1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên

139 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Thương Mại Quốc Tế: Phần 2
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp phần 1, phần 2 của Giáo trình Thương mại quốc tế do PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên chủ biên có nội dung gồm 5 chương tiếp tục trình bày về: thuế quan - một công cụ hạn chế thương mại quốc tế, các hàng rào thương mại phi thuế quan và các khía cạnh kinh tế của chính sách thương mại, thương mại quốc tế và sự phát triển kinh tế,... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 113-

CHƯƠNG  4 THUẾ  QUAN  – MỘT  CÔNG  CỤ HẠN  CHẾ  THƯƠNG  MẠI  QUỐC  TẾ

Chương  này  giới  thiệu  về  thuế  quan (Tariff),  một công cụ  được  sử  dụng  để  hạn  chế  thương  mại  quốc  tế  và  phân  tích  tác  động  của  thuế  quan  tới  nước  có  liên  quan Thực  tế  cho  thấy  các  chính  phủ  các  quốc  gia  thực  sự  không  tôn  trọng  tự  do  thương  mại,  mặc  dù  buôn  bán  tự  do  là  hình  thức  buôn  bán  hiệu  quả  và hợp  lý  nhất  đối  với  người  tiêu  dùng  Các  nhà  hoạch  định chính  sách  đã  tạo  ra những công  cụ  khác  nhau  để  hạn  chế  sự  tự  do  di  chuyển  hàng  hóa  và  dịch  vụ Một  công  cụ  quan  trọng  nhất  và  cổ  điển nhất để  hạn  chế  thương  mại  

tự  do  và  bảo  hộ  đối  với  sản  xuất  trong  nước  là  thuế  quan Thuế  quan  làm  tăng giá hàng nhập  khẩu  và  từ  đó  làm  cho  giá  hàng  nhập  khẩu  kém  cạnh  tranh  hơn

4.1 NHỮNG  VẤN  ĐỀ  CHUNG  VỀ  THUẾ  QUAN

4.1.1  Khái  niệm  

Có  nhiều  định  nghĩa khác  nhau  về  thuế  quan Theo Từ  điển  Chính  sách  thương  mại  

quốc  tế, thuế  quan là  nghĩa  vụ  nộp  hoặc  thuế  đánh  vào  hàng  hóa  tại  biên  giới  khi  hàng  

hóa   đi   từ   một   lãnh   thổ   hải   quan   (thông   thường   là   một   nước)   sang   lãnh   thổ   hải   quan  

khác Hoặc  theo Dominick Salvatore: “Thuế  quan  là  một  loại  thuế  đánh  vào  hàng  hóa  khi  nó  

được  vận  chuyển xuyên   qua  biên  giới  quốc  gia”  Thuế  quan  là  một  biện  pháp  hay  công  cụ  

quan  trọng  nhất  và mang tính cổ  điển  nhất  để  thực  hiện  chính  sách  thương  mại  và  bảo  

hộ  thị  trường  nội  địa

4.1.2  Phân  loại

Thuế  quan  có  thể  được  phân  loại  dựa  trên  các  tiêu  chí  khác  nhau Theo  mục  đích  đánh  thuế,  thuế  quan  được  chia  thành  hai loại:  thuế  quan  tài  chính  và  thuế  quan  bảo  hộ  Gọi  là  thuế  quan  tài  chính,  bởi  vì  thông  qua  việc  đánh  thuế  nhằm  đem  lại  nguồn  thu  cho  ngân  sách  Gọi  là  thuế  quan  bảo  hộ,  bởi  vì  thông  qua  việc  đánh   thuế  nhằm  bảo  hộ  đối  với  nền  sản  xuất  trong  nước

Theo   đối   tượng   đánh   thuế,   thuế   quan   được   chia   thành   ba loại:   thuế   xuất   khẩu,  thuế   nhập   khẩu   và   thuế   quá   cảnh   Thuế   xuất   khẩu   là   thuế   đánh   vào   hàng   hóa   hoặc  nguyên  vật  liệu  ở  thời  điểm  chúng  rời  lãnh  thổ  hải quan  quốc  gia  Những  lý  do  để  đánh  thuế  xuất  khẩu  là  nhằm  tăng  thu  nhập  cho  ngân  sách  nhà  nước,  đẩy  mạnh  hơn  nữa  việc  

Trang 2

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 114-

gia  công  hàng  hóa  trong  nước, hình  thành  một  chính  sách  đảm  bảo  rằng  các  nguyên  vật  liệu  khan  hiếm  và  cần  thiết  cho  nền  sản  xuất  trong  nước  phải  được  dự  trữ  ở  mức  tối  đa  cho  công  nghiệp  nội  địa  Thuế  nhập  khẩu  là  thuế đánh  vào  sản  phẩm  nhập  khẩu  tại  biên  giới  Thuế  quá  cảnh  là  thuế  đánh  vào  hàng  hóa  khi  đi  qua  lãnh  thổ  của  một  nước trung gian

Theo  phương  pháp  tính  thuế,  thuế  quan  được  chia thành ba loại:  thuế  quan  tính  theo  số  lượng  (còn  gọi  là  thuế  đặc  định - specific tariff),  thuế  quan  tính  theo  giá  trị  (Ad valorem tariff) và  thuế  quan  hỗn  hợp  Đại  đa  số  các  quốc  gia  sử  dụng  phương  pháp  thuế  quan   tính   theo   giá   trị   Do   nhiều   nước   ít   đánh   thuế   vào   hàng   hóa   xuất   khẩu, hoặc   nếu  đánh  thuế  thì  cũng  đánh  rất  ít  vào  các  sản  phẩm  xuất  khẩu  nên khi  nói  đến  thuế  quan  là  đồng  nghĩa  với  thuế  nhập  khẩu

4.2 THUẾ  NHẬP  KHẨU

4.2.1 Thuế  đặc  định  

Thuế   được   thể   hiện   bằng   một   khoản   tiền   cụ   thể   đánh   vào   một   hàng   hóa   nhập  khẩu  cụ  thể  Thuế  đặc  định là  một  loại  thuế  nhập  khẩu  quy  định:  một  lượng  tiền  thuế  cố  định   tính   trên   một   đơn   vị   hàng   hóa nhập   khẩu   Ví   dụ,   thuế   đặc   định này   có   thể   là   20 đôla trên  một  tấn  hàng  hóa nhập  khẩu  Tổng  tiền  bị  đánh  thuế  đối  với  hàng hóa nhập  khẩu   tương  ứng  với   số   lượng  đơn   vị  hàng   hóa đưa   vào   quốc   gia   nhập   khẩu   và   không  tính theo  giá  cả  hoặc  giá  trị  của  hàng  nhập  khẩu

Cơ  quan  thuế  có  thể  dễ  dàng  thu  thuế  đặc  định vì  họ  chỉ  cần  biết  số  lượng  hàng  hóa nhập   khẩu   vào   quốc   gia,   chứ   không   phải   là   một   lượng   tiền Tuy   nhiên,   thuế   đặc  định  cũng  có  một  trở  ngại  khá  lớn  để  bảo  hộ  các  nhà  sản  xuất  trong  nước,  đó  là  vì  giá  trị  bảo   hộ   tỷ   lệ   nghịch   với   giá   của   hàng  nhập   khẩu   Nếu   giá  nhập   khẩu   của   nhà   sản   xuất  nước  ngoài  là  5 đôla và  thuế  là  1 đôla trên  một  đơn  vị,  mức  thuế  này  tương  đương  với  20%  giá  cả  hàng  hóa Tuy  nhiên,  nếu  lạm  phát  xảy ra  và  giá  nhập  khẩu  tăng  lên  10 đôla, thuế  nhập  khẩu  lúc  này  chỉ  tương  ứng  là  10%  của  giá  trị  hàng  nhập  khẩu  Các  nhà  sản  xuất  trong  nước  có  thể  cảm  thấy  rằng loại  thuế  này  không  thực  hiện  được  công  việc  bảo  

hộ  (sau  khi  lạm  phát  xảy ra)  như  nó  thường  được  sử  dụng,  tuy  nhiên  lợi  ích  của  người  tiêu  dùng  tăng  lên  Lạm  phát  xảy ra  trong  và  sau  thời  kỳ  Chiến  tranh  thế  giới  thứ  hai và tái  diễn  dưới  dạng  khủng  khoảng  lớn  vào  những  năm  cuối  thập  niên 1970, đầu  thập  niên

1980 đã  khiến  các  quốc  gia  không  còn  chú  trọng  đến  loại  thuế  này,  song nó  vẫn  được  áp  dụng  với  nhiều  mặt  hàng

Trang 3

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 115-

4.2.2 Thuế  quan  tính  theo  giá  trị

Theo Từ  điển  Chính  sách  thương  mại  quốc  tế, thuế  quan  tính theo  giá  trị  “dựa  trên  

phần  trăm  của  giá  trị  hàng  nhập  khẩu,  gọi  là  thuế trị giá”, hay nói cách khác là  tỷ  lệ  phần  trăm  của  giá  trị  hàng  hóa  nhập  khẩu

Thuế  quan  tính  theo  giá  trị  có  thể  bảo  hộ  các  nhà  sản  xuất  trong  nước  tốt  hơn  thuế  quan  đặc  định  khi  xảy  ra  lạm  phát    Thuế  quan  tính  theo  giá  trị  được  thu  theo  số  phần  trăm  không  đổi  của  số   tiền  tương  đương  với  một  đơn  vị  hàng  hóa nhập  khẩu  Vì  vậy,  nếu  thuế  quan  tính  theo  giá  trị  là  10%  thì một  mặt  hàng  với  giá  chung  trên  thế  giới  là  10 đôla sẽ   có   một   khoản   thuế   đặc  định là 1 đôla   Khi   lạm  phát  xảy   ra   (giả   sử lạm   phát là 100%), giá hàng hóa sẽ  tăng  lên  20 đôla và  do  đó  tiền  thuế  nhập  khẩu  với  mức thuế  quan  tính  theo  giá  trị   không  đổi  (10%)  sẽ  là 2 đôla

Nghiên  cứu  trường  hợp:  Một  số  mức  thuế  của  Mỹ

Bảng 4.1 cho   thấy   các mức   thuế   năm   1994   của   những   hàng hóa được   lựa   chọn  nhập  khẩu  vào  Mỹ  Cột  có  đầu  đề  là  MFN  (thuế  tối  huệ  quốc) đề  cập đến  mức  thuế  mà  

Mỹ  áp  dụng  cho  các  nước  được  hưởng  Quy  chế  đãi  ngộ  tối  huệ  quốc  Cột  có  đầu  đề  là  Non-MFN (thuế   phi   tối   huệ   quốc)   đề   cập   mức   thuế   cao   hơn   áp   dụng   cho các   đối   tác  thương   mại   còn   lại   Năm   1994,   các   quốc   gia   phải   đương   đầu   với   tỷ   lệ   thuế   cao   hơn   là  Afghanistan, Azerbaijan, Campuchia, Cuba,  Lào,  Bắc  Triều  Tiên,  Rumani,  Việt  Nam

Biểu  thuế  quan  của  Mỹ  có  nhiều  loại  sản  phẩm  và  các  mức  độ  hạn  chế  đối  với  các  loại  hàng  hóa khác nhau

Bảng  4.1:  Các  loại  thuế  nhập  khẩu  được  lựa  chọn  tại  Mỹ  năm  1994

Nho

+  Nếu  nhập  vào  ngày  1/8  đến  30/9   2,2 cent/kg 3,3 cent/kg

Trang 4

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 116-

Chương  trình  thể  thao  video       3,9% 35%

Nguồn:   United   States   International   Trade   Commission, Harmonized Tariff Schedule of the United States (1994), USITC Publication 2690 (Washington, DC: US Government

Printing office, 1993)

4.2.3  Thuế  ưu  đãi

Thuế  ưu  đãi  là  tỷ  lệ  thuế  được  áp  dụng  cho  một  mặt  hàng  nhập  khẩu  theo  những  hiệp  định  thương  mại  giữa  các  quốc  gia  Một  quốc  gia  được  hưởng  chế  độ  ưu  đãi  sẽ  phải  trả   mức   thuế   thấp   hơn   Tại   thời   điểm   hiện   nay,   các   loại   thuế   ưu   đãi   ở EU,   ví   dụ   như  Pháp  nhập  khẩu  hàng  hóa từ  các  nước  khác  như  Italia  sẽ  trả  thuế  có  giá  trị  là  0  Cùng  một   loại   hàng   thông  thường  có   thể   phải  trả   thuế   (dương) nếu   hàng   hóa đó   đến   từ   các  nước  không  thuộc  EU

4.3  ĐO  LƯỜNG  MỨC  ĐỘ  CỦA  THUẾ  QUAN

Một  trong  những  vấn  đề  quan  trọng  mà  chúng  ta  cần  tìm  hiểu  khi  nghiên  cứu  về  thuế  quan  của  các  nước  đó  là  mức  thuế  quan  trung  bình  của các  nước  là  bao  nhiêu?  Vấn  

đề này nảy  sinh  vì  tất  cả  các  quốc  gia  đều  có các tỷ  lệ  thuế  quan  khác  nhau  đối  với  hàng  hóa nhập  khẩu  Vậy  làm  thế  nào  chúng  ta  có  thể  xác  định  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  từ  

sự   khác   biệt   lớn  như  vậy? Ở   phần   này  chúng   ta  sử  dụng hai   công  thức  tính  tỷ   lệ  thuế  quan  trung  bình  để  trả  lời  các  câu  hỏi  trên

4.3.1 Tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  không  cân  đo

Tỷ   lệ   thuế   quan   trung   bình   không   cân   đo   hay   không   có trọng   số   (ký   hiệu   R1) chính là trung  bình  cộng  các  mức  thuế  của  tất  cả  các  hàng  hóa Giả  sử  chúng ta có ba mặt  hàng  nhập  khẩu  với  tỷ  lệ  thuế  quan  như  sau:  mặt  hàng  A  là 10%,  mặt  hàng  B là 15%,  mặt  hàng  C  là  20%  Trung  bình  chung  của  tỷ  lệ  này  là:

3

%20

%15

%

Đây  cũng  chính  là  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  không  cân  đo  của  3  mặt  hàng  A,  B,  

và C  Tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  này  không  tính  đến tầm  quan  trọng  liên  quan  hàng  hóa nhập  khẩu  Nếu  quốc  gia  nhập  khẩu  hầu  hết  hàng  hóa A hay  nhập  khẩu  hầu  hết  hàng  hóa  C  thì  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  không  cân  đo  không  phản  ánh  được  chính  xác  mức  

Trang 5

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 117-

thuế  trung bình  mà  quốc  gia  đó  áp  dụng  Chính  vì  vậy,  chúng  ta  có  thể  sử  dụng  công  thức  tính  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  cân  đo  hay  có  trọng  số

4.3.2 Tỷ lệ  thuế  quan  trung  bình  cân  đo  (ký hiệu  R 2 )

Tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  cân  đo  hay  có  trọng  số  (ký  hiệu  R2) chính là tỷ  lệ  thuế  quan bình  quân  gia  quyền  của  các  thuế  suất  áp  dụng  cho  các  mặt  hàng  có  tính  đến  giá  trị  nhập  khẩu  của  các  hàng  hóa Giả  sử  quốc  gia  nhập khẩu  mặt  hàng  A  với  trị  giá  500.000  đôla và  thuế  suất  là  10%,  mặt  hàng  B  với  trị  giá  200.000  đôla và thuế  suất  là  15%  và  mặt  hàng  C  với  trị  giá  100.000  đôla và  thuế  suất  20%  Tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  cân  đo  được  tính  như  sau:

R2 =

$000.100

$000.200

$000.500

$)000.100

%).(

20(

$)000.200

%).(

15(

$)000.500

$000.20

$000.30

$000

R2 =

$000.800

$000.100

=  0,125  hoặc  12,5%

Tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  có  trọng  số (12,5%) thấp  hơn  tỷ  lệ  mức  thuế  không  cân  

đo  (15%) cho  thấy  có  nhiều  hàng  hóa nhập  khẩu  có  thuế  quan  thấp  hơn  là  hàng  hóa chịu  thuế   quan   nhập   khẩu   cao   đang   được   nhập   vào   quốc   gia   đó   một   cách   tương   ứng   Tuy  nhiên,  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  đối  với  hàng  hóa đã  cân  đo  có  sự  bất  lợi  liên  quan  đến  quy  luật  nhu cầu  Giả  sử  nhu  cầu  biến  động  là  tương  tự  như  nhau  đối  với  tất  cả  các  mặt  hàng,  việc  mua  hàng  với  mức  thuế  quan  cao  có  chiều  hướng  giảm,  trong  khi  đó  việc  mua  hàng  với  mức  thuế  quan  thấp  giảm  tới  mức  thuế  quan  thấp  hơn  Do  vậy,  bản  thân  tỷ  lệ  thuế  quan  thay  đổi  đối  với  kiện  hàng  nhập  khẩu,  tạo  ra  một  sức  nặng  lớn  hơn  đối  với  hàng hóa chịu  thuế  nhập  khẩu  thấp  Vì  thế,  tỷ  lệ  thuế  nhập  khẩu  trung  bình  đã  cân  đo  giảm  xuống

Vấn  đề  cân  đo  có  thể  được  minh  họa  trong  một  mô  hình  với  thuế  nhập  khẩu  cao  đến  mức  không  thể  mua  được  (thuế  ngăn  cấm)  Một  loại  thuế  nhập  khẩu  với  mục  đích  ngăn  cấm  có  một  mức  thuế  khá  cao,  nó  ngăn  cản  hàng  hóa nhập  khẩu  vào  trong  quốc  gia   Trong   ví   dụ   trên,   một   loại   thuế   nhập   khẩu   có   mục   đích   ngăn   cấm   hàng   hóa nhập  khẩu  sẽ  tồn  tại  nếu  một  mặt  hàng  D  có  tỷ  lệ  thuế  nhập  khẩu  là  200%  và  lượng hàng  nhập  khẩu  là  0,  bởi  vì  tỷ  lệ  này  quá  cao  Tỷ  lệ  thuế  nhập  khẩu  trung  bình  cho  một  quốc  gia  sẽ  

là  12,5%,  bởi  vì  thuế  nhập  khẩu  200%  có  trọng  lượng  là  0  Ở  một  cực  điểm,  đối  với  một  quốc   gia   nhập   khẩu   một   lượng   hàng   rất   ít   với   thuế   nhập   khẩu   là   0,   nhưng   thuế   nhập  

Trang 6

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 118-

khẩu  có  mục  đích  ngăn  cản  đối  với  tất  cả  các  mặt  hàng  có  khả  năng  nhập  khẩu,  sẽ  chịu  một  mức  thuế  nhập  khẩu  trung  bình  được  cân  đo  là  0  và  quốc  gia  này  sẽ  giống  như  là  một  quốc  gia  tự  do  thương  mại

4.4  TỶ  LỆ  BẢO  HỘ  HIỆU  QUẢ  VỚI  NHIỀU  YẾU  TỐ  ĐẦU  VÀO

Một  vấn  đề  nảy sinh trong vòng 25-30  năm  trở  lại  đây là người  ta  quan  tâm  đến  

sự  lựa  chọn  tỷ  lệ  thuế  nhập  khẩu  phù  hợp  khi  đánh  giá  ảnh  hưởng  của  thuế  nhập  khẩu  Vấn   đề   này   rất   quan   trọng   khi   các   quốc   gia   thương   lượng   về   sự   giảm   tỷ   lệ   thuế   nhập  khẩu  bởi  vì  việc  thương  lượng  đòi  hỏi  sự  tập  trung  một  tỷ  lệ  phù  hợp  Trong  khi  người  tiêu  dùng  quan  tâm  tới  thuế  quan  áp  dụng  cho  các  hàng  hóa  nhập  khẩu  (thuế  quan  danh  nghĩa)  thì  các  nhà  sản  xuất  lại  quan  tâm tới  mức  độ  bảo  hộ  thực  tế  của  họ  là  như  thế  nào  

Để  biết  mức  độ  bảo  hộ  thực  tế  cho  các  nhà  sản  xuất  thì  người  ta  sử  dụng  khái  niệm  tỷ  lệ  bảo  hộ  có  hiệu  quả  (Effecticve rate of proctection – ERP)

Thuế   quan   danh   nghĩa   đơn   giản   là   tỷ   lệ   được   đưa   ra   trong   biểu   thuế   quan của  một  quốc  gia Các  nhà  kinh  tế  sử  dụng  tỷ  lệ  thuế  quan  danh  nghĩa  để  phản  ánh  sự  quan  tâm  của  người  tiêu  dùng  khi  giá  cả  hàng  hóa tăng  lên  với  sự  tồn  tại  của  thuế  nhập  khẩu  Tuy  nhiên,  khi  sử  dụng  tỷ  lệ  bảo  hộ  hiệu  quả,  các  nhà  kinh  tế  cũng  quan  tâm  đến  phạm  

vi mà “giá  trị  tăng  thêm”  đối  với  ngành  công  nghiệp  cạnh  tranh  nhập  khẩu  trong  nước  được   chuyển   đổi   bởi   sự   tồn   tại   của  toàn   bộ   cấu   trúc  thuế   nhập   khẩu   (đó   là,   tỷ   lệ   thuế  nhập  khẩu  không  chỉ  áp  dụng  đối  với  hàng hóa hoàn  thiện  mà  còn  áp  dụng  đối  với  hàng  hóa trung  gian  được  sử  dụng  để  sản  xuất  hàng  hóa hoàn  thiện)

4.4.1 Khái  niệm  

Tỷ  lệ  bảo  hộ  hiệu  quả chính  là  tỷ  lệ  giữa giá  trị  bổ  sung  dưới  sự  bảo  hộ  trừ  đi  giá  trị  bổ  sung  khi  thương  mại  tự  do chia giá  trị  gia  tăng  mà  ngành  sản  xuất  nội  địa  tạo  ra  khi  sản  xuất  mặt  hàng  đó khi  thương  mại  tự  do

Trang 7

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 119-

nguyên  liệu  đầu  vào  PA = 500 đôla và PB = 200 đôla Do  đó, giá  trị  nội  địa  tăng  thêm trong trường  hợp  này  là:

1.000 - (500 + 200) = 1.000 - 700 = 300 (đôla)

Nếu  quốc  gia  nhập  khẩu  áp  dụng  thuế  quan  đối  với  hàng  hóa  F  và  các  yếu  tố  đầu  vào  nhập  khẩu  (bảo  hộ  cho  các  nhà  sản  xuất  nội  địa)  thì  ảnh  hưởng  như  thế  nào  đến  giá  trị  nội  địa  tăng  thêm  của  hàng  hóa  F?  Giả  sử  mức  thuế  nhập  khẩu  (tF) đối  với  hàng  hóa hoàn  thiện  F  là  10%  và  thuế  đối  với nguyên liệu  đầu  vào  A  (tA) là 5% và nguyên liệu  đầu  vào B (tB) là  8%  Như  vậy, giá  nội  địa  của  hàng  hóa khi  có  thuế  quan  là:

0,197( 19,7%

$300

$300

$359

1

Trong  đó  Vi’  là  giá  trị  gia  tăng  trong  ngành  i  khi  có  áp  dụng  thuế  quan;  Vi  là  giá  trị   gia   tăng  trong   chế   độ   buôn   bán   tự   do;   ti   là   mức   thuế   quan   đối   với   sản   phẩm   hoàn thiện;  tj  là  mức  thuế  quan  đối  với  sản  phẩm  trung  gian  j;  aij  là  tỷ  lệ  thể  hiện  sự  tham  gia  của  j  trong  việc  sản  xuất  một  đơn  vị  sản  phẩm  i

Trang 8

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 120-

Trong  ví  dụ  trên, aij  đối  với  đầu  vào  A là 500 đôla/1.000 đôla hoặc  0,5  và  giá  trị  của  aij  đối  với  đầu  vào  B  là  200  đôla/1.000 đôla  hoặc  0,2  ERP tương  tự  như  cách  tính  trên  là:

)016,0()025,0(1,0)

2,0()5,0(1

08,0)

2,0(05,0)

5,0(1,0

7,19197,03,0

059,03

,

0

041,0

là  thu  hút  các  nguồn  khác

TÓM  TẮT

Thuế   quan   là   một   công   cụ   cổ   điển để   thực   hiện   chính   sách   bảo   hộ   thương  mại Nhiều   quốc   gia   chú   trọng   khuyến   khích   xuất   khẩu   nên   hàng   hóa   xuất   khẩu   ra   nước  ngoài  không  phải  nộp  thuế,  hoặc  nộp  thuế  rất  thấp;  chủ  yếu  là đánh  vào  hàng  hóa  nhập  khẩu Vì  vậy,  khi  nói  đến  thuế  quan  là  chủ  yếu  nói  đến  thuế  đánh  vào  hàng  hóa  nhập  khẩu  Có  nhiều  cách  tính  thuế  nhập  khẩu,  mỗi  cách  đều  có  ưu  điểm  và  hạn  chế  của  nó;  trong  đó thuế  quan  tính  theo  giá  trị  là  phương  pháp  được  các  nước  sử  dụng   phổ  biến  Phương  pháp  này có  ý  nghĩa  bảo  hộ  đối  với  sản  xuất  trong  nước  nhất  là  khi  lạm  phát  xảy

ra  Để  biết  mức  thuế  quan  của  một  nước  cao  hay  thấp,  người  ta  sử  dụng  phương  pháp  

đo   lường  đơn   giản:   tỷ  lệ   thuế   quan  trung   bình   không  cân   đo   và  tỷ   lệ   thuế   quan   trung  bình  có  cân  đo  Dĩ  nhiên  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  có  cân  đo  bao  giờ  cũng  chính  xác  và  

có  ý  nghĩa hơn  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  không  cân  đo  Một  vấn  đề  rất  đáng  được  quan  tâm  là  bảo  hộ  đối  với  sản  xuất  trong  nước  như  thế  nào   trong  điều  kiện  nhập  khẩu  các  yếu  tố  đầu  vào  từ  bên  ngoài?  Để  đo  lường  mức  độ  bảo  hộ  đối  với  sản  xuất  trong  nước  cần  sử  dụng  công  thức  tính  ERP  Tỷ  lệ  này  càng  cao  thì  tỷ  lệ  bảo  hộ  càng  lớn  và  ngược  lại  Điều  này  rất  thực  tế  và  có  ý  nghĩa  đối  với  các  nhà  sản  xuất  trong  nước  khi  sử  dụng  các  yếu  tố  đầu  vào  hoặc  sản  phẩm  trung  gian  cần  phải  nhập  khẩu

CÂU  HỎI  ÔN TẬP

1 Trình bày các khái   niệm:   Thuế   đặc   định,   thuế   quan   tính   theo   giá   trị   và   thuế  quan  ưu  đãi Ưu  điểm  và  hạn  chế  của  từng  loại  thuế?

2 Cách  tính  thuế  quan  trung  bình  không  cân  đo  và  thuế  quan  trung  bình  cân  đo

Trang 9

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 121-

3 Khái niệm  tỷ  lệ  bảo  hộ  có  hiệu  quả  và  cách  tính

4 Cho ba hàng hóa A, B, C; thuế  suất  đối  với  các  hàng  hóa tương  ứng  như  sau:  15%,   20%,   25%   Giá   cả   nhập   khẩu   của   các   hàng   hóa tương   ứng   như   sau:   600.000 đôla, 300.000 đôla, 100.000 đôla Hãy  tính  tỷ  lệ  thuế  quan  trung  bình  không  cân  đo  và  có  cân  

đo  và  cho biết  ý  nghĩa  của  nó?

5 Giả  sử  trong  điều   kiện   tự  do   thương  mại,  giá   của  một  sản  phẩm hoàn   thiện (PF) là 1.000 đôla Hai loại  sản  phẩm  đầu  vào  của  mặt  hàng  F  là  A  và  B  có  giá  là  300 đôla

và 500 đôla   Biết   rằng   cứ   1   sản   phẩm   đầu   vào   A   và   B   tạo   nên   1   đơn   vị   sản   phẩm   F Hàng hóa F  bị  đánh  thuế  nhập  khẩu  (tF)  =  20%  theo  giá  cả  hàng  hóa và  thuế  đối  với  mặt  hàng A (tA)  =  20%,  thuế  đối  với  mặt  hàng  B  (tB) = 30% Hãy  tính  tỷ  lệ  bảo  hộ  hiệu  quả  cho  ngành  công  nghiệp  nội  địa  sản  xuất  ra  hàng  hóa F  và  diễn  giải  ý  nghĩa  của  nó

TÀI  LIỆU  THAM  KHẢO

1 Dennis R Appleyard, Alfred J Field, International Economics: Trade Theory

and Policy, Irwin, 1995

2 Dominick Salvatore, International Economics, seventh edition, Macmillan

Publishing Company, New York, 2001

3 Ngân  hàng  Thế  giới, Sổ  tay  về  phát  triển,  thương  mại  và  WTO, NXB Chính

trị  Quốc  gia,  H., 2004

4 Paul R Krugman, Maurice Obstfeld, Kinh  tế  học  quốc  tế - Lý thuyết  và  chính  

sách, tập  I, NXB Chính  trị  Quốc  gia,  H., 1996

5 Walter Goode, Từ   điển  Chính   sách   thương   mại   quốc   tế, Báo   Thương mại và

NXB Thống  kê, H., 1997

Trang 10

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 122-

CHƯƠNG 5 CÁC  HÀNG  RÀO  THƯƠNG  MẠI  PHI  THUẾ  QUAN  VÀ CÁC  KHÍA  CẠNH  KINH  TẾ  CỦA  CHÍNH  SÁCH  THƯƠNG  MẠI

Mặc  dù  thuế  quan  là  biện  pháp  quan  trọng  nhất  trong  các  hàng  rào  thương  mại  nhưng  hiện  nay  vai  trò  của  nó  đã  bị  suy  giảm  Việc sử  dụng  các  biện  pháp  phi  thuế  quan  

có  xu  hướng  tăng  lên  Có  thể  nói  buôn  bán  tự  do  là  hình  thức  buôn  bán  hiệu  quả  nhất  và  hợp  lý  nhất, tuy nhiên trên  thực  tế  các  quốc  gia  đều  áp  dụng  những  hình  thức  hạn  chế  nhất   định   nhằm   hạn   chế   thương   mại   tự   do   vì   lợi   ích   của   quốc   gia   đó   Việc   giảm   thuế  quan   là   xu   hướng   tất   yếu   phù   hợp   với   xu   hướng   tự   do   hóa   thương   mại   Ngoài   thuế  quan,   nhiều   nước   đã   sử   dụng   hàng   rào   phi   thuế   quan   để   hạn   chế   thương   mại   tự   do nhằm   thực   hiện   chính   sách   bảo   hộ   thương   mại Chương   này   tập trung phân tích các hàng  rào  phi  thuế  quan  có định  lượng  và  các hàng  rào  phi  thuế  quan  không  định  lượng

5.1 CÁC  HÀNG  RÀO  PHI  THUẾ  QUAN  CÓ  ĐỊNH  LƯỢNG

“Hàng  rào  phi  thuế  quan”  được  định  nghĩa  là  bất  kỳ  hàng  rào  nào,  không  phải  là  

thuế  quan,  làm  méo  mó  luồng  hàng  hóa tự  do  qua  biên  giới  quốc  gia  Hàng  rào  phi  thuế  quan  có  thể  là  trực  tiếp,  nghĩa  là  được  thiết  kế  cụ  thể  để  bảo  hộ  một  số  loại  hàng  hóa, hoặc  cũng  có  thể  là  gián  tiếp,  được  áp  dụng  vì  các  mục  tiêu  chính  sách  khác,  nhưng  có  ảnh  hưởng  lớn  đến  thương  mại

5.1.1 Hạn  chế  định  lượng  (Quantitative restriction)

Hạn  chế  định  lượng  chính  là  các  hạn  chế  hoặc  hạn  ngạch  về  định  lượng  cho  một  sản   phẩm   hoặc   một   hàng   hóa   cụ   thể   có   thể   nhập   khẩu   hoặc   xuất   khẩu   trong   một   giai  đoạn  nào  đó  thường  là  một  năm Chúng  được  tính  bằng  khối  lượng  nhưng  đôi  khi  bằng  giá  trị

WTO  quy  định  ngoài  thuế  quan,  thuế  nội  địa  và  các  loại  phí  khác,  các  thành  viên  không   được   tạo   ra   hay   duy   trì   các biện   pháp   như   hạn   ngạch,   giấy   phép   hay   các   biện  pháp   khác   nhằm   hạn   chế   nhập   khẩu  từ   những   thành   viên   khác,  hay  hạn   chế   số   lượng  xuất  khẩu

5.1.1.1  Cấm  xuất  khẩu,  nhập  khẩu  (Prohibitions)

“Cấm   xuất   khẩu,   nhập   khẩu   là   biện   pháp   bảo   hộ   cao   nhất,   gây   ra   hạn   chế   lớn  nhất  đối   với   thương  mại   quốc  tế   Trong  thương  mại   quốc   tế   có   nhiều   trường   hợp  cấm  

Trang 11

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 123-

nhập   khẩu   như   cấm   hoàn   toàn,   cấm  theo  mùa,   cấm   tạm   thời,   cấm   vận,   cấm   sản   phẩm  nhạy   cảm,  tạm   dừng  cấp   phép  nhập   khẩu… WTO   yêu   cầu   không  được   phép   áp  dụng  nếu  không  có  lý  do  chính  đáng  Tuy  nhiên,  các  thành  viên  có  thể  thi  hành  các  biện  pháp  cấm  xuất  khẩu,  nhập  khẩu  trong  một  số  trường  hợp  ngoại  lệ  sau:  

- Cần thiết  để đảm bảo an ninh quốc gia

- Cần thiết  để bảo vệ đạo  đức xã hội; bảo vệ con  người,  động vật và thực vật; bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm

- Được áp dụng một cách tạm thời  để ngăn  cản hay giảm bớt sự khan hiếm lương  thực, thực phẩm hay các sản phẩm thiết yếu khác; cần thiết  để áp dụng các tiêu chuẩn  hay  quy  định  để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong  thương  mại quốc tế.”(5)

5.1.1.2  Hạn  ngạch  xuất  khẩu  (Export  quotas)

Hạn  ngạch  xuất  khẩu  là  các  hạn  chế  và  giới  hạn  trần  do  nước  xuất  khẩu  áp  đặt  cho  tổng  giá  trị  hoặc  tổng  khối  lượng  của  một  số  sản  phẩm  nhất  định

Hạn  ngạch  xuất  khẩu  được  dùng  để  bảo  vệ  các  nhà  sản  xuất  và  người  tiêu  dùng  trong  nước  khỏi  sự  thiếu  hụt  tạm  thời  của  các  sản  phẩm  này  hay  việc  cải  thiện  giá  của  một  số  sản  phẩm  trên  thị  trường  thế  giới  bằng  việc  thu  hẹp  nguồn  cung  cấp  chúng  Khả  năng  thứ  hai  chỉ  có  thể  thực  hiện  ở  một  nước  hay  một  nhóm  nước  có  ưu  thế  xuất  khẩu  về  một  sản  phẩm

5.1.1.3  Hạn  ngạch  nhập khẩu  (Import  quotas)

Hạn  ngạch  nhập  khẩu  là  những  sự  hạn  chế  hoặc  mức  trần  do  nước  nhập  khẩu  đặt  

ra  về  giá  trị  hay  khối  lượng  nhập  khẩu  của  những  loại  hàng  hóa  nhất  định  được  mang  từ  nước  ngoài  vào  

Hạn   ngạch   nhập   khẩu   được   quy   định   để   bảo   vệ   các   nhà   sản xuất   nội   địa   khỏi  những  ảnh  hưởng  do  giá  hàng  hóa  nhập  khẩu  thấp  gây  ra  Đây  là  một  loại  hình  thức  của  hạn  chế  định  lượng

Phân tích tác động  của  hạn  ngạch  nhập  khẩu

Thông  thường,  khi  phân  tích  tác  động  của  thuế  quan  và  hạn  ngạch,  chúng  ta  sử  dụng   mô   hình cung   cầu   đơn   giản   như   trong   Hình   5.1 và 5.2 Giả   định   của   mô   hình   là  

( 5) TS  Trịnh  Minh  Anh,  “Rào  cản  trong  thương  mại  quốc  tế  hiện  đại  và  cam  kết  của  Việt  Nam,  Bộ  Thương  mại:   Tài  liệu  bồi  dưỡng:  Các  cam  kết  gia  nhập  Tổ  chức  Thương  mại  Thế  giới  của  Việt  Nam,  Hà  Nội  2007,  tr.162

Trang 12

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 124-

cạnh  tranh  hoàn  hảo  và  nền  kinh  tế  nhỏ  (nghĩa  là “chấp  nhận  giá”  và  do  đó  sự  biến  đổi  của   cung   hoặc   cầu   không ảnh   hưởng   đến   mức   giá) Phúc   lợi   kinh   tế   của   quốc   gia   bao  gồm   thặng   dư   tiêu   dùng   (phần   chênh   lệch   giữa sự   sẵn   lòng   trả   tiền   và   giá   thực   tế mà người  tiêu  dùng  trả),  thặng  dư  sản  xuất  (tổng  lợi  nhuận  thu  được  của  các  nhà  cung  cấp)  

và   thuế   doanh   thu   của   chính  

phủ Cầu  tiêu  dùng  được  minh  họa  

bằng  đường  cầu  D và  nhà  sản  xuất  

đang  ở  trong thị  trường cạnh  tranh  

với  đường  cung  S  Trong  hệ  thống  

thương  mại  tự  do,  người  tiêu  dùng  

mua   hàng   với   mức   giá   thế   giới  

P W và   lượng   cầu   là   D 1, các nhà

cung   cấp   trong   nước sản   xuất tại  

mức  sản  lượng  S 1 và  sẽ  nhập  khẩu  

một   lượng   bằng   khoản   chênh   lệch  

giữa lượng   cầu và   mức   cung   ứng  

nội   địa Trong Hình   1,   thặng   dư  

thuế   quan   t cho   mỗi  đơn   vị  hàng   nhập  

khẩu   nước   ngoài Giá   trong   nước   sẽ   là  

(P W + t),   nhu   cầu   giảm   xuống   D 2

lượng  cung  ứng  nội  địa tăng  đến  S 2 Kết  quả   là   nhập   khẩu   giảm Thặng   dư   sản  

xuất   tăng   đến   (g + c),   thặng   dư   người   tiêu dùng giảm  còn  (a + b),  nhưng  chính  

phủ có   thêm   thu   nhập   từ   thuế   quan  

nhập   khẩu   là   e Tổng   phúc   lợi   kinh   tế  

của   quốc   gia   trong sự   hiện   diện   của  thuế   quan   là   thấp   hơn   so   với   hệ   thống  thương   mại   tự   do,   với   khoản   mất  

không là (d + f) Giá tăng   đẩy một   số   người  tiêu  dùng ra  khỏi thị  trường  và  sự  mất  mát  này  được  thể  hiện bởi  tam  giác  f Hơn  

nữa,  sự  gia  tăng sản  xuất  trong  nước đòi  hỏi  chi  phí  vượt  quá  mức  chi  phí  của  hàng  nhập  

Trang 13

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 125-

khẩu thay   thế Do   đó,   tam   giác   d thể   hiện   sự   suy   giảm   của   thặng   dư   sản   xuất   trong  

nước

Giả  sử  chính  phủ  áp  đặt  hạn  ngạch  nhập  khẩu Điều  này  khiến  nền  kinh  tế  trong  nước  không  thể  nhập  khẩu  nhiều  như  trước  đây Thay  vào  đó,  để đáp  ứng  cầu,  các  nhà  cung  ứng  nội  địa  phải sản  xuất  bằng  bất  kỳ  lượng  cầu  nào  vượt hạn  ngạch Tuy nhiên,

do  chi  phí  sản  xuất  thêm  này  cao  hơn  chi  phí nhập  khẩu,  làm  cho  giá  trong  nước  tăng  

đến  P Q Trong Hình 5.2,  đường  cung  trong  nước  lúc  này  được  in  đậm  Hạn  ngạch  có  tác  dụng  chuyển  dịch  đường  cung  về  bên  phải  với  một  lượng  bằng hạn  ngạch  bất  cứ  khi  nào  mức  giá  cao  hơn  giá  thế  giới Đường  cung  thấp  hơn  giá  thế  giới không di chuyển,  vì các mức cầu  đó không  đủ  để  mang  lại lợi  nhuận  cho  chủ  sở  hữu  giấy  phép  nhập  khẩu Hạn  

ngạch  A,  như  thuế  quan,  làm  tăng  giá  trong  nước và  gây  khoản  mất  không  bằng  (d + f)

Trong  khi  thuế  tạo  ra  thu  nhập  cho  chính  phủ,  hạn  ngạch  nhập  khẩu  tạo  ra  thặng  

dư  cho  các  chủ  sở  hữu  giấy  phép Về  mặt  lý  thuyết,  nếu  chính  phủ  đấu  giá  quyền  nhập  khẩu thì  tác  động  của hai  công  cụ  là  tương  đương Tuy nhiên, trên  thực  tế,  chính  phủ  có  thể  phân  phối hạn  ngạch  dựa  trên  thị  phần  của  các  nhà  nhập  khẩu Do  đó,  hạn  ngạch có thể  tạo  động  cơ  khiến các  nhà  nhập  khẩu  tham  gia  các  hoạt  động  không  hiệu  quả  nhằm  tối  đa  hóa mức  hạn  ngạch  của  mình Hơn  nữa,  hạn  ngạch  cho  phép  chính  phủ  phân  phát  giấy  phép  nhập  khẩu,  nên  hạn  ngạch  được  xem  là  ít  minh  bạch  và  có  thể  thiếu  hiệu  quả

Đó  là  lý  do  tại  sao  thuế  quan  lại  thường  được  xem  là  một  phương  tiện  bảo  hộ  tốt  hơn

Ngoài  ra,  thuế  và  hạn  ngạch  khác  

nhau  về  nhiều  mặt Hạn  ngạch  can  thiệp  

trực   tiếp   vào   mối   liên   kết   giữa   giá   và  

lượng,  đó   là   điều   cần  thiết   cho   các   hoạt  

động   của   hệ   thống   kinh   tế   thị  

trường Thuế  quan  chỉ  đơn  giản  là  tạo  ra  

một   sự   chênh   lệch, nhưng   cho   phép   hệ  

thống   giá   cả   hoạt   động Ví   dụ,   nếu   cầu  

hàng hóa tăng  vuợt  quá  kỳ  vọng  sau  khi  

áp   đặt   hạn   ngạch   hoặc   thuế   quan, thì

hạn  ngạch  sẽ  bảo  hộ  chắc  chắn  hơn  thuế  

quan Trong Hình 5.3, khi cầu   bất   ngờ  

mở  rộng  đến D’ nếu sử  dụng  thuế quan,

lượng   nhu   cầu   vượt   quá   sẽ   được   đáp  

ứng   bởi   một   lượng   tăng   trong   nhập  

khẩu  ở  mức  giá  P’ t Tuy  nhiên,  khi  sử  dụng  

hạn  ngạch,  lượng  nhu  cầu  vượt  quá  sẽ  được  

Hình  5.3:  Sự  khác  nhau  giữa  thuế  

quan  và  hạn  ngạch

Trang 14

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 126-

đáp  ứng  bởi  sự  gia  tăng  sản  xuất  trong  nước,  dẫn  đến  giá  trong  nước  tăng  đến  P’ Q Do

đó,   hạn   ngạch   dẫn   đến   một   khoản   mất   không   thêm   là   (d’+   f’) tương  đương   với   khoản  

thuế  quan  khi cầu  tăng  lên

5.1.1.4  Hạn  ngạch  thuế  quan

Trong   các   điều   kiện   nhất   định,   tỷ   lệ   thuế   quan   hạn   ngạch   (TRQ)   cũng có   thể   được   sử  dụng  như  là  một  công  cụ  bảo  hộ  Theo  như  tên  gọi,  TRQ  bao  gồm  một  hạn  ngạch  nhất  định  cho  một  khối  lượng  hàng  nhập  khẩu  mà  có  thể  nhập  khẩu  với  một  tỷ  lệ  thuế  quan  

ưu  đãi,  vẫn  được  gọi  là  thuế  quan  trong  hạn  ngạch Bất  kỳ  lượng  nhập  khẩu  nào  vượt  quá  khối  lượng  này  có  thể  phải  chịu  mức  thuế  quan  ngoài  hạn  ngạch  cao  hơn Hình 5.4 minh   họa   cơ   chế   cơ   bản   của   TRQ   trong   ba   trường   hợp   khác   nhau   giữa   hạn   ngạch   và  cầu Trong   trường   hợp   1,   hạn   ngạch   chỉ   được   sử   dụng   một   phần   (nhỏ   hơn   mức   hạn  ngạch  cho phép) Biểu  thuế  áp  dụng  với  nhập  khẩu  là  thuế  quan  trong  hạn  ngạch,  do  đó  

giá   trong   nước   bằng   P = P W + t trong và   lượng   nhập   khẩu   được   tính   bằng   đoạn   nhỏ   ab

Trường   hợp   2   minh   họa   tình   huống   mà   trong   đó   hạn   ngạch   được   sử   dụng   toàn   bộ   và  hàng  nhập  khẩu  bổ sung  sẽ  bị  áp  dụng  thêm  thuế  quan  hạn  ngạch  ngoài  Trong  trường  hợp  này,  tỷ  lệ  thuế  quan  ngoài  hạn  ngạch  đủ  cao  để  ngăn  chặn  hàng  nhập  khẩu  và  thúc  đẩy   sản   xuất   trong   nước   tại  

mức   giá   P’ Đó   là   do   TRQ   làm  

dịch   chuyển   đường   cung   về  

bên   phải   với   một   lượng   bằng  

lượng   hạn   ngạch Cuối   cùng,  

trường  hợp  3  minh  họa  đường  

cầu  đủ  cao  để  khiến  hàng  nhập  

khẩu  chịu  thuế  quan  ngoài  hạn  

ngạch   có   lợi   nhuận Giá cho

mỗi  đơn  vị  nhập  khẩu  bổ  sung  

bằng   P’’=   P W + t ngoài và   khối  

lượng   nhập   khẩu   tăng  thêm   là  

de Tổng   nhập   khẩu   trong

Trang 15

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 127-

5.1.2 Trợ  cấp  xuất  khẩu

Khi  chính  phủ  của  một  nước  lớn  trợ  cấp  xuất  khẩu  cho  người  sản  xuất  một  loại  hàng hóa hoặc dịch  vụ  nhất  định,  ban  đầu  các  nhà  sản  xuất  sẽ  kiếm  được  nhiều  từ  xuất  khẩu   hơn   là   doanh   số   bán   hàng   trong   nước   và   do   đó   họ   sẽ có   động   cơ   để   xuất   khẩu  nhiều  hơn Tuy  nhiên,  giá  bán  cho  người  mua  trong  nước  sẽ  sớm  gia  tăng  đến mức  giá  xuất  khẩu  được  trợ  cấp Nhu  cầu  trong  nước sẽ  giảm Bởi  vì  các  nước  xuất  khẩu  được  giả  định là  lớn,  xuất  khẩu  tăng  sẽ  đẩy  mức  giá  cả  thị  trường  thế  giới  xuống,  làm  giảm  

tỷ  lệ  mậu  dịch  của  nước  đó  (tức  là  giá  xuất  khẩu  so  với  giá  nhập  khẩu) Ngược  lại,  tỷ  lệ  mậu   dịch   của   của   các   nước   nhập   khẩu sẽ   được   cải   thiện Nhìn chung, phúc   lợi   sẽ  giảm do  trợ  cấp  bóp  méo  việc  phân  bổ  tối  ưu các  nguồn  lực  mặc  dù  các  luồng  thương  mại  gia  tăng Trợ  cấp  sẽ  ảnh  hưởng  tiêu  cực  tới  phúc  lợi  của  nước  xuất  khẩu  do  khoản  mất  không  (hiệu  quả)  và  tổn  thất  phân  bổ  của  tỷ  lệ  mậu  dịch Trong  khi  đó,  tổn  thất  tỷ  

lệ  mậu  dịch  có  thể  được  xem  như  là  một  lợi  ích  cho  nước  nhập  khẩu dưới  hình  thức  là  lợi  ích  thu  được  của  tỷ  lệ  mậu  dịch, và  khoản  mất  không  là  khoản  mất  mát  ròng  của tất  

cả  các  bên

Hậu   quả   của   trợ   cấp   là   sự   phân   phối   không   đều cho   cả   quốc   gia   xuất   khẩu   và  nhập   khẩu Đối   với   nước   nhập   khẩu,   người   tiêu   dùng   hoặc   người   mua   của   sản   phẩm  nhập  khẩu  nói  chung  sẽ được  hưởng  lợi  từ  giá  thấp  hơn  nhờ  vào  trợ  cấp,  nhưng nhà  sản  xuất   hàng   nhập   khẩu   cạnh   tranh   bị   mất   mát Với   các   nước   xuất   khẩu,   nhà   sản   xuất   rõ  ràng  là  hưởng  lợi  từ  trợ  cấp,  trong  khi  người  tiêu  dùng  trong  nước sẽ  chịu  tổn  hại  bởi  vì  

họ  sẽ  phải trả  giá  cao  hơn  cho  các  sản  phẩm  được  trợ  cấp

Tác  động  của  trợ  cấp  xuất  khẩu

Khi  nghiên  cứu  tác  động  của  trợ  cấp  xuất  khẩu, quy  mô  của  nước  xuất  khẩu  là  rất  quan  trọng Khi  nước  xuất  khẩu  nhỏ  áp  dụng  trợ  cấp  xuất  khẩu,  giá  thế  giới  sẽ  không  bị  ảnh  hưởng Khi  một  nước  xuất  khẩu  lớn áp  dụng  trợ  cấp  xuất  khẩu,  xuất  khẩu  của  nước  

đó  tăng  lên  và  đồng  thời  lượng cung  cấp  thế  giới  cũng  tăng Điều  này  đẩy  giá  thế  giới  giảm  do  ảnh  hưởng  của  tỷ  lệ  mậu  dịch Hình  5.5  thể  hiện  dòng  thương  mại của  một  loại  hàng hóa giữa  hai nước  lớn,  một  là  xuất  khẩu  và  một  là  nhập  khẩu Để  đơn  giản  hóa,  tất  

cả   các biến   của   nước   xuất   khẩu   được   biểu   thị   bằng   dấu   hoa   thị Đường   cầu   của   nước  

xuất   khẩu cho   một   hàng   hóa là D* và   đường   cung   là S*,   tạo   ra   một   đường   cung   xuất   khẩu   ký   hiệu   là XS Tương   tự,   trong   nước   nhập   khẩu,   đường   cầu hàng hóa là D và đường  cung   là   S,  tạo   ra   đường  cầu   nhập   khẩu MD Trong   điều   kiện   thương  mại  tự   do   (FT),   giá   thế   giới   được   xác   định   là   P FT tương  ứng   với   điểm   giao   nhau   giữa   đường   cầu  nhập  khẩu  và  đường  cung  xuất  khẩu trong  thị  trường  thế  giới,  được  biểu  thị  bởi  điểm  1  trong mô  hình  ở  giữa

Trang 16

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 128-

Hình 5.5:  Tác  động  của  trợ  cấp  xuất  khẩu  của  một  nước  lớn

Việc  áp  dụng  một  mức  trợ  cấp  cụ  thể  (một  lượng  nhất  định  cho  mỗi  đơn  vị)  của  

nước   xuất   khẩu lên   hàng   xuất   khẩu,   ký   hiệu   là   S,   làm   dịch   chuyển   đường   cung   xuất  

khẩu ra XS’ Đường   cung   xuất   khẩu dịch   chuyển   xuống   bằng   lượng   tiền   trợ   cấp,   phản  

ánh  chi  phí  biên  của  hàng  xuất  khẩu  thấp Xuất  khẩu  tăng  và  giá  thế  giới  giảm Trong thị  

trường  nhập  khẩu,  giá  giảm  xuống  từ  P FT xuống  P 1 dẫn  đến  sự  gia  tăng  nhu  cầu  từ  D FT

đến  D 1 (sự  di  chuyển  từ  điểm  1  đến  điểm  3  trên   thị  trường  thế  giới) Mặt  khác,  trợ  cấp  xuất  khẩu làm tăng  giá  trong  nước  xuất  khẩu và  tạo  ra  một  sự  sai  khác  giữa  các  mức  giá  

trong hai  thị  trường Nói cách khác, giá  trong  nước  xuất  khẩu  được  tính  bằng  P *1 = P 1 +

S Kết   quả   là,   người   tiêu   dùng   trong nước xuất   khẩu   giảm   mức   tiêu   dùng   và   nhà   sản  

xuất  hàng  xuất  khẩu  với  giá  cao  hơn,  như được  thể  hiện  bởi  sự  di  chuyển  từ  điểm  1  đến  

điểm  2  trên  đường  cung  ứng  xuất  khẩu  XS Thương  mại  tăng  từ Q FT đến  Q 1

Phúc   lợi   ròng   từ   trợ   cấp   xuất   khẩu   đối   với   các   nước   nhập khẩu   là   dương Thật  vậy,   mặc   dù   mức   giá   thấp   hơn   dẫn   đến   mức   sản   xuất   thấp   hơn   của   các   công   ty   cạnh  

tranh  với  nhập  khẩu,  giảm  thặng  dư  sản  xuất  bằng  diện  tích  của  vùng  a,  như trong  sơ  đồ  

bên   phải,   nhưng  sự  thiệt  hại  thì   được   bồi   thường  bằng   sự   gia  tăng   phúc   lợi   của   người  

tiêu  dùng,  bằng  tổng  của  a, b, c và d Đối  với  nước  xuất  khẩu,  hiệu  quả  phúc  lợi  là  âm   Tổn  thất  phúc  lợi  của  người  tiêu  dùng  bằng  A + B;  nhà  sản  xuất  đạt  được  A + B + C và tiêu  dùng  chính  phủ là  diện  tích  B + C + D + E + F + G + H + I Vì vậy,  mất  mát  phúc  lợi   ròng  bằng   tổng  của B - khoản   mất   không  của  tiêu  dùng, với D - khoản   mất   không  của   nhà  sản  xuất,  và  E + F + G + H + I là  tổn  thất  tỷ  lệ  mậu  dịch  Tổn  thất  tiêu  dùng  được  tạo  

ra  do  số lượng người  tiêu  dùng tham gia  giao  dịch  trên  thị  trường  giảm  đi,  và tổn  thất  sản  xuất  được  giải  thích  bởi  việc  phải  sử  dụng  các  nguồn  lực  bổ  sung  và  đắt  hơn  nhiều  

để   tăng   xuất   khẩu,   điều   này   sẽ   không   xảy   ra   nếu   không   có   trợ   cấp   xuất   khẩu Trên

phương  diện  thế  giới,  khoản  mất  không  bằng  tổng  của  b và d cộng  với  phần mất  tổn  thất  

của   tỷ   trọng   mậu   dịch   của   nước   xuất   khẩu   do   không   được   bồi   thường   bằng   lợi   ích   có  được  từ  tỷ  trọng  mậu  dịch  của  nước  nhập  khẩu

Trang 17

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 129-

Trợ   cấp   sản   xuất   sẽ   có   tác   dụng   tương   tự   như   trợ   cấp   xuất   khẩu Sự   khác   biệt  chính  là  với  trợ  cấp  sản  xuất,  giá  trong  nước  tại  nước  xuất  khẩu  bị  giảm  xuống  do giá  thế  giới  giảm  khi nguồn  cung  tăng Người  tiêu  dùng  và  người  sản  xuất  trong  quốc  gia  xuất  khẩu  sẽ  có  lợi

Những  phân  tích  trợ  cấp  được  xem  xét  cùng  với một  số  hoạt  động  kinh  tế  hoặc  một  số  yếu  tố  khác,  chẳng  hạn  như  sản  xuất  hoặc  xuất  khẩu  Các  chính  phủ  cũng  thường  xuyên  dùng  trợ  cấp để  tài  trợ  toàn  bộ  hoặc  một  phần  cho  việc  mua  lại  các  tài  sản  cố  định,  chẳng  hạn  như  công  nghệ,  máy  móc và  thiết  bị  Những  loại  trợ  cấp  như  vậy  có  thể  được  thanh toán một  lần  hay một  vài  lần  và  thường  được  gọi  là  trợ  cấp không định  kỳ Các khoản   trợ   cấp   này   có   thể ảnh   hưởng   đến   cạnh   tranh   khi   vượt   quá   thời   kỳ   mà   trợ   cấp  được   cung   cấp   thật sự Ảnh   hưởng  có   thể   là   tăng  đầu   tư   của   một   số   công  ty   trong  thị  trường  liên  quan Kết  quả  là,  nhiều  công  ty  sẽ  năng  động  hơn  trong  ngành  công  nghiệp  hoặc  các  công  ty  hiện  tại  sẽ  sản  xuất  trên  quy  mô  lớn  hơn Điều  này  có  thể  có  tác  động  vào   điều   kiện   cạnh   tranh   trong  thị  trường  thế   giới  Khoảng  thời   gian   của   các  tác   động  như  vậy  vào  cạnh tranh  quốc  tế  phụ  thuộc  vào  tỷ  lệ  khấu  hao  tài  sản  cố  định  và  sự  tiến  triển  của  cầu  trong  những  năm  sau  đầu  tư

5.1.3 Hạn chế  xuất  khẩu  tự  nguyện

Hạn  chế  xuất  khẩu  tự  nguyện  (Voluntary export restraint – VER) là  một  hiệp  định  

tự  nguyện  giữa  các  nhà  cung  ứng  nước  ngoài  với  chính  phủ  nước  chủ  nhà  để  hạn  chế  số  lượng   xuất   khẩu   một mặt   hàng   nào   đó   vào   nước   này   Như   vậy,   đây   là   một   loại   hình  quota nhập   khẩu   tự   nguyện,   mặc   dù   là   không   có   giấy   phép   nên   chính   phủ   không   có  nguồn  thu  Chính  các  công  ty  xuất  khẩu  có lợi  nhờ  giá  cao  hơn

Khi   những  hạn   chế   xuất   khẩu  tự   nguyện  thành   công,  chúng   cũng   có   những  tác  động   kinh   tế   giống   như   một   hạn   ngạch   nhập   khẩu   tương   đương   Việc   thực   hiện   VERxuất   phát  từ   sự  xem   xét  xu  hướng  chính  trị  Một  quốc   gia   nhập   khẩu,   đã   từng  ủng   hộ  cho  những  đặc  điểm  thuận  lợi  của  tự  do  thương  mại  có  thể  không  muốn  áp  đặt  một  hạn  ngạch  nhập  khẩu  công  khai  bởi  vì  nó  sẽ  bao  hàm  sự  ra  đời  về  mặt  pháp  lý  đối  với  tự  do  thương  mại  Ngược  lại,  một  quốc  gia  có  thể  lựa  chọn  để  thương  lượng  một  hiệp  ước  với  nhà  phân  phối  nước  ngoài  nhờ  đó  mà  nhà  phân  phối  có  thể  đồng  ý  chủ  động  kiềm  chế  việc  gửi  hàng  hóa xuất  khẩu  sang  nước  nhập  khẩu

5.1.4 Cacten  quốc  tế

Cacten  quốc  tế   (International cartel) là  tổ  chức  của  các  nhà  cung  ứng  về  một   loại  

sản  phẩm  nào  đó,  phân bố  ở  các  quốc  gia  khác  nhau  (hay  là  một  nhóm  các  chính  phủ)  đồng  ý  hạn  chế  sản  xuất  và  xuất  khẩu  với  mục  đích  làm  tăng  lợi  ích  của  tổ  chức  đó  

Trang 18

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 130-

Cacten   quốc   tế   có   tiếng   nhất   hiện   nay   là   tổ   chức   các   nước   xuất   khẩu   dầu   mỏ  (Organization of Petroleum Exporting Countries - OPEC),  thành  lập  năm  1960  Các  nước  thành  viên  đầu  tiên  của  OPEC  gồm  có:  Iran,  Iraq, Saudi Arabia, Coet  Tổ  chức  này  nhằm  mục  tiêu  điều  phối  và  thống  nhất  các  chính  sách  sản  xuất  và  xuất  khẩu  dầu

Cacten sẽ  đạt  hiệu  quả  nhất  khi  chỉ  có  một  số ít hãng (chính phủ)  thống  trị  một  hoạt  động  nào  đó

5.2 CÁC HÀNG  RÀO  PHI  THUẾ  QUAN  KHÔNG  ĐỊNH  LƯỢNG

5.2.1 Các  điều  khoản  thu  mua  của  chính  phủ

Các  điều  khoản  thu  mua  của  Chính  phủ được  coi  một  rào  cản  thương  mại vì các

điều  khoản  này  hạn  chế  việc  các  cơ quan  chính  phủ  trong  nước  mua  các  sản  phẩm  của  nước  ngoài  Ví  dụ, Luật  mua  hàng  hóa của  Mỹ  quy  định  các  cơ  quan  chính  phủ  liên  bang  phải  mua  hàng  hóa của  các  công  ty  Mỹ  trừ  khi  giá  của  các  công  ty  này  cao  hơn  6%  so  với  nhà  phân  phối  nước  ngoài

5.2.2 Các biện  pháp  quản  lý  giá

Các  biện  pháp  quản  lý  giá  nhập  khẩu  hay  giá  bán  trong  nước  có  thể  có  tác  động  trực  tiếp  hay  gián  tiếp  tới  xuất  nhập  khẩu  hàng  hóa

5.2.2.1  Trị  giá  tính  thuế  hải  quan  (Customs  valuation)

Là  các  biện  pháp  do  các  cơ  quan  hải  quan  sử  dụng để  định  giá  đối  với  hàng  nhập  khẩu  nhằm  mục  đích  tính  thuế  nhập  khẩu  đúng  Hiệp  định  về  việc  thực  hiện  điều  VII  (Định   giá   Hải   quan)   của   Hiệp   định   chung   về   Thuế   quan   và   Thương   mại   (GAT) nhằm  mục   đích   quy   định   một   hệ   thống   công   bằng,   thống   nhất   và   trung   lập   để   định   giá   các  hàng  hóa,  ngăn  ngừa  việc  sử  dụng  các  giá  trị  hải  quan  giả  hoặc  tùy  tiện

5.2.2.2  Giá  bán  tối  đa  (Maximum  selling  price)

Giá  bán  tối  đa  trong  nước  đối  với  một  loại  hàng  hóa  nào  đó  có  thể  hạn  chế  nhập  khẩu,  đặc  biệt  là  đối  với  các  nhà  xuất  khẩu  không  có  khả  năng  cạnh  tranh  cao  Ví  dụ,  nếu  quy   định   giá   gạo   ở   Việt   Nam   loại   5%   tấm   lên   tới   10 đôla/kg   thì   sẽ   không   có   khả   xuất  khẩu,  vì  thị  trường  nước  nhập  khẩu  không  thể  chấp  nhận

Mặc  dù  các  quy  đinh  về  giá  bán  tối  đa  trong  nước  thiếu  tính  ràng buộc  nhưng  vấn  

đề  này  thường  được  các  thành  viên  đặt  ra  với  các  nước  đang  gia  nhập,   ví  dụ  như  Việt  Nam

Trang 19

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 131-

5.2.3  Các  biện  pháp  liên  quan  dến  doanh  nghiệp

5.2.3.1 Doanh  nghiệp  thương  mại  nhà  nước

Các   doanh   nghiệp   không   phân   biệt   hình   thức   sở   hữu   được   nhà nước   ban   cho  những  đặc  quyền  nhất  định  (doanh  nghiệp  thương  mại  nhà  nước)  có  thể  gây  ra  những  trở   ngại   lớn   tới   thương   mại   quốc   tế   Các   thành   viên   phải   cam   kết   các   hoạt   động   xuất  nhập   khẩu   của   các   doanh   nghiệp   thương   mại   nhà   nước phù   hợp   với   các   nguyên   tắc  chung   về  đối   xử   không  phân   biệt   với  các   doanh   nghiệp   tư   nhân   và  phải  tiến  hành  các  hoạt   động  mua   bán  hàng  hóa   chỉ  dựa   trên  tiêu   chí  thương  mại,   chẳng   hạn   như   giá   cả,  chất  lượng,  tiếp  thị,  vận  tải…;  đồng  thời  phải  dành  cho  các  doanh  nghiệp  của  các  thành  viên khác  những  cơ  hội  thích  hợp  tham  gia  cạnh  tranh  trong  việc  mua  bán  hàng  hóa  phù  hợp  với  thông  lệ  kinh  doanh  chung  Các  thành  viên  có  nghĩa  vụ  thông  báo  cho  WTO  về  các doanh  nghiệp  thương  mại  nhà  nước của  họ.(6)

5.2.3.2 Quyền  thương  mại/quyền  kinh  doanh (trading rights)

Là quyền   dành   cho   một   số   công   ty   nhất   định   được   tiến   hành   hoạt   động   xuất  khẩu,  nhập  khẩu  ở  các  nước,  đặc  biệt  là  các nước  có  nền  kinh  tế  kế  hoạch  hóa  tập  trung  hoặc  các nước  đang  chuyển  đổi  sang  nền  kinh  tế  thị  trường  Quyền  kinh  doanh  có  thể chỉ   giới   hạn   ở   việc   xuất   khẩu   một   mặt   hàng   nhất   định   hoặc   kinh   doanh   một   loại   mặt  hàng   nào   đó Các   công  ty   không  nhất   thiết   phải   là   công  ty   nhà   nước  mới   được   hưởng  quyền  kinh  doanh  Nếu  các  công  ty  có  quyền  kinh  doanh  là  công  ty  nhà  nước  thì  vấn  đề  này  lại  trở  thành  vấn  đề  thương  mại  quốc  doanh

5.2.4 Hàng  rào  kỹ  thuật  đối  với thương  mại (Technical barriers to trade)

Hàng  rào  kỹ  thuật  đối  với  thương  mại  (Technical  barriers  to  trade)  là những  cản  trở  thương  mại  thông  qua  hệ  thống  tiêu  chuẩn  và  đánh  giá  sự  phù  hợp  Hiệp  định  hàng  rào  kỹ  thuật  đối  với  thương  mại  trong  WTO  quy  định  hài  hòa,  giảm  và  loại  bỏ  các  hàng  rào này

Mục  tiêu  của  Hiệp  định  về  các  rào  cản  kỹ  thuật  đối  với  thương  mại  là  nhằm  bảo  

vệ  sức  khỏe  và  sự  an  toàn  của  con  người,  các  loại  động  thực  vật  và  môi  trường

Hàng  rào  kỹ  thuật  đối  với  thương  mại  có  thể  là  các  quy  định  kỹ  thuật  (technical  requirements),  tiêu  chuẩn  và  thủ  tục  xác  định  sự  phù  hợp(7) Cụ  thể  như  sau:

(6) Tài  liệu  như  đã  dẫn  ở  (4  ),  tr  169  

(7) Hiệp  định  về  các  rào  cản  kỹ  thuật  đối  với  thương  mại

Trang 20

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 132-

Các  quy  định  và  tiêu  chuẩn:  Tiêu  chuẩn  và  quy  định  kỹ  thuật  đều  đặt  ra  các  yêu  cầu  liên  quan  đến  tính  chất  vật  lý  của  sản  phẩm  Các  yêu  cầu  này  có  thể  liên  quan  đến  kích  thước,  hình  dáng,  thiết  kế  và  các  chức  năng  của  sản  phẩm  Các  yêu  cầu  này  cũng  

có  thể  quy  định  liên  quan  đến  nhãn  mác,  đóng  gói,  ký  hiệu  sản  phẩm   và  mở  rộng  tới  quy  trình  và  phương  pháp  sản  xuất  liên  quan  đến  sản  phẩm  

Một   chính phủ   thường   đưa   ra   những   tiêu   chuẩn   chính   thức   và   tiêu   chuẩn   kỹ  thuật  Nếu  một  quốc  gia  áp  dụng  các  tiêu  chuẩn  khác  với  các  nước  láng  giềng  của  mình,  thì  có  thể  coi  nước  đó  đang  áp  dụng  các  biện  pháp hạn  chế  nhập  khẩu  Các  công  ty  nước  ngoài   có   thể   sẽ   nhận   thấy   rằng   việc   sản   xuất   một dạng   sản   phẩm   của   họ   đặc   biệt   cho  riêng  một  thị  trường  là  quá  tốn  kém  Ví  dụ, ở  Italia,  đạo  luật  quy  định  rằng  bột  làm  mì  sợi  phải  từ  lúa  mì  Durum,  nhờ  vậy  nước  này  đã  ngăn  cản  được  các  loại  bột  mì  khác  vào  thị  trường  Italia

5.2.5 Các thủ  tục  đánh  giá  sự  phù  hợp

Bao  gồm  các  thủ  tục  như  xét  nghiệm,  kiểm  tra  xác  thực,  kiểm  định,  chứng  nhận  các sản   phẩm   đáp   ứng   các   yêu   cầu   kỹ   thuật   và   tiêu   chuẩn   đặt   ra   nhưng   phải   đảm   bảo  nguyên  tắc  không  phân  biệt  đối  xử  và  đãi  ngộ  quốc  gia,  phải  minh  bạch  và  tiến  tới  hài  hòa  Các  thành  viên  có  thể  đưa  ra  các  biện  pháp  để  bảo  vệ  môi  trường,  sức  khỏe  con  người  và  động  thực  vật,  ngăn  ngừa  các  hành  động  xấu  nhưng  không được  áp  dụng  theo  cách  thức  tạo  ra  sự  phân  biệt  đối  xử  tùy  tiện,  hay  hạn  chế  vô  lý  đối  với  thương  mại  quốc  tế

5.2.6 Kiểm  dịch  động  vật  và  thực  vật

Kiểm  dịch  động  vật  và  thực  vật  (Sanitary  and  Phytosanitary - SPS) (8) là  một  Hiệp  định  về  các  biện  pháp  vệ  sinh  dịch  tễ  của  WTO  bao  gồm  các  biện  pháp  nhằm  bảo  vệ  cuộc  sống,   sức   khỏe   của   con   người   và   động   vật   Hiệp   định   quy   định   nhằm   phòng   tránh  những  rủi  ro  về  vệ  sinh  của  hàng  hóa  có  thể  phát  sinh  từ  các  chất  phụ  gia,  các  chất  gây  độc  tố  và  chất  có  hại  đối  với  cơ  thể  con  người  có  trong  các  loại  lương  thực,  thực  phẩm  và  

đồ  uống  Hiệp  định  cũng  đưa  ra  các  quy  định  về  việc  ngăn  chặn  sự  lây  lan  của  các  loại  thực  phẩm  có  hại…  Các  biện  pháp  được  quy  định  trong  Hiệp  định  SPS  cũng  nhằm  mục  đích  đảm  bảo  rằng  các  quy  định về  an  toàn  và  sức  khỏe  không  có  những  ảnh  hưởng  quá  mức  tới  thương  mại  quốc  tế.(9)

Ngoài  ra  còn  có  các  quy  định  khác  liên  quan  đến  sản  phẩm  như:  thủ  tục  về  đóng  gói   sản   phẩm,   yêu cầu   về   dán   nhãn   sinh   thái,   các   yêu   cầu   về   phương   pháp   sản  xuất/khai  thác  và chế  biến  sản  phẩm, các yêu  cầu  của  người  tiêu  dùng

(8) Hiệp  định  SPS

9 Tài  liệu  như  đã  dẫn  ở  (4),  tr.173

Trang 21

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 133-

Tương  tự,  các  chính  phủ  yêu  cầu  tất  cả  các  sản  phẩm  nội  địa  và  hàng  nhập  khẩu  phải  đảm  bảo  các  yêu  cầu về  đóng  gói  và  nhãn  mác  nhất  định

5.2.7 Các thủ  tục  hành  chính

Quy  định  về  thanh  toán: Các  nước  đang  phát  triển  đang  đối  mặt  với  một  nhu  cầu  

dự  trữ  ngoại  tệ  mạnh,  có  thể  cần  cho  việc  kiểm  soát  ngoại  tệ  phát  sinh

Trong   trường   hợp   đặc   biệt,   các   nhà   xuất   khẩu   ở   các   nước   đang   phát   triển   phải  bán  ngoại  tệ  thu  được  của  họ  cho  ngân  hàng  trung ương,  ngân  hàng này  sẽ  phân  phối  số  ngoại  tệ  cần  thiết  cho  các  nhà  nhập  khẩu  để  thanh  toán  hàng  nhập  khẩu  Do  đó,  nhập  khẩu  tự  do  không  thể  thực  hiện  được  vì  ngoại  tệ  bị  phân  chia  từng  phần  Hình  thức  hạn  chế  này  có  thể  gây  ra  những  biến  dạng  nghiêm  trọng  đối  với  hàng  nhập  khẩu  so  với  mô  hình  tự  do  thương  mại  Bên  cạnh  đó,  đôi  khi  các  nước  đang  phát  triển  sử  dụng  hình  thức

“yêu  cầu  đặt  cọc  trước” Trong  tình  huống  này,  các  nhà  nhập  khẩu  chỉ  nhận  được  giấy  phép  nhập  khẩu  khi  đã  đặt  cọc  vào  quỹ  của  chính  phủ  một  số  lượng  tương  đương  với  số  phần  trăm  cụ  thể  của  giá  trị  hàng  nhập  khẩu  trong  tương  lai  Khoản  đặt  cọc  này  sẽ  được  hoàn  trả  khi  hàng  nhập  khẩu  đã  được  đưa  vào  trong  nước,  nhưng  đồng  thời  nhà  nhập  khẩu  cũng  mất  cơ  hội  chi  phí  vốn

Quy  định  về  thủ  tục  hải  quan: Các  thủ tục  hải  quan  rắc  rối,  mất  nhiều  thời  gian  tại  

các  cửa  khẩu  nhập  khẩu  cũng  đóng  vai  trò  là  hàng  rào  phi  thuế  quan  gián  tiếp  

5.2.8 Các  chính  sách  nội  địa  bổ  sung  ảnh  hưởng  đến  thương  mại

Các chính sách này trợ  giúp  cho  các  công  ty  trong  nước  cũng  có  những  tác  động  trực  tiếp   đối   với   thương   mại   Mặc  dù  sự  hỗ   trợ   cụ  thể  có  thể   không  chủ  định   gây   ảnh  hưởng  đến  thương  mại,  tiền  trợ  giúp  làm  giảm  chi  phí  các  công  ty  đó  có  thể  kích  thích  các  hoạt  động  xuất  khẩu  

Trong  trường  hợp  một  công  ty  nhập  khẩu  với  các  chi phí giảm  thông  qua  trợ  cấp  của  chính  phủ  có  thể  làm  cho  các  công  ty  trong  nước  cạnh  tranh  với  giá  thấp  hơn,  dẫn  đến  tăng  sản   lượng, tạo   công  ăn   việc   làm   và  giảm   nhập   khẩu   Một  khoản   cho   vay   của  chính  phủ  Mỹ  với  lãi  suất  thấp  cho  công  ty  Chrysler  dưới  thời kỳ  đương  nhiệm  của  Tổng  thống  Jimmy  Carter  cũng  có  thể  được  cho  là  một  chương  trình  hỗ  trợ  của  chính  phủ  đã  

có  những  tác  động  đến  thương  mại

Chương  trình  khuyến  khích  tiêu  dùng  hàng  nội  địa  cũng  sẽ  ảnh  hưởng  tới  hàng  nhập  khẩu, v.v…

Trang 22

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 134-

Tương  tự,  việc  chính phủ  cung  cấp  các  chương  trình  tái  đào  tạo,  hỗ  trợ  về  quản  

lý,  tài  trợ  cho  nghiên  cứu  và  phát  triển,  các  khoản  tín  dụng  thuế  đầu  tư  hay  thuế  đặc biệt  

có  lợi  cho  các  công  ty  trong  nước  sản  xuất  hàng  thương  mại  có  thể  có  tác  động  trực  tiếp  đối  với  sự  cạnh  tranh  về  chi  phí  liên  quan  và  thương  mại  quốc  tế

Nói   chung,   chúng  ta   đều   thấy  rất   rõ   sự   hiện  diện   của   rất   nhiều   hình   thức   kiểm  soát  ảnh  hưởng  đến  thương  mại  quốc  tế  Chúng  ta  mới  chỉ  đề  cập  đến  những  phương  tiện,  công  cụ  được  bàn  đến  rộng  rãi  nhất  Thông  tin  về  một  nước  cụ  thể  có  thể  có  được  chỉ  bằng  cách  nghiên  cứu  nước  đó  Tuy  nhiên  tự  do  thương  mại  không  tồn  tại  trên  thế  giới  này

5.3  NHỮNG  LÝ  LẼ  (LẬP  LUẬN)  VỀ  CHÍNH  SÁCH  BẢO  HỘ  THƯƠNG  MẠI  

5.3.1 Lý lẽ  về “ngành  công  nghiệp  non  trẻ”

Giả  thiết  một “mặt  hàng  có  thể  nhập  khẩu” cũng  có  thể  được  sản  xuất  trong  nước  

ở   những   xí   nghiệp   mới   hình   thành   gần   đây,   hoặc   ở   những   đơn   vị   mới   đưa   vào   hoạt  động  Những  xí  nghiệp “non  trẻ” này  phải  chịu  những  chi  phí  ban  đầu  cao  và  không  thể  cạnh  tranh  ngay  trong  một  vài  năm  đầu  tiên  với  các  đối  thủ  nước  ngoài  đã  được  thành  lập  lâu  năm Chính  sách  tự  do  buôn  bán  có  thể  sẽ  bóp  chết  nó  ngay  từ  khi  mới  sinh  ra  Một   hình   thức   thuế   quan   tạm   thời   đánh   vào   hàng   nhập   khẩu   sẽ   cho   phép   những   xí  nghiệp  như  vậy  trưởng  thành  cho  tới “độ  chín  muồi” và  được  bảo  vệ  chống  lại “cơn  gió  lạnh” của  cạnh  tranh  từ  nước  ngoài

5.3.2 Lý lẽ  về “tài  chính  công  cộng”

Chính  phủ  cần  có  nguồn  thu  để  đáp  ứng  các  chi  phí  trong  việc  cung  cấp  các  hàng  hóa công  cộng,  để  tiến  hành  việc  trả  nợ  và  giải  quyết  các  khoản  chi  trả  khác  Thuế  doanh  thu  đánh  vào  hàng  hóa và  thuế  thu  nhập  đánh  vào  các  cá  nhân  là  loại  dễ  gây  méo  mó  Chỉ  một  thực  tế  rằng  thuế  quan  cũng  gây  ra  một  sự  méo  mó  chưa  đủ  để  cho  phép  miễn  thuế  đối  với  hoạt  động  buôn  bán  quốc  tế  

Ở   đây  có   hai   điểm   cần   đưa   ra  để   bảo   vệ   cho  thuế   nhập   khẩu  Thứ   nhất,  để  thu  được  thuế  nhập  khẩu  chi  phí  phải  bỏ  ra  sẽ  rẻ,  rẻ  hơn  nhiều  so  với  các  loại  thuế  tiêu  dùng,  

mà   đối   với   chúng   số   điểm   thu   thuế   thông  thường   sẽ   lớn   hơn   nhiều   Trong   lịch   sử,   đế  quốc  La  Mã  từng  trông  cậy  chủ  yếu  vào  các  loại  thuế  đánh  vào  hoạt  động  buôn  bán  bằng  đường  biển,  một  phần  vì  hoạt  động  này  chỉ  thông  qua  một  số  ít  hải  cảng  nên  việc  trốn  thuế  khó  diễn  ra,  một  phần  vì  nhiều  loại  thuế  khác  (ví  dụ  như  thuế  thu  nhập) không có tính  khả  thi  Thứ  hai,  yếu tố  trợ  cấp  sản  xuất  ẩn  giấu  trong  các  loại  thuế  quan  có  thể  là  

Trang 23

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 135-

điều  hoàn  toàn  đáng  mong  muốn,  đặc  biệt  khi  nền  kinh  tế  đang  ở  trong  tình  trạng  không  

sử  dụng  hết  nguồn  lực

5.3.3 Lý lẽ  về “tình  trạng  thất  nghiệp”

Theo  một  nghĩa  nào  đấy,  thuế  nhập  khẩu  là  một  loại  trợ  cấp  việc  làm  Song  nó  có  nghĩa   rộng   hơn   và  cũng   có   nghĩa   hẹp  hơn   Nó   có   nghĩa   hẹp  hơn   vì  nó   chỉ  trợ  cấp   cho  việc   làm   ở   các   ngành   sản   xuất   trong   nước   có   thể   nhập   khẩu,   chứ   không   phải   ở   mọi  ngành  của  nền  kinh  tế  Đây  là  một  khu  vực  hạn  chế  Nó  cũng  có  nghĩa  rộng  hơn  là  vì  trợ  cấp  không  chỉ  đối  với  việc  làm  mà  còn  cho  các  yếu  tố  sản  xuất  khác  như  đất  đai,  tiền  vốn  

và  nguyên  liệu,  là  những  thứ  có  thể  không  cần  thiết  hoặc  không  tốt

Trợ  cấp  đối  với  sản  xuất  là  tương  đương  với  việc  trợ  cấp  cho  tất  cả các  yếu  tố,  chứ  không  phải  cho  lao  động  Điều  không  tốt  ở  đây  là  trợ  cấp  sản  xuất  cũng  có  nghĩa  là  một  loại  thuế  tiêu  dùng  đối  với  hàng  hóa có  thể  nhập  khẩu,  tạo  ra  một  sự  méo  mó  ở  những  nơi   mà   trước   đây   hoàn toàn không   có   Như   vậy   tình   trạng  thất   nghiệp   không   hề   biện  minh  cho  việc  áp  dụng  thuế  quan

5.3.4 Lý lẽ  về “phân  phối  thu  nhập”

Theo  nghĩa  hình  học,  tác  động  về  mặt  phúc  lợi  xã  hội  khi  đánh  thuế  quan  sẽ  có  một  sự  chuyển  dịch  lợi  ích  từ  những  người  tiêu  dùng  sang  những  người  sản  xuất  để  có  thể  bù  lại sự  mất  mát  Nếu  được  như  vậy  thì  chế  độ  thuế  quan  là  có  lợi  về  mặt  xã  hội  Nhưng  ở  đây  có  một  vấn  đề:  Giả  sử  chúng  ta  có  thể  tìm  thấy  một  phương  pháp  khác  nào  đấy  để  phân  phối  lại  thu  nhập  cho  những  người  mà  xã  hội  muốn  ưu  tiên  Việc  chuyển  dịch  trực  tiếp thu  nhập  cho  họ  sẽ  có  tất  cả  những  cái  được  coi  là  ưu  điểm  mà  không  kéo  theo   một   nhược   điểm   nào,   vì   những   diện   tích   liên   quan   không   bị   mất   đi   Nếu   có   thể  thuyết  phục  người  tiêu  dùng  chuyển  giao  phần  diện  tích  tăng  thêm  sang  cho  các  cá  nhân  thích  hợp,  xã  hội  chắc  chắn  sẽ  được  lợi  nhiều  hơn  là  sử  dụng  thuế  quan  Thuế  nhập  khẩu  

mà  Nhật  Bản  và  các  nước  thuộc  Cộng  đồng  Châu  Âu  (EC) đánh  vào  nông  sản  là  một  ví  

dụ  lý  thú

5.5.5 Lý lẽ  về “bảo  vệ  văn  hóa, lối  sống”

Có  những  quốc  gia  đề  cao  tính  dân  tộc  trong  tiêu  dùng hàng hóa Một  số  quốc  gia  rất  chú  trọng  giữ  gìn  truyền  thống  văn  hóa, lối  sống  trong  tiêu  dùng  Có  những  loại  sản  phẩm  trở  thành  hàng  hóa được  mọi  quốc  gia  chấp  nhận  nhưng  các  mặt  hàng  tiêu  dùng  

xa  xỉ,  cao  cấp  thì  một  số  nước  đang  phát  triển  chưa  thể  chấp  nhận  Quan  điểm  này  được  

sử  dụng  rộng  rãi  ở  các  nước  đang  phát  triển  để  bảo  vệ  cho  các  biện  pháp  bảo  hộ  thương  mại  của  mình  Tuy  nhiên,  phải  chăng  chỉ  có  thuế  quan  mới  ngăn  chặn  được  hàng  xa  xỉ  

Trang 24

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 136-

tràn  vào  từ  nước  ngoài?  Câu  trả  lời  rõ  ràng  là  không,  bởi vì  các  nhà  sản  xuất  nội  địa  rất  

có  thể  tập  trung  nguồn  lực  khan  hiếm  để  sản  xuất  các  sản  phẩm  xa  xỉ  đó  một  khi  giá cả  trong   nước   gia   tăng   vì   thuế quan   Cách   tốt   nhất   trong   những   trường   hợp   này   là   nên  đánh  thuế  tiêu  dùng  vào  những  ai  có nhiều  tiền  sử  dụng  những  hàng  hóa đó  Biện  pháp  này  sẽ  trực  tiếp  hơn  và  hiệu  quả  hơn  so  với  đánh  thuế  nhập  khẩu

TÓM  TẮT

Các  công  cụ  khác  nhau  trong  chính  sách  thương  mại  đã  được  nghiên  cứu  và  đưa đến  nhận  định  rằng  có  rất  nhiều  phương  tiện  biến  đổi  thương  mại  so  với  khuôn  mẫu  ưu  thế  cạnh  tranh  của  nó  Người  ta  rất  chú  ý  đến  loại  thuế  quan  đặc định,  thuế  quan  tính  theo   giá   trị,   thuế   ưu   đãi và   trợ   cấp,   hạn   ngạch   nhập   khẩu   và   hạn   chế   xuất   khẩu   tự  nguyện   Ngoài   ra,   rất   nhiều   hàng   rào   phi   thuế   quan   không   định   lượng   cũng   đã   được  xem  xét  Các  bước  tiến  hành  từ  tự do  thương  mại  không  cụ  thể  rõ  ràng  do  có  quá  nhiều  công  cụ  thương  mại  Những  tác  động  của  các  công  cụ  thương  mại  cũng  đã  được  phân  tích Những  quy  định  của  WTO  về  các  hàng  rào  thương  mại  phi  thuế  quan  là  phù  hợp  với  xu  hướng  phát  triển  của  nền  kinh  tế  thế  giới  hiện  đại  và  xã  hội  ngày  càng  phát  triển  văn  minh

CÂU  HỎI  ÔN  TẬP

1 Khái   niệm   hạn   ngạch   nhập   khẩu,   so sánh sự   giống  nhau   và  khác   nhau   giữa  thuế  quan  và  hạn  ngạch ?

2 Trình bày nội  dung  các  hàng  rào  thương  mại  phi  thuế  quan định  lượng?

3 Trình  bày  nội  dung  hàng  rào  thuế  quan không  định  lượng?

4 Phân  tích  tác  động  của  trợ  cấp  xuất  khẩu

5 Phân  tích  những  lý  lẽ  về  chính  sách  bảo  hộ thương  mại?

TÀI  LIỆU  THAM  KHẢO

1 Dennis R Appleyard, Alfred J Field, International Economics: Trade Theory

and Policy, second edition, Irwin, 1995

2 Dominick Salvatore, International Economics, fourth edition, Macmillan

Publishing Company, New York, 2001

3 World Trade Organization, World Trade Report 2009, 2009

4 Paul R Krugman, Maurice Obstfeld, Kinh  tế  học quốc  tế:  Lý  thuyết  và  chính   sách, NXB Chính  trị  Quốc  gia,  H., 1996

5 James Riedel, Kinh   tế   học   quốc   tế:   Lý   thuyết   và   thực   tiễn, Ủy ban Kế   hoạch  

Nhà  nước,  Dự  án  VIE/90/007,  H., 1993

Trang 25

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 137-

6 Bộ   Thương   mại, “Tài   liệu   bồi   dưỡng   Các   cam   kết   gia   nhập   Tổ   chức  

Thương  mại  Thế  giới  của  Việt  Nam”, 2007

7 Hoàng   Thị   Chỉnh   (Chủ   biên), Kinh   tế   quốc   tế, Trường   Đại   học   Kinh   tế  

Thành phố  Hồ  Chí  Minh,  2005

8 Nguyễn   Thành   Danh, Thương   mại   quốc   tế, NXB Lao   động   – Xã   hội, H.,

2005

Trang 26

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 138-

THƯƠNG  MẠI  QUỐC  TẾ  VÀ  SỰ  PHÁT  TRIỂN  KINH  TẾ

6.1 QUAN  HỆ  GIỮA  THƯƠNG  MẠI  QUỐC  TẾ  VÀ  SỰ  PHÁT  TRIỂN  KINH  TẾ

6.1.1  Lý  thuyết  thương  mại  và  sự  phát  triển

Chúng   ta   không  cần   chứng  minh   về  sự   hình   thành   và  phát  triển   của   thị   trường  thế  giới nữa  Nó  đã  là  một  hiện  thực  cơ  bản,  thậm  chí  cơ  bản  nhất,  của  thế  giới  hiện  đại,  đến  mức  có  thể  khẳng  định  rằng  thị  trường  thế  giới  là “đất  sống”  của  các  quốc  gia  khác  nhau,  và  quốc  gia  nào  không  đứng  chân  được  ở  đó  thì bị  đẩy  ra  rìa  của  dòng  chảy  văn  minh  loài  người

Ngày   nay,   thị   trường   thế   giới   không   chỉ   là   nơi   trao   đổi   hàng   hóa   mà   còn   ngày  càng  chủ  yếu  là  nơi  lưu  thông  của  tư  bản và  của  công  nghệ “Thể  trạng” kinh  tế  của  mỗi  quốc  gia,  đặc  biệt  là  các nước  phát  triển,  ảnh  hưởng  lớn  tới “sức  khỏe”  của  thị  trường  thế  giới,  và  ngược  lại,  mọi  dao  động  lớn  nhỏ  của  thị  trường  thế  giới  đều  tác  động  mạnh  mẽ  tới  tình  hình  kinh  tế  của  mỗi  nước

Thị  trường  thế  giới  không  chỉ  gồm  những  trao  đổi  giữa  các  quốc  gia,  mà  còn  bao  gồm  cả  những  thị  trường  bên  trong  của  các  quốc  gia  Vấn  đề  là  những  trao  đổi  thuộc  hai  loại  đó  gắn  bó  khăng  khít  với  nhau  và  làm  tiền  đề  cho  nhau  Không  có  những  trao  đổi  giữa  các  quốc  gia  thì  không  thể  tiến  hành  sản  xuất  có  hiệu  quả,  và  không  có  những  trao  đổi  bên  trong  mỗi  quốc  gia  thì  cũng  không  thể  có  sự  phát  triển  của  những  trao  đổi  giữa  các  quốc  gia

Trên  thực  tế,  sự  phân  chia  nói  trên  cũng  chỉ  có  tính  chất  ước  lệ  Theo  tính  toán  của  báo   cáo   về   kinh   tế   thế   giới   1990-2000,   nếu   lấy   giá   đồng   đôla   năm   1988   làm   chuẩn,   thị  trường  thế  giới  về  các  ngành  công  nghiệp  quan  trọng  nhất  (cơ  khí,  hóa  học,  gỗ,  giấy,  xe  hơi,  điện  tử,  đồ  điện,  dệt,  kim  loại  cơ  bản,  vật  liệu  xây  dựng)  tăng  từ  6.188  tỷ đôla  năm  

1973 lên 7.683 tỷ năm  1980, 9.825 tỷ năm  1988  và  năm  2000  tăng  lên  tới  14.522   tỷ  đôla  Trong   đó,   những   trao   đổi   giữa   các   quốc   gia   chiếm   tỷ   trọng   cũng   ngày   càng   tăng:   từ  15,3%  năm  1973  lên  19,7%  năm  1980,  rồi  22,2%  năm  1988  và  năm  2000  là  28,5%  Trình  độ  quốc  tế  hóa  sản  xuất  càng  cao  thì  tỷ  trọng  này  càng  lớn

Tuy  nhiên,  những  trao  đổi  bên  trong  của  các  quốc  gia  vẫn  chiếm  tỷ  trọng  lớn  hơn  nhiều   (hơn   3/4)   Chính   vì   thế,   một   số   nhà   kinh   tế   học   chủ   trương   những   lý   thuyết   về

“tăng  trưởng  nội  sinh” Chẳng  hạn,  theo  mô  hình  tăng  trưởng  của  Solow,  các  nguồn  tăng  

Trang 27

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 139-

trưởng  trước  hết  là  sự  tích  lũy  những  nhân  tố  sản  xuất  (nói  chung  là  lao  động  và  tư  bản)  

và  ở  tiến  bộ  kỹ  thuật  trong  nước,  trong  đó  sự  góp  phần  của  tiến  bộ  kỹ  thuật  bị  giảm  đến  mức  tối  đa,  vì  bị  coi  là  nhân  tố  dôi  ra,  không  thể  giải  thích  được

Cách  tính  nói  trên  tuy  có  ích  trong  việc  đánh  giá  và  lý  giải  mức  tăng  trưởng  kinh  

tế  của  một  nước  nhất  định,  nhưng  không  thể  đánh  giá  và  lý  giải  một  cách  đầy  đủ  vì  nó  

bỏ  qua  hoặc  coi  nhẹ  những  nhân  tố  quan  trọng  nhất  của  sản  xuất  trong  thời  đại  hiện  nay  

là  tiến  bộ  công  nghệ  và  kỹ  thuật  cũng  như  những  tác  động  của  thị  trường  thế  giới  (trong  một   số  trường  hợp,   như   Nhật  Bản,   Hàn   Quốc,   Đài   Loan,   Hồng  Kông,   Singapore…,   thị  trường   thế   giới   được   coi   là   điểm   xuất   phát   để   tính   toán   sự   tăng   trưởng   kinh   tế   của  mình)

P   Romer,   một   người   theo   thuyết “tăng   trưởng   nội   sinh”,   đã   đưa   ra   một   quan  niệm  rộng  hơn  và  hợp  lý  hơn  Ông  không  coi  nhẹ  những  nhân  tố  tiến  bộ  kỹ  thuật  và  tác  động  bên  ngoài,  nhưng  theo  ông,  những  nhân  tố  đó  có  ảnh  hưởng  tới  đâu  là  do  năng  lực  bên  trong  quyết  định  Chẳng  hạn,  về  tiến  bộ  kỹ  thuật,  Romer  cho  rằng  nó  là  kết  quả  của  

sự  tích  lũy  trí  thức,  gắn  liền  với  việc  sử  dụng  lao  động  có  lao  động  trình  độ  rất  cao

Như   vậy,   mô   hình   của   Romer   đặt   ra  một   liên   hệ   chặt   chẽ   giữa   trình   độ   của   lao  động  được  sử  dụng  vào  việc  tìm  tòi  với  mức  tăng  năng  suất  Vấn  đề  bây  giờ  không  phải  

là  số  lượng  vốn  nhân  lực  mà  là  chất  lượng  nguồn  nhân  lực  Nhiều  người  nhưng  với  trình  

độ  thấp,  đó  sẽ  là  nhân  tố  kìm  hãm  hiệu  suất  của  nền  kinh  tế  Chính  điều  đó  cắt  nghĩa  phần   nào   sự   “cất   cánh”   khó   khăn   của   các   nền   kinh   tế   kém   phát   triển   đang   đụng   phải  những  thách  thức  dân  số  khổng  lồ,  và  cũng  giải  thích  được  những  giai  đoạn  tăng  trưởng  tiến  bộ  kỹ  thuật  nhanh  chóng  của  các  nền  kinh  tế  phát  triển

Hơn  nữa,  sự  tham  gia  thị  trường  thế  giới  hiện  nay  đòi  hỏi  những  nhân  tố  rất  mới  

mẻ  và  cũng  rất  to  lớn  mà  nhiều  nước  kém  phát  triển  không  thể  có  sẵn   Trước  hết  đó  là  công  nghệ  mới  để  cho  những  sản  phẩm  của  mình  có  sức  cạnh  tranh  trên  thị  trường  thế  giới,   tiếp   đó  là   để  những   sản  phẩm  tiêu  dùng   trong  nước   cũng  chịu  được   sức   ép  cạnh  tranh  của  những  sản  phẩm  từ  bên  ngoài  đưa  vào  ngày  càng  tăng  (cả  về  số  lượng  và  chất  lượng)   Công   nghệ   mới   lại   đòi   hỏi   hai   nhân   tố   không   thể   thiếu:   (1)vốn   để   trang   bị   kỹ  thuật   mới   (từ   sản   xuất   đến   cấu   trúc   hạ   tầng)   và   (2)   trình   độ   lao   động   cao   để   sử   dụng  công  nghệ  và  kỹ  thuật  mới  (mà  nhân  tố  này  lại  đòi  hỏi  những  chi  phí  đào  tạo  và  đào  tạo  lại  rất  lớn,  nghĩa  là  cũng  đòi  hỏi  vốn  lớn)  

Điều  gì  đã  làm  thương  mại  phát  triển  như  ngày  nay?  Đó  là  sự  bùng  nổ  tự  do  hóa  thương  mại  toàn  cầu  Từ  năm  1950  đến  1997,  tổng  sản  phẩm  thế  giới  tăng  6  lần,  trong  khi  khối  lượng  mậu  dịch  tăng  16  lần  Sản  lượng  công  nghiệp  tăng  9  lần,  trong  khi  khối  lượng  trao  đổi  các  sản  phẩm  công  nghiệp  tăng  31  lần  Tỷ  lệ  xuất  khẩu  so  với  GDP  của  thế  giới  

Trang 28

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 140-

trong  thập  niên 1990  cao  hơn  60%  so  với  tỷ  lệ  năm  1913  Năm  1997,  xuất  khẩu  hàng  hóa  

và  dịch  vụ  thương  mại  thế  giới  đạt  6.500  tỷ  đôla, bằng  1/5  sản  lượng  toàn  cầu  Rõ  ràng  thương  mại  đã  quay  trở  lại  phục  vụ  cho  sự  phát  triển  của  công  nghiệp

Sự  phát  triển  của  khoa  học  công  nghệ  và  kỹ  năng  quản  lý  cũng  tác  động  tích  cực  tới   thương   mại   Sự   phát   triển   của   những   ngành   mới,   lĩnh   vực   kinh   doanh   mới,   sự   gia  tăng  của  các  chủ  thể  tham  gia  kinh  doanh  và  số  lượng  các  hàng  hóa,  sự  phát  triển  của  công  nghệ  thông  tin  chính  là  những  nguyên  nhân  đang  làm  phức  tạp  hóa  các  mối  quan  

hệ  thương  mại  Các  công  ty  đa  quốc  gia  đã  tạo  ra  cuộc  cách  mạng  về  công  nghiệp  cũng  như  thách  thức  sản  xuất  trên  phạm  vi  toàn  cầu  Năm  1992,  trao  đổi  thương  mại  trong  nội  

bộ  các  tập  đoàn  lớn  chiếm  tới  40%  kim  ngạch  mậu  dịch  Mỹ

Tự  do  hóa  thương  mại  được  khởi  xướng  ở  Bắc  Mỹ  và  châu  Âu  Nhiều  người  lúc  

đó  lo  ngại  rằng  tự  do  hóa  sẽ  giảm  sự  bảo  hộ  cho  các  ngành  trong  nước,  qua  đó  tăng  thất  nghiệp  và  giảm  tăng  trưởng  Thực  tiễn  cho  thấy  tự  do  hóa  luôn  gắn  với  tăng  trưởng  cao  

và  thất  nghiệp  thấp

Ở  châu  Á,  tiếp  sau  Nhật  Bản  là  bốn  con  hổ  gồm  Hàn  Quốc,  Đài  Loan,  Hồng  Kông  

và  Singapore  đã  theo  đuổi  chính  sách  hướng  ngoại,  thực  hiện  tự  do  hóa  từng  bước  Kết  quả  là  bốn  con  hổ  này  đã  tăng  thu  nhập  đầu  người  từ  mức  20%  so  với  thu  nhập  ở  các  nước  công  nghiệp  năm  1965  lên  tới  70%  năm  1995  Con  đường  hướng  ngoại  được  tiếp  nối   với   Chile, Indonesia, Malaysia và   Thái   Lan   vào   đầu   thập   niên 1970   và   sau   đó   là  Trung  Quốc  vào  đầu  thập  niên 1980  Để  so  sánh,  lấy  ví  dụ  Ấn  Độ  là  nước  hướng  nội,  khi  GATT  ra  đời,  Ấn  Độ  có  mức  xuất  khẩu  hàng  đầu  trong  các  nước  đang  phát  triển,  nhưng  vào  những  năm  1980,  Ấn  Độ  đã  bị  ngay  cả  Thái  Lan  và  Malaysia  vượt  xa,  đó  là  chưa  kể  đến  Hàn  Quốc  hay  Đài  Loan

Sự  thành  công  của  các  nước  châu  Á  nhờ  xuất  khẩu  đã  làm gia tăng  mức  sống ở  các  quốc   gia   này Theo WTO,   số   người   sống   ở   mức   nghèo   khổ   ở   châu   Á   (thu   nhập   dưới   1  đôla/ngày)   đã   giảm   từ   700   triệu   người   xuống   còn   350   triệu   người   trong   giai   đoạn   1975-

1995

Rõ  ràng  xu  hướng  tự  do  hóa  thương  mại  là  tất  yếu  Nó  tạo  lợi  thế  cho  các  nền  kinh  

tế  qua  việc  khai  thác  lợi  thế  so  sánh,  lợi  thế  theo  quy mô,  giảm  giá  hàng  tiêu  dùng,  tăng  cường  sức  cạnh  tranh,  thu  hút  chuyển  giao  công  nghệ  và  nắm  bắt  thông  tin  Thương  mại  quốc  tế  là  một  trong  những  nhân  tố  quan  trọng  nhất  của  sự  phát  triển  kinh  tế

Theo  công  thức  tính  tổng  sản  phẩm  quốc  dân,  GDP = C+G+I+(E-M)

Trong  đó:  

Trang 29

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 141-

GDP: Tổng  sản  phẩm  quốc  nội C: Tiêu dùng  cuối  cùng  của  dân  cư G: Chi  tiêu  của  chính  phủ

I:  Tăng  đầu  tư  trong  năm  (tích  lũy  tài  sản  cơ  bản) E-M:  xuất  khẩu  ròng  =  xuất  khẩu  –nhập  khẩu  

Tổng  giá  trị  sản  xuất  là  hàm  số  của  xuất  khẩu  (hàng  hóa  và  dịch  vụ)  Nếu  các  điều  kiện  khác  không  thay  đổi,  về  giá  trị  tuyệt  đối,  xuất  khẩu  tăng  thêm  bao  nhiêu  sẽ  làm  cho  tổng  giá  trị  sản  xuất  tăng  lên  tương  ứng  với  một  tỷ  lệ  nhất  định

GDP  là  một  hàm  số  của  tổng  giá  trị  sản  xuất,  do  đó  cũng  sẽ  là  hàm  số,  thường  là  hàm  số  bậc  nhất,  đồng  biến,  cho  nên  GDP  cũng  là  hàm  số  của  xuất  khẩu

6.1.2  Vai  trò  của  thương  mại  quốc  tế  đối  với  sự  phát  triển  kinh  tế

Thứ  nhất,  trong  mỗi  giai  đoạn  phát  triển,  thương  mại  quốc  tế  bao  giờ  cũng  được  

đánh  giá  cao  vì  nó  giúp  mỗi  quốc  gia  có  được  các  loại  hàng  hóa  mà  nước  đó  không  sản  xuất   được   (hoặc   không   có)   và   tạo   ra   những   hệ   quả   khả   quan   như   sau:   (i)   chuyển   giao  công  nghệ,  nhờ  đó  nâng  cao  phúc  lợi  kinh  tế  cho  mọi  người  dân;  (ii)  kích  cầu  (tác  động  kiểu  Keynes  tới  nền  kinh  tế)  thông  qua  hoạt  động  của  các  số  nhân,  do  đó  nâng  cao  hiệu  quả  và  thúc  đẩy  tăng  trưởng  kinh  tế;  (iii)  đem  lại  lợi  ích  không  chỉ  cho  các  doanh  nghiệp  (tăng  doanh  thu  và  lợi  nhuận)  do  ngoại  thương  mở  rộng  thị  trường,  khai  thác  được  lợi  thế  kinh  tế  nhờ  quy  mô,  mà  còn  kích  thích  được  hoạt  động  của  toàn  bộ  nền  kinh  tế;  (iv)  

mở  rộng  khả  năng  lựa  chọn  cho  người  tiêu  dùng;  (v)  giảm  chi  phí  đầu  vào  sản  xuất  như  nguyên  vật  liệu  và  các  sản  phẩm  trung  gian,  góp  phần  làm  giảm  tổng  chi  phí  sản  xuất

Thứ hai,  thương  mại  quốc  tế  phân  bổ  có  hiệu  quả  các  nguồn  lực  sản  xuất  của  thế  

giới  Điều   này  đã  được   chứng  minh  cả  trong  lý   thuyết   (như   lý  thuyết   lợi   thế  tuyệt   đối  của   Adam   Smith,   lý   thuyết   lợi   thế   tương   đối   của   David   Ricardo,   lý   thuyết   H-O   của  Heckscher  và  Ohlin,  v.v )  và  trong  thực  tiễn  thương  mại  quốc  tế  thúc  đẩy  chuyên  môn  hóa  sản  xuất  dựa  trên  lợi  thế  so  sánh  của  mỗi  nước,  làm cho  các  nước  sử  dụng  nguồn  lực  của   mình   một   cách   hiệu   quả   nhất   Đến   lượt   mình,   chuyên   môn   hóa   lại   thúc   đẩy   tăng  năng  suất  lao  động,  góp  phần  làm  tăng  năng  lực  sản  xuất,  do  đó  thúc  đẩy  sự  phát  triển  của  ngoại  thương  Như  vậy,  thương  mại  quốc  tế  ngày  càng  làm  tăng  mức  sống  của  các  quốc  gia  nói  riêng  và  của  cả  thế  giới  nói  chung

Thứ  ba,  thương  mại  quốc  tế  làm  thay  đổi  cơ  cấu  kinh  tế  theo  hướng  có  lợi  nhất  cho  

mỗi  quốc  gia  Do  đòi  hỏi  tất  yếu  của  quan  hệ  kinh  tế  quốc  tế  và  phân  công  lao  động  quốc  

tế,   mỗi   quốc   gia   khi   hội   nhập   vào   nền   kinh   tế   thế   giới  đều   phải   có   sự   thay  đổi   cơ   cấu  kinh  tế  và  cơ  cấu  sản  xuất  các  sản  phẩm  hàng  hóa  xuất  khẩu  bắt  nguồn  từ  trình  độ  phát  

Trang 30

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 142-

triển  kinh  tế,  nguồn  lực  và  lợi  thế  của  mỗi  quốc  gia  Với  sự  thay  đổi  đó,  kim  ngạch  xuất  khẩu  của  đất  nước  sẽ  từng  bước  được  nâng  cao,  vì  vậy  sẽ  thúc  đẩy  kinh  tế  phát  triển

Thứ   tư, thương  mại   quốc   tế   nâng  cao   hiệu   quả   của   nền   kinh   tế   Do  thương  mại  

quốc   tế   phân   bổ   có   hiệu   quả   nguồn   lực   trong   nước,   làm   thay   đổi   cơ   cấu   kinh   tế   theo  hướng   tận   dụng   triệt   để   lợi   thế   của   quốc   gia   và   sử   dụng   những   nguồn   đầu   vào   cạnh  tranh   của   thế   giới   nên   hiệu   quả   của   nền   kinh   tế   không   ngừng   được   nâng   cao,   vì   vậy  năng   lực   cạnh   tranh   của   nền   kinh   tế   nói   chung   và   các   doanh   nghiệp   nói   riêng   cũng  không  ngừng  tăng  lên

Thứ  năm, thương  mại  quốc  tế  còn  có  mối  liên  hệ  khăng  khít  với  đầu  tư  trực  tiếp  

nước  ngoài  (FDI)  Trong  nhiều  trường  hợp,  thương  mại  quốc  tế  có  tác  dụng  thu  hút  FDI  

vì  để  khai  thác  thị  trường  nước  ngoài  có  hiệu  quả,  các  nhà  đầu  tư  sẽ  tiến  hành  đầu  tư  ra  nước   ngoài   Trong   những   trường   hợp   khác,   FDI   sẽ   thúc   đẩy   thương   mại   quốc   tế   phát  triển  do  FDI  vào  kéo  theo  nhiều  nhu  cầu  nhập  khẩu  máy  móc  trang  thiết  bị,  nguyên  vật  liệu  và  sản  phẩm  trung  gian  phục  vụ  cho  quá  trình  sản  xuất,  đồng  thời  các  doanh  nghiệp  

có  FDI  sẽ  xuất  khẩu  được  những  sản  phẩm  của  mình  nhờ  khai  thác  được  lợi  thế  từ  nước  nhận  đầu  tư

Khi   các   nước   tiến   hành   cải   cách   và   hội   nhập   vào   thị   trường   thế   giới,   các   nước  đang  phát  triển “toàn  cầu  hóa  nhiều  hơn”  bắt  đầu  tăng  trưởng  nhanh  chóng,  với  tốc  độ  tăng  trưởng  tăng  ổn  định  từ  2,9% trong thập niên 1970, lên 5%  trong  thập  niên 1990  Các  nước  này  ở  trong  một “vòng  tròn  thành  công”  bao  gồm  mức  tăng  trưởng  cao  hơn  và  sự  thâm  nhập  hơn  nữa  thị  trường  thế  giới  Dường  như  tăng  trưởng  và  thương  mại  có  tác  dụng   củng   cố   lẫn   nhau, đồng   thời   các   chính   sách   mở   rộng   giáo   dục,   giảm   hàng   rào  thương  mại   và  cải  cách   các   khu   vực   chiến   lược   có   tác  dụng  củng   cố  cả  tăng  trưởng  và  thương  mại

Việc  có  tồn  tại  một  mối  liên  hệ  nhân  quả  giữa  mở  cửa  thương  mại  với  tốc  độ  tăng  trưởng  cao  hơn  không  phải  là  vấn  đề  Ở  các  nước  có  thu  nhập  thấp  đã  thâm  nhập  vào  thị  trường   toàn   cầu,   hạn   chế   khả   năng   tiếp   cận   các   thị   trường   này   sẽ   có   hại   đối   với   tăng  trưởng,  không  phụ  thuộc  vào  quá  trình  công  nghiệp  hóa  có  được  khởi  đầu  bằng  sự  mở  cửa   hay  không  Tuy   nhiên,   việc   mở   cửa   có   tác   dụng   hội   nhập   một   nền   kinh   tế   vào   thị  trường  rộng  lớn  hơn,  và  kể  từ  Adam  Smith  đến  nay,  các  nhà  kinh  tế  học  đều  cho  rằng,  quy  mô  của  thị  trường  có  vai  trò  quan  trọng  đối  với  tăng  trưởng  Một  thị  trường  lớn  hơn  cho  phép  tiếp  cận  tới  nhiều  ý  tưởng  hơn,  cho  phép  đầu  tư  vào  các  khoản  đầu  tư  chi  phí  

cố  định  quy  mô  lớn  và  tạo  điều  kiện  cho  sự  phân  công  lao  động  tốt  hơn  Một  thị  trường  lớn   hơn   cũng   mở   rộng   khả   năng   lựa   chọn   Khả   năng   lựa   chọn   rộng   mở   hơn   đối   với  những  người  tiêu  dùng  có  thu  nhập  cao  không  giúp  ích  gì  cho  công  việc  giảm  nghèo  đói,  nhưng  sự  lựa  chọn  rộng  rãi  hơn  có  thể  có  ý  nghĩa  với  các  doanh  nghiệp  nhiều  hơn  là  với  

Trang 31

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 143-

người   tiêu   dùng   Chẳng   hạn,   khi   Ấn   Độ   tiến   hành   tự   do   hóa   thương   mại,   các   doanh  nghiệp  ở  nước  này  đã  có  thể  mua  các  thiết  bị  máy  móc  có  chất  lượng  tốt  Các  ảnh  hưