan Cách tốt nhất trong những trường hợp này là nên đánh thuế tiêu dùng vào những ai có nhiều tiền sử dụng những hàng hóa đó Biện pháp này sẽ trực tiếp hơn và hiệu quả hơn so với đánh thuế nhập khẩu
TÓM TẮT
Các công cụ khác nhau trong chính sách thương mại đã được nghiên cứu và đưa đến nhận định rằng có rất nhiều phương tiện biến đổi thương mại so với khuôn mẫu ưu thế cạnh tranh của nó Người ta rất chú ý đến loại thuế quan đặc định, thuế quan tính theo giá trị, thuế ưu đãi và trợ cấp, hạn ngạch nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu tự nguyện Ngoài ra, rất nhiều hàng rào phi thuế quan không định lượng cũng đã được xem xét Các bước tiến hành từ tự do thương mại không cụ thể rõ ràng do có quá nhiều công cụ thương mại Những tác động của các công cụ thương mại cũng đã được phân tích Những quy định của WTO về các hàng rào thương mại phi thuế quan là phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới hiện đại và xã hội ngày càng phát triển văn minh
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Khái niệm hạn ngạch nhập khẩu, so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa thuế quan và hạn ngạch ?
2 Trình bày nội dung các hàng rào thương mại phi thuế quan định lượng?
3 Trình bày nội dung hàng rào thuế quan không định lượng?
4 Phân tích tác động của trợ cấp xuất khẩu
5 Phân tích những lý lẽ về chính sách bảo hộ thương mại?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Dennis R Appleyard, Alfred J Field, International Economics: Trade Theory
and Policy, second edition, Irwin, 1995
2 Dominick Salvatore, International Economics, fourth edition, Macmillan
Publishing Company, New York, 2001
3 World Trade Organization, World Trade Report 2009, 2009
4 Paul R Krugman, Maurice Obstfeld, Kinh tế học quốc tế: Lý thuyết và chính sách, NXB Chính trị Quốc gia, H., 1996
5 James Riedel, Kinh tế học quốc tế: Lý thuyết và thực tiễn, Ủy ban Kế hoạch
Nhà nước, Dự án VIE/90/007, H., 1993
Trang 25Giáo trình Thương mại Quốc tế - 137-
6 Bộ Thương mại, “Tài liệu bồi dưỡng Các cam kết gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới của Việt Nam”, 2007
7 Hoàng Thị Chỉnh (Chủ biên), Kinh tế quốc tế, Trường Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh, 2005
8 Nguyễn Thành Danh, Thương mại quốc tế, NXB Lao động – Xã hội, H.,
2005
Trang 26Giáo trình Thương mại Quốc tế - 138-
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
6.1 QUAN HỆ GIỮA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
6.1.1 Lý thuyết thương mại và sự phát triển
Chúng ta không cần chứng minh về sự hình thành và phát triển của thị trường thế giới nữa Nó đã là một hiện thực cơ bản, thậm chí cơ bản nhất, của thế giới hiện đại, đến mức có thể khẳng định rằng thị trường thế giới là “đất sống” của các quốc gia khác nhau, và quốc gia nào không đứng chân được ở đó thì bị đẩy ra rìa của dòng chảy văn minh loài người
Ngày nay, thị trường thế giới không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn ngày càng chủ yếu là nơi lưu thông của tư bản và của công nghệ “Thể trạng” kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển, ảnh hưởng lớn tới “sức khỏe” của thị trường thế giới, và ngược lại, mọi dao động lớn nhỏ của thị trường thế giới đều tác động mạnh mẽ tới tình hình kinh tế của mỗi nước
Thị trường thế giới không chỉ gồm những trao đổi giữa các quốc gia, mà còn bao gồm cả những thị trường bên trong của các quốc gia Vấn đề là những trao đổi thuộc hai loại đó gắn bó khăng khít với nhau và làm tiền đề cho nhau Không có những trao đổi giữa các quốc gia thì không thể tiến hành sản xuất có hiệu quả, và không có những trao đổi bên trong mỗi quốc gia thì cũng không thể có sự phát triển của những trao đổi giữa các quốc gia
Trên thực tế, sự phân chia nói trên cũng chỉ có tính chất ước lệ Theo tính toán của báo cáo về kinh tế thế giới 1990-2000, nếu lấy giá đồng đôla năm 1988 làm chuẩn, thị trường thế giới về các ngành công nghiệp quan trọng nhất (cơ khí, hóa học, gỗ, giấy, xe hơi, điện tử, đồ điện, dệt, kim loại cơ bản, vật liệu xây dựng) tăng từ 6.188 tỷ đôla năm
1973 lên 7.683 tỷ năm 1980, 9.825 tỷ năm 1988 và năm 2000 tăng lên tới 14.522 tỷ đôla Trong đó, những trao đổi giữa các quốc gia chiếm tỷ trọng cũng ngày càng tăng: từ 15,3% năm 1973 lên 19,7% năm 1980, rồi 22,2% năm 1988 và năm 2000 là 28,5% Trình độ quốc tế hóa sản xuất càng cao thì tỷ trọng này càng lớn
Tuy nhiên, những trao đổi bên trong của các quốc gia vẫn chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều (hơn 3/4) Chính vì thế, một số nhà kinh tế học chủ trương những lý thuyết về
“tăng trưởng nội sinh” Chẳng hạn, theo mô hình tăng trưởng của Solow, các nguồn tăng
Trang 27Giáo trình Thương mại Quốc tế - 139-
trưởng trước hết là sự tích lũy những nhân tố sản xuất (nói chung là lao động và tư bản)
và ở tiến bộ kỹ thuật trong nước, trong đó sự góp phần của tiến bộ kỹ thuật bị giảm đến mức tối đa, vì bị coi là nhân tố dôi ra, không thể giải thích được
Cách tính nói trên tuy có ích trong việc đánh giá và lý giải mức tăng trưởng kinh
tế của một nước nhất định, nhưng không thể đánh giá và lý giải một cách đầy đủ vì nó
bỏ qua hoặc coi nhẹ những nhân tố quan trọng nhất của sản xuất trong thời đại hiện nay
là tiến bộ công nghệ và kỹ thuật cũng như những tác động của thị trường thế giới (trong một số trường hợp, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore…, thị trường thế giới được coi là điểm xuất phát để tính toán sự tăng trưởng kinh tế của mình)
P Romer, một người theo thuyết “tăng trưởng nội sinh”, đã đưa ra một quan niệm rộng hơn và hợp lý hơn Ông không coi nhẹ những nhân tố tiến bộ kỹ thuật và tác động bên ngoài, nhưng theo ông, những nhân tố đó có ảnh hưởng tới đâu là do năng lực bên trong quyết định Chẳng hạn, về tiến bộ kỹ thuật, Romer cho rằng nó là kết quả của
sự tích lũy trí thức, gắn liền với việc sử dụng lao động có lao động trình độ rất cao
Như vậy, mô hình của Romer đặt ra một liên hệ chặt chẽ giữa trình độ của lao động được sử dụng vào việc tìm tòi với mức tăng năng suất Vấn đề bây giờ không phải
là số lượng vốn nhân lực mà là chất lượng nguồn nhân lực Nhiều người nhưng với trình
độ thấp, đó sẽ là nhân tố kìm hãm hiệu suất của nền kinh tế Chính điều đó cắt nghĩa phần nào sự “cất cánh” khó khăn của các nền kinh tế kém phát triển đang đụng phải những thách thức dân số khổng lồ, và cũng giải thích được những giai đoạn tăng trưởng tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng của các nền kinh tế phát triển
Hơn nữa, sự tham gia thị trường thế giới hiện nay đòi hỏi những nhân tố rất mới
mẻ và cũng rất to lớn mà nhiều nước kém phát triển không thể có sẵn Trước hết đó là công nghệ mới để cho những sản phẩm của mình có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, tiếp đó là để những sản phẩm tiêu dùng trong nước cũng chịu được sức ép cạnh tranh của những sản phẩm từ bên ngoài đưa vào ngày càng tăng (cả về số lượng và chất lượng) Công nghệ mới lại đòi hỏi hai nhân tố không thể thiếu: (1)vốn để trang bị kỹ thuật mới (từ sản xuất đến cấu trúc hạ tầng) và (2) trình độ lao động cao để sử dụng công nghệ và kỹ thuật mới (mà nhân tố này lại đòi hỏi những chi phí đào tạo và đào tạo lại rất lớn, nghĩa là cũng đòi hỏi vốn lớn)
Điều gì đã làm thương mại phát triển như ngày nay? Đó là sự bùng nổ tự do hóa thương mại toàn cầu Từ năm 1950 đến 1997, tổng sản phẩm thế giới tăng 6 lần, trong khi khối lượng mậu dịch tăng 16 lần Sản lượng công nghiệp tăng 9 lần, trong khi khối lượng trao đổi các sản phẩm công nghiệp tăng 31 lần Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP của thế giới
Trang 28Giáo trình Thương mại Quốc tế - 140-
trong thập niên 1990 cao hơn 60% so với tỷ lệ năm 1913 Năm 1997, xuất khẩu hàng hóa
và dịch vụ thương mại thế giới đạt 6.500 tỷ đôla, bằng 1/5 sản lượng toàn cầu Rõ ràng thương mại đã quay trở lại phục vụ cho sự phát triển của công nghiệp
Sự phát triển của khoa học công nghệ và kỹ năng quản lý cũng tác động tích cực tới thương mại Sự phát triển của những ngành mới, lĩnh vực kinh doanh mới, sự gia tăng của các chủ thể tham gia kinh doanh và số lượng các hàng hóa, sự phát triển của công nghệ thông tin chính là những nguyên nhân đang làm phức tạp hóa các mối quan
hệ thương mại Các công ty đa quốc gia đã tạo ra cuộc cách mạng về công nghiệp cũng như thách thức sản xuất trên phạm vi toàn cầu Năm 1992, trao đổi thương mại trong nội
bộ các tập đoàn lớn chiếm tới 40% kim ngạch mậu dịch Mỹ
Tự do hóa thương mại được khởi xướng ở Bắc Mỹ và châu Âu Nhiều người lúc
đó lo ngại rằng tự do hóa sẽ giảm sự bảo hộ cho các ngành trong nước, qua đó tăng thất nghiệp và giảm tăng trưởng Thực tiễn cho thấy tự do hóa luôn gắn với tăng trưởng cao
và thất nghiệp thấp
Ở châu Á, tiếp sau Nhật Bản là bốn con hổ gồm Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông
và Singapore đã theo đuổi chính sách hướng ngoại, thực hiện tự do hóa từng bước Kết quả là bốn con hổ này đã tăng thu nhập đầu người từ mức 20% so với thu nhập ở các nước công nghiệp năm 1965 lên tới 70% năm 1995 Con đường hướng ngoại được tiếp nối với Chile, Indonesia, Malaysia và Thái Lan vào đầu thập niên 1970 và sau đó là Trung Quốc vào đầu thập niên 1980 Để so sánh, lấy ví dụ Ấn Độ là nước hướng nội, khi GATT ra đời, Ấn Độ có mức xuất khẩu hàng đầu trong các nước đang phát triển, nhưng vào những năm 1980, Ấn Độ đã bị ngay cả Thái Lan và Malaysia vượt xa, đó là chưa kể đến Hàn Quốc hay Đài Loan
Sự thành công của các nước châu Á nhờ xuất khẩu đã làm gia tăng mức sống ở các quốc gia này Theo WTO, số người sống ở mức nghèo khổ ở châu Á (thu nhập dưới 1 đôla/ngày) đã giảm từ 700 triệu người xuống còn 350 triệu người trong giai đoạn 1975-
1995
Rõ ràng xu hướng tự do hóa thương mại là tất yếu Nó tạo lợi thế cho các nền kinh
tế qua việc khai thác lợi thế so sánh, lợi thế theo quy mô, giảm giá hàng tiêu dùng, tăng cường sức cạnh tranh, thu hút chuyển giao công nghệ và nắm bắt thông tin Thương mại quốc tế là một trong những nhân tố quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế
Theo công thức tính tổng sản phẩm quốc dân, GDP = C+G+I+(E-M)
Trong đó:
Trang 29Giáo trình Thương mại Quốc tế - 141-
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội C: Tiêu dùng cuối cùng của dân cư G: Chi tiêu của chính phủ
I: Tăng đầu tư trong năm (tích lũy tài sản cơ bản) E-M: xuất khẩu ròng = xuất khẩu –nhập khẩu
Tổng giá trị sản xuất là hàm số của xuất khẩu (hàng hóa và dịch vụ) Nếu các điều kiện khác không thay đổi, về giá trị tuyệt đối, xuất khẩu tăng thêm bao nhiêu sẽ làm cho tổng giá trị sản xuất tăng lên tương ứng với một tỷ lệ nhất định
GDP là một hàm số của tổng giá trị sản xuất, do đó cũng sẽ là hàm số, thường là hàm số bậc nhất, đồng biến, cho nên GDP cũng là hàm số của xuất khẩu
6.1.2 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế
Thứ nhất, trong mỗi giai đoạn phát triển, thương mại quốc tế bao giờ cũng được
đánh giá cao vì nó giúp mỗi quốc gia có được các loại hàng hóa mà nước đó không sản xuất được (hoặc không có) và tạo ra những hệ quả khả quan như sau: (i) chuyển giao công nghệ, nhờ đó nâng cao phúc lợi kinh tế cho mọi người dân; (ii) kích cầu (tác động kiểu Keynes tới nền kinh tế) thông qua hoạt động của các số nhân, do đó nâng cao hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; (iii) đem lại lợi ích không chỉ cho các doanh nghiệp (tăng doanh thu và lợi nhuận) do ngoại thương mở rộng thị trường, khai thác được lợi thế kinh tế nhờ quy mô, mà còn kích thích được hoạt động của toàn bộ nền kinh tế; (iv)
mở rộng khả năng lựa chọn cho người tiêu dùng; (v) giảm chi phí đầu vào sản xuất như nguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian, góp phần làm giảm tổng chi phí sản xuất
Thứ hai, thương mại quốc tế phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của thế
giới Điều này đã được chứng minh cả trong lý thuyết (như lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, lý thuyết lợi thế tương đối của David Ricardo, lý thuyết H-O của Heckscher và Ohlin, v.v ) và trong thực tiễn thương mại quốc tế thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất dựa trên lợi thế so sánh của mỗi nước, làm cho các nước sử dụng nguồn lực của mình một cách hiệu quả nhất Đến lượt mình, chuyên môn hóa lại thúc đẩy tăng năng suất lao động, góp phần làm tăng năng lực sản xuất, do đó thúc đẩy sự phát triển của ngoại thương Như vậy, thương mại quốc tế ngày càng làm tăng mức sống của các quốc gia nói riêng và của cả thế giới nói chung
Thứ ba, thương mại quốc tế làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi nhất cho
mỗi quốc gia Do đòi hỏi tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế và phân công lao động quốc
tế, mỗi quốc gia khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới đều phải có sự thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất các sản phẩm hàng hóa xuất khẩu bắt nguồn từ trình độ phát
Trang 30Giáo trình Thương mại Quốc tế - 142-
triển kinh tế, nguồn lực và lợi thế của mỗi quốc gia Với sự thay đổi đó, kim ngạch xuất khẩu của đất nước sẽ từng bước được nâng cao, vì vậy sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển
Thứ tư, thương mại quốc tế nâng cao hiệu quả của nền kinh tế Do thương mại
quốc tế phân bổ có hiệu quả nguồn lực trong nước, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tận dụng triệt để lợi thế của quốc gia và sử dụng những nguồn đầu vào cạnh tranh của thế giới nên hiệu quả của nền kinh tế không ngừng được nâng cao, vì vậy năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng cũng không ngừng tăng lên
Thứ năm, thương mại quốc tế còn có mối liên hệ khăng khít với đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) Trong nhiều trường hợp, thương mại quốc tế có tác dụng thu hút FDI
vì để khai thác thị trường nước ngoài có hiệu quả, các nhà đầu tư sẽ tiến hành đầu tư ra nước ngoài Trong những trường hợp khác, FDI sẽ thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển do FDI vào kéo theo nhiều nhu cầu nhập khẩu máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu và sản phẩm trung gian phục vụ cho quá trình sản xuất, đồng thời các doanh nghiệp
có FDI sẽ xuất khẩu được những sản phẩm của mình nhờ khai thác được lợi thế từ nước nhận đầu tư
Khi các nước tiến hành cải cách và hội nhập vào thị trường thế giới, các nước đang phát triển “toàn cầu hóa nhiều hơn” bắt đầu tăng trưởng nhanh chóng, với tốc độ tăng trưởng tăng ổn định từ 2,9% trong thập niên 1970, lên 5% trong thập niên 1990 Các nước này ở trong một “vòng tròn thành công” bao gồm mức tăng trưởng cao hơn và sự thâm nhập hơn nữa thị trường thế giới Dường như tăng trưởng và thương mại có tác dụng củng cố lẫn nhau, đồng thời các chính sách mở rộng giáo dục, giảm hàng rào thương mại và cải cách các khu vực chiến lược có tác dụng củng cố cả tăng trưởng và thương mại
Việc có tồn tại một mối liên hệ nhân quả giữa mở cửa thương mại với tốc độ tăng trưởng cao hơn không phải là vấn đề Ở các nước có thu nhập thấp đã thâm nhập vào thị trường toàn cầu, hạn chế khả năng tiếp cận các thị trường này sẽ có hại đối với tăng trưởng, không phụ thuộc vào quá trình công nghiệp hóa có được khởi đầu bằng sự mở cửa hay không Tuy nhiên, việc mở cửa có tác dụng hội nhập một nền kinh tế vào thị trường rộng lớn hơn, và kể từ Adam Smith đến nay, các nhà kinh tế học đều cho rằng, quy mô của thị trường có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng Một thị trường lớn hơn cho phép tiếp cận tới nhiều ý tưởng hơn, cho phép đầu tư vào các khoản đầu tư chi phí
cố định quy mô lớn và tạo điều kiện cho sự phân công lao động tốt hơn Một thị trường lớn hơn cũng mở rộng khả năng lựa chọn Khả năng lựa chọn rộng mở hơn đối với những người tiêu dùng có thu nhập cao không giúp ích gì cho công việc giảm nghèo đói, nhưng sự lựa chọn rộng rãi hơn có thể có ý nghĩa với các doanh nghiệp nhiều hơn là với
Trang 31Giáo trình Thương mại Quốc tế - 143-
người tiêu dùng Chẳng hạn, khi Ấn Độ tiến hành tự do hóa thương mại, các doanh nghiệp ở nước này đã có thể mua các thiết bị máy móc có chất lượng tốt Các ảnh hưởng tương tự cũng được nhận thấy đối với tự do hóa nhập khẩu của Trung Quốc Cuối cùng một thị trường lớn hơn làm tăng cạnh tranh, và điều này có thể khuyến khích sự đổi mới Có một số bằng chứng cho thấy, sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới có vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế nhỏ và nghèo hơn là đối với các nền kinh tế lớn như
Ấn Độ hay Trung Quốc
Tóm lại, có thể nói rằng, kể từ năm 1980, sự hội nhập toàn cầu của các thị trường hàng hóa đã cho phép các nước đang phát triển với vị trí, chính sách, thể chế và cơ sở hạ tầng tương đối tốt, tận dụng được nguồn lao động dồi dào của mình để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong một số ngành chế tạo và dịch vụ Lợi thế ban đầu mà các nước này có được nhờ lao động rẻ trong một số trường hợp đã mở đầu cho một vòng tròn các lợi ích
có được từ thương mại nối tiếp nhau Chẳng hạn, lần đầu tiên thâm nhập thị trường phần mềm thế giới, thành phố Bangalore đã tận dụng được lợi thế so sánh nhờ lực lượng lao động rẻ và được đào tạo của mình Khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp bị thu hút
về thành phố, thì nó lại bắt đầu nhận được tính kinh tế nhờ tập trung Doanh thu xuất khẩu tăng lên cho phép tài trợ việc nhập khẩu nhiều hơn, do vậy, vừa làm tăng cạnh tranh lại vừa mở rộng được khả năng lựa chọn Có một số bằng chứng là, các ảnh hưởng của thương mại này làm tăng không chỉ mức thu nhập thực tế mà còn cả tỷ lệ tăng trưởng Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng cũng rất phức tạp Cần thấy rằng, chỉ riêng thương mại chắc chắn không đủ đảm bảo cho tăng trưởng Phải kết hợp việc mở rộng thương mại với nhiều chính sách khác (huy động vốn, ổn định chính trị và cải thiện môi trường kinh doanh) thì phát triển kinh tế mới bền vững với tốc độ cao
6.1.3 Thực tiễn của thương mại quốc tế
Năm 1988, tổng giá trị thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ đạt gần 3.000
tỷ đôla Con số to lớn này vẫn còn thấp hơn nhiều so với thu nhập quốc dân của nước
Mỹ trong năm này (khoảng 4.200 tỷ đôla) Nó chiếm khoảng 1/6 tổng thu nhập của thế giới Năm 1997, thương mại quốc tế đã tăng lên khoảng 7.200 tỷ đôla trong thương mại hàng hóa chiếm hơn 6.000 tỷ đôla và thương mại dịch vụ chiếm khoảng 1.200 tỷ
Từ năm 1945, trong nhiều năm, thương mại quốc tế đã có nhịp độ tăng trưởng nhanh hơn thu nhập của thế giới Hoạt động thương mại trên thế giới về hàng công nghiệp chế tạo chế biến tăng 7% mỗi năm từ năm 1950 đến năm 1986; trong khi mức tăng thu nhập hàng năm chỉ khoảng 4% và mức tăng của sản xuất công nghiệp là 5% Phần lớn động lực thúc đẩy mở rộng thương mại bắt nguồn từ việc từng bước cắt giảm hàng rào thuế quan của đa số các nước phát triển Những nước mở rộng xuất khẩu nhanh nhất từ năm 1950 bao gồm Italia, Nhật Bản và Tây Đức (đều là những nước bị đảo
Trang 32Giáo trình Thương mại Quốc tế - 144-
lộn do thua trận trong chiến tranh thế giới) và các nước, vùng lãnh thổ khác có tốc độ gia tăng thu nhập quốc dân cao như Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Brazil và Tây Ban Nha
Cơ cấu địa lý trong thương mại cũng thay đổi theo khía cạnh khác, buôn bán giữa các nước láng giềng tăng nhanh một cách đột biến Buôn bán song phương vượt qua biên giới giữa Canada – Mỹ, giữa Pháp, Hà Lan, Anh và Tây Đức, giữa Nhật Bản và các nước công nghiệp phát triển đã tăng nhanh hơn so với thương mại liên lục địa
Đối với các nước Đông Á, mức độ phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế trong nước vào thương mại quốc tế còn lớn hơn nhiều so với các khu vực khác trên thế giới Tỷ lệ kim ngạch ngoại thương của các nước Đông Á và Thái Bình Dương so với GDP trong giai đoạn từ 1990 đến 2000 đã tăng từ 48,8% lên 65,6%, trong khi tỷ lệ tương ứng của khu vực Mỹ Latinh và vùng Caribbean là 23,2% và 37,7%, khu vực Trung Đông và Bắc Phi là 45,4% và 51,6%
Hầu như tất cả các nước đều đang ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hoạt động mậu dịch nhằm duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm công ăn việc làm Tuy nhiên, từ trước tới nay, mậu dịch lại luôn đóng vai trò một động cơ tăng trưởng mạnh mẽ hơn cho một số nước so với các nước khác Mậu dịch quốc tế giữ vị trí quan trọng trong sự hình thành của “điều kỳ diệu” Đông Á và duy trì tính năng động của các nền kinh tế trong khu vực Ở một thái cực đối lập, vùng Nam Sahara châu Phi lại đang phải đương đầu với nạn suy thoái kinh tế triền miên, một phần do môi trường mậu dịch của khu vực này không thuận lợi
Trong những năm 1980, tốc độ xuất khẩu hàng hóa của Đông Á tăng ở mức trung bình 10% hàng năm, gấp hơn hai lần tốc độ tăng trưởng chung của thế giới Xu hướng này vẫn tiếp tục phát huy trong những năm 1990 và đặc biệt tăng mạnh với thành tích của Trung Quốc và Việt Nam Người ta dự đoán tình hình sẽ tiến triển tốt trong thế kỷ tới Ngược lại, vùng Nam Sahara châu Phi đạt tốc độ tăng tưởng hàng hóa xuất khẩu chỉ vượt con số không một chút trong những năm 1980 và tăng lên không đáng kể trong những năm 1990 Hàng hóa xuất khẩu chiếm tới 1/5 thu nhập của khu vực này Điều này
có thể giải thích cho sự giảm sút thảm hại về mức sống của người dân trong khu vực Những trái ngược này phản ánh sự tác động qua lại giữa chính sách đối nội với các nhân
tố từ bên ngoài
Một số vấn đề nan giải mà châu Phi đang gặp phải có thể bắt nguồn từ sự bất lực trong quản lý kinh tế Những biện pháp cưỡng đoạt của các ủy ban chuyên trách của nhà nước, như đánh thuế quá cao các nhà sản xuất, duy trì quá cao giá trị đồng tiền làm phá hoại môi trường cạnh tranh trong xuất khẩu hàng hóa và làm giảm thu nhập của các nhà
Trang 33Giáo trình Thương mại Quốc tế - 145-
sản xuất trong nước, đã dẫn đến những mất mát lớn về thị phần các mặt hàng nguyên liệu Đồng hành với tình trạng này, nợ nần và khủng hoảng kinh tế toàn diện đã đẩy khu vực này tới chỗ suy thoái về cơ sở hạ tầng kinh tế và bắt đầu một quá trình “bóp nghẹt hàng nhập khẩu” Nguyên nhân là do sự khan hiếm ngoại tệ không cho phép các nhà sản xuất nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu Nhìn tổng thể, hàng hóa nhập khẩu những năm 1980 giảm trung bình khoảng 5% mỗi năm Song việc vùng Nam Sahara tiếp tục phụ thuộc vào xuất khẩu nguyên liệu đã làm cho khu vực này trở nên dễ bị tổn thương như vậy
Khối các nước đang phát triển đã nâng cao được thị phần của họ trong nhóm hàng chế tạo xuất khẩu, hiện chiếm gần 25% trong tổng lượng trên toàn thế giới, trong khi vào khoảng đầu những năm 1970, con số này chỉ là 5% Việc tăng trưởng kinh tế có quan hệ mật thiết với việc giảm bớt sự phụ thuộc vào các mặt hàng nguyên liệu Ở các nước đang phát triển mà hàng hóa chế tạo chiếm tới 50% tổng lượng hàng hóa xuất khẩu thì trong vòng 20 năm trở lại đây, họ luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao hơn so với các nước xuất khẩu nguyên liệu Từ những năm 1980-1992, các nước xuất khẩu hàng
cơ khí chế tạo tăng trưởng ở tốc độ trung bình 7%/năm, nhanh gấp bốn lần so với các nước xuất khẩu nguyên liệu Do nền mậu dịch quốc tế đang ngày càng đòi hỏi các mặt hàng có hàm lượng trí tuệ cao nên xu hướng phân cực này sẽ còn tiếp diễn
6.2 ĐIỀU KIỆN THƯƠNG MẠI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
6.2.1 Điều kiện thương mai
Điều kiện thương mại quốc tế có thể được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, điều kiện thương mại là những quy định, điều kiện, tiêu chuẩn ràng buộc của quốc gia này đối với quốc gia kia trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa
Ví dụ, các sản phẩm nông nghiệp khi nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản phải đạt “Tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản - JAS” Tiêu chuẩn này quy định các tiêu chuẩn
về chất lượng, các quy tắc về việc ghi nhãn chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS Ngày nay, hệ thống JAS đã trở thành cơ sở cho người tiêu dùng trong việc lựa chọn các thực phẩm chế biến Danh sách các sản phẩm được điểu chỉnh bởi luật JAS bao gồm: đồ uống, thực phẩm chế biến, dầu ăn, mỡ và các nông lâm sản chế biến Một sản phẩm bị ràng buộc phải tuân theo các quy định về dán nhãn chất lượng JAS khi có đầy đủ các điều kiện sau:
Trang 34Giáo trình Thương mại Quốc tế - 146-
- Sản phẩm phải là một nông sản hoặc là nông sản đã có hoặc trong tương lai gần sẽ có một tiêu chuẩn JAS được quy định cho nó
Theo nghĩa hẹp, điều kiện thương mại quốc tế là những điều kiện thực tế để một quốc gia bán sản phẩm xuất khẩu và mua sản phẩm nhập khẩu của mình, nó bằng tỷ lệ của chỉ số giá cả xuất khẩu so với chỉ số giá cả nhập khẩu
Điều kiện thương mại (N) chính bằng tỉ số giữa chỉ số giá cả xuất khẩu (PX) của một nước với chỉ số giá cả nhập khẩu (PM) nhân với 100 Nó cho ta biết % của điều kiện thương mại
% 82 81 100
* 110
90 100
Điều này có nghĩa là từ năm 1990 đến năm 2000 mức giá cả xuất khẩu của quốc gia này giảm 18.18% so với mức giá nhập khẩu
Nếu giá xuất khẩu tăng nhanh hơn giá nhập khẩu, điều kiện thương mại sẽ tăng lên Điều này hàm ý rằng đã có ít lượng hàng hóa xuất khẩu hơn phải từ bỏ để đổi lấy một lượng hàng hóa nhập khẩu như cũ
Nếu giá nhập khẩu tăng nhanh hơn giá xuất khẩu, điều kiện thương mại bị suy giảm hàm ý rằng cần phải có một lượng hàng hóa xuất khẩu nhiều hơn bị bán đi để có
đủ tiền mua hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu với số lượng như cũ
Trang 35Giáo trình Thương mại Quốc tế - 147-
Điều kiện thương mại chịu sự ảnh hưởng của mức giá nhập khẩu và xuất khẩu Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát đều có ảnh hưởng trực tiếp đến bất kỳ sự thay đổi nào trong điều kiện thương mại
Hộp 6.1 Giá dầu và điều kiện thương mại
Rất nhiều nước đang phát triển phụ
thuộc vào việc xuất khẩu dầu Và bất kỳ
một sự thay đổi nào trên các thị trường
hàng hóa quốc tế cũng gây ra các vấn đề
nghiêm trọng cho điều kiện thương mại
của những nước này Khi giá dầu bị
giảm vào năm 1998 các nước đang phát
triển phải đối mặt với một vẫn đề lớn là
phải xuất khẩu nhiều dầu hơn để có thể
trả cho một lượng nhập khẩu như cũ
Sự xấu đi của điều kiện thương mại đã
ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc
sống ở những nước này Tuy nhiên
trong năm nay, giá dầu đã tăng nhanh trở lại góp phần cải thiện điều kiện thương mại của những nước xuất khẩu dầu
Nguồn : UNCTAD Trade and Development Report (2005)
Ngoài ra, khi xem xét tới khả năng nhập khẩu dựa vào xuất khẩu, chúng ta căn cứ
trên điều kiện thương mại thu nhập (I) Điều kiện thương mại thu nhập được tính bằng
công thức:
X X
M
P
P
I * * (trong đó QX là lượng xuất khẩu)
Trong ví dụ trên, nếu QX tăng từ 100 năm 1990 lên 150 năm 2000 thì điều kiện thương mại thu nhập tăng lên đến: *150 122.73%
110
90
1990 đến năm 2000 khả năng nhập khẩu của quốc gia (dựa vào doanh thu xuất khẩu) tăng 22.73% mặc dù PX/PM giảm Sự thay đổi điều kiện thương mại thu nhập là rất quan trọng đố với các nước đang phát triển vì xuất khẩu tăng thì quốc gia sẽ có điều kiện mở rộng nhập khẩu
Trang 36Giáo trình Thương mại Quốc tế - 148-
Hộp 6.2 Các yếu tố tác động đến điều kiện thương mại
Trong thương mại quốc tế, điều kiện thương mại biểu thị tỷ lệ giữa mức giá của hàng hóa xuất khẩu của một nước với mức giá của hàng hóa mà nó nhập khẩu Khi thương mại thế giới chưa được tự do hóa, điều kiện thương mại giữa hai quốc gia có thể được quyết định bởi các yếu tố sau:
- Sở thích: để có sự trao đổi thương mại giữa hai quốc gia, mỗi quốc gia đều phải có
nhu cầu đối với hàng hóa của nước kia, đồng thời phải sẵn sàng hy sinh một lượng nhất định hàng hóa của mình để đổi lấy hàng hóa của nước kia Đương nhiên, sở thích tiêu dùng một hàng hóa của một quốc gia phải lớn hơn sự hi sinh không tiêu dùng hàng hóa đó ở quốc gia khác thì thương mại mới diễn ra Nhu cầu hay mức độ
ưa thích tiêu dùng hàng hóa của một nước ở một nước khác là một yếu tố tác động đến điều kiện thương mại
- Sự khan hiếm: số lượng tương đối của mỗi loại hàng hóa có thể dược trao đổi là một
yếu tố tác động đến điều kiện thương mại
- Chất lượng hàng hóa: đây là một yếu tố quan trọng quyết định giá trị hàng hóa và do
đó, ảnh hưởng đến điều kiện thương mại Chất lượng ở đây không chỉ bao gồm chất lượng về mặt kỹ thuật mà còn bao gồm của giá trị sử dụng của hàng hóa
- Chính sách của chính phủ: các khoản thuế mà chính phủ đánh vào hàng hóa họ bán
hoặc mua cũng tác động đến điều kiện thương mại, bởi khi trao đổi, các đối tác thương mại phải xác định mức giá cho hàng hóa của mình trên cơ sở tính đến các khoản thuế họ phải nộp cho chính phủ Nếu chính phủ có những điều kiện nghiêm ngặt về hoạt động thương mại thì điều này cũng tác động đến quyết định về giá cả của hàng hóa Chẳng hạn, nếu nước A có điều luật quy định hành vi gian lận thương mại phải bị phạt bồi thường, các đối tác thương mại ở quốc gia đó sẽ phải tính toán
kỹ lưỡng các hành vi của mình và điều này tác động đến cả quyết định về giá cả hàng hóa của họ
- Khả năng thuyết phục: Thương mại là một quá trình thương lượng, thương lượng về
chủng loại hàng hóa, thủ tục trao đổi, thời hạn trao đổi và quan trọng hơn cả là giá cả trao đổi Nếu nước A có khả năng cao hơn trong việc thuyết phục nước B về giá trị và chất lượng của mình, họ có thể được hướng điều kiện thương mại có lợi hơn trong trao đổi với nước B
Tuy nhiên, trong điều kiện thương mại tự do hóa đa phương như hiện nay, hàng hóa được cung cấp và tiêu dùng bởi nhiều nhà sản xuất ở nhiều nước, một nền kinh tế
Trang 37Giáo trình Thương mại Quốc tế - 149-
nhỏ không có khả năng tác động đến mức giá quốc tế cũng có nghĩa là không có khả năng làm thay đổi điều kiện thương mại của mình Ngược lại, một nền kinh tế lớn có thể dùng chính sách tác động đến nhu cầu xuất, nhập khẩu của mình và thông qua đó tác động đến mức giá thế giới và làm thay đổi điều kiện thương mại theo hướng có lợi cho mình Ví dụ, khi Mỹ đưa ra chính sách hạn chế nhập khẩu ô tô, cầu về ô tô trên thị trường thế giới sẽ giảm, kéo giá quốc tế về xe hơi xuống và như vậy làm giá xe hơi Mỹ nhập khẩu trở nên rẻ hơn Khi giá hàng hóa xuất khẩu của Mỹ không thay đổi, giá nhập khẩu rẻ đi sẽ cải thiện điều kiện thương mại cho Mỹ
Nguồn: Học viện Quan hệ quốc tế, Giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Chính trị quốc
Các nước đang phát triển có lý do đúng đắn khi cho rằng các thỏa thuận thương mại không nên áp đặt các tiêu chuẩn lao động và môi trường lên các nước nghèo Các cộng đồng trên toàn thế giới hiện đang cố gắng cải thiện các tiêu chuẩn sống, các điều kiện lao động và môi trường Các nước giàu có thể sử dụng những biện pháp tích cực để
hỗ trợ công việc này Tuy vậy, một sự cam kết thực tế và tích cực đòi hỏi phải có các nguồn lực thực tế Việc áp dụng các điều khoản trừng phạt thương mại đối với các nước không đáp ứng được các tiêu chuẩn của thế giới thứ nhất trong các điều kiện về lao động
và môi trường có thể có những ảnh hưởng rất tai hại lên mức sống của người nghèo, và
vì vậy, nó không có tính xây dựng Hơn nữa, một nguy cơ lớn là các biện pháp trừng phạt thương mại nhằm thực thi các tiêu chuẩn này sẽ trở thành những hình thức bảo hộ mới, gây thiệt hại cho người nghèo Quan điểm chung hơn ở đây là các thỏa thuận
Trang 38Giáo trình Thương mại Quốc tế - 150-
thương mại cần cho phép các nước áp dụng những cách tiếp cận thể chế khác nhau đối với các tiêu chuẩn môi trường, bảo vệ xã hội, bảo tồn văn hóa và các vấn đề khác Các nước toàn cầu hóa có sự đa dạng đáng kể về thể chế và văn hóa, và chúng ta không thấy
có lý do gì để sự hội nhập kinh tế lại không tôn trọng tính đa dạng này
Thứ hai, vì dịch vụ phân phối có quan hệ chặt chẽ với thương mại hàng hóa nên
cơ chế thương mại hàng hóa chắc chắn có ảnh hưởng tới lĩnh vực phân phối Trong khi
tự do hóa thương mại hàng hóa tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại dịch vụ phân phối thì sự tồn tại của các rào cản đối với thương mại hàng hóa lại có ảnh hưởng tiêu cực mang tính lây lan đối với thương mại dịch vụ phân phối Những hạn chế dưới dạng thủ tục hải quan phức tạp, tiêu chuẩn hàng hóa khác nhau, những quy định không cần thiết đối với việc cấp chứng nhận và kiểm tra hàng hóa là một vài trong số những rào cản phi thuế quan đã làm ảnh hưởng xấu đến dịch vụ phân phối Bằng chứng cho thấy sự hài hòa hóa kỹ thuật, việc xóa bỏ những rào cản gây ra và việc dỡ bỏ kiểm soát tại biên giới có thể thúc đẩy mạnh mẽ việc quốc tế hóa dịch vụ phân phối Thêm vào đó, nếu việc tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mang lại lợi ích cho người bán lẻ và người nhượng quyền kinh doanh, những người dựa vào thương hiệu hay nhãn hiệu, thì
sự yếu kém trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ chắc chắn sẽ gây ra những ảnh hưởng bất lợi Điều này còn tồn tại vấn đề là quyền sở hữu trí tuệ cho phép việc phân đoạn thị trường thông qua ngăn cấm nhập khẩu song song, nên thương mại hàng hóa và tiếp đó
là dịch vụ phân phối cũng có thể bị ảnh hưởng
6.3 CÁC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI
Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đã có 3 trường phái lý thuyết chính ảnh hưởng đến chiến lược phát triển kinh tế liên quan đến thương mại của các quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển (chiến lược phát triển kinh tế này còn được gọi các chiến lược công nghiệp hóa) Đó là các trường phái: “cấu trúc luận”, “thuyết tự
do mới” và những quan điểm mới của kinh tế học phát triển Trong khi “cấu trúc luận”
là nền tảng lý thuyết cho chiến lược công nghiệp hóa dựa vào thay thế nhập khẩu thì
“thuyết tự do mới” lại cung cấp cơ sở lý luận cho chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu Cụ thể như sau:
6.3.1 Chiến lược công nghiệp hóa dựa vào thay thế nhập khẩu
6.3.1.1 Hoàn cảnh ra đời (cơ sở lý luận)
Chiến lược công nghiệp hóa dựa vào thay thế nhập khẩu (Import Substitution Industrialization, ISI) được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết của trường phái “cấu trúc luận” Trường phái này được hình thành vào những năm 1950-1960
Trang 39Giáo trình Thương mại Quốc tế - 151-
Theo quan điểm của trường phái “Cấu trúc luận”, kinh tế của các nước đang phát triển chịu nhiều thiệt thòi do bị kinh tế của các nước trung tâm tư bản chi phối, bóc lột,
và làm cho méo mó Kinh tế của các nước đang phát triển không có một cấu trúc, một nền kinh tế đúng nghĩa mà nó chỉ là nền kinh tế ngoại vi cung cấp nguyên liệu, thị trường, nguồn lao động rẻ cho các nước trung tâm Với một cơ cấu lệch như vậy, các
nước đang phát triển không thể thoát khỏi nghèo đói và lạc hậu Vì vậy, các nước đang
phát triển cần tái cấu trúc lại cơ cấu kinh tế và tự xây dựng nền kinh tế của mình Đồng thời
các nước đang phát triển cũng cần xây dựng nền công nghiệp xương sống của mình và hạn
chế tối đa sự xâm nhập của các nước phát triển
Ngoài ra, các nhà tư tưởng của “cấu trúc luận” khẳng định rằng thị trường không
đủ để đảm bảo một sự phát triển kinh tế ổn định và vững chắc cho các nước đang phát triển, nó cũng không thể giúp các nước đang phát triển cải tạo được cơ cấu kinh tế lạc hậu của mình, chính vì vậy nhà nước cần đóng vai trò tích cực để thúc đẩy quá trình phát triển, thực hiện việc chuyển đổi các nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, tăng tích luỹ, đầu tư
Vận dụng những quan điểm lý thuyết này, chính phủ nhiều nước đang phát triển
đã xây dựng chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu Chiến lược này được hầu
hết các nền kinh tế lớn của Mỹ la tinh và một số nền kinh tế Đông Á áp dụng từ những năm 1950, các nước Đông Á khác từ những năm 1960, 1970 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, đối với các nước mới dành được độc lập ở Mỹ la tinh, chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu được xem là một chiến lược lý tưởng có thể giúp họ cùng một lúc đạt được nhiều mục tiêu
Một trong những mục tiêu hàng đầu của chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là mang lại sự độc lập lớn hơn về kinh tế cho các nước mới dành được độc lập về chính trị Các nhà lãnh đạo chính trị ở các quốc gia này hy vọng rằng ISI sẽ góp phần tăng cường sức mạnh kinh tế và quân sự cho họ - một điều kiện thiết yếu để đảm bảo an ninh Mục tiêu thứ hai, không kém phần quan trọng của ISI là tăng trưởng kinh tế
và phát triển Thực tiễn của thế kỷ XIX và XX đã cung cấp các bằng chứng cho thấy nhiều quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp (cuối thế kỷ XIX), Nhật Bản (đầu thế kỷ XX) đã phát triển và trở nên thịnh vượng nhờ áp dụng các chính sách bảo hộ, đánh thuế cao vào hàng công nghiệp nhập khẩu
6.3.1.2 Nội dung
Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu là một chiến lược phát triển kinh tế dựa trên tiền đề rằng môt nước đang phát triển nên tập trung phát triển các ngành công nghiệp trong nước để sản xuất ra những hàng hóa mà nó đang phải nhập khẩu (chủ yếu
Trang 40Giáo trình Thương mại Quốc tế - 152-
là các hàng hóa tiêu dùng) để phục vụ tiêu dùng trong nước Với chiến lược này, chính phủ cung cấp các khoản hỗ trợ và dựng nên những rào cản thuế quan rất cao nhằm bảo
hộ các ngành công nghiệp trong nước Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu khuyến khích một chế độ kiểm soát tiền tệ và duy trì đồng nội tệ cao nhằm tạo thuận lợi cho nhập khẩu máy móc và linh, phụ kiện
Để thực hiện ISI, các nước đang phát triển đã áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu, một mặt nhằm chuyển hướng nhu cầu của người tiêu dùng sang các nhà sản xuất trong nước, mặt khác nhằm tận dụng toàn bộ nguồn ngoại tệ thu được từ việc xuất khẩu các sản phẩm thô như tài nguyên thiên nhiên để nhập khẩu các hàng hóa tư bản phục vụ cho các ngành công nghiệp trong nước
6.3.1.3 Đặc trưng
Chiến lược này công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu có những đặc trưng sau đây:
- Thứ nhất, công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đặt ra mục tiêu là phát triển hầu
hết mọi ngành công nghiệp thiết yếu để tự đáp ứng các nhu cầu trong nước thay vì phải nhập khẩu
- Thứ hai, các nước thực hiện chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đều
thực hiện nghiêm ngặt các chính sách bảo hộ thị trường trong nước như cấm, hạn chế nhập khẩu, đưa ra biểu thuế quan cao… để bảo vệ, nuôi dưỡng các ngành công nghiệp non trẻ trong nước, khiến các ngành này được độc quyền tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa Ban đầu, chính phủ các nước này kích thích việc sản xuất những loại hàng hoá tiêu dùng đơn giản như quần áo giầy dép rồi sau đó chuyển sang những loại hàng hoá tiêu dùng lâu bền, phức tạp hơn như thiết bị, phụ tùng máy móc, ô tô và những loại sản phẩm trung gian như thép và hoá chất Trên thực tế, các nước đang phát triển thường bắt đầu bằng việc bảo hộ các công đoạn cuối của ngành, ví dụ như chế biến thực phẩm
và lắp ráp ôtô Ở các nước đang phát triển lớn hơn, sản phẩm nội địa hầu như thay thế hoàn toàn hàng tiêu dùng nhập khẩu (mặc dù sản xuất hàng chế tạo thường do các công ty đa quốc gia tiến hành) Một khi khả năng thay thế hàng tiêu dùng nhập khẩu giảm đi, các nước này quay sang bảo hộ hàng hóa trung gian như thân ôtô, thép, sản phẩm hóa dầu
- Thứ ba, nhiều chính sách kinh tế vĩ mô với sự can thiệp của Chính phủ được sử
dụng để khuyến khích phát triển công nghiệp Chính sách tỷ giá thường cố định hoặc xác lập trên cơ sở nâng cao giá trị cho đồng tiền nội địa Điều này thường đem lại lợi lớn cho các nhà sản xuất hàng công nghiệp tiêu dùng bán hàng trên thị trường nội địa Ngoài ra, các chính sách khác như: trợ giá qua sử dụng lãi suất thấp, nhà nước kiểm soát chính sách giá cả, thương mại, ngoại thương…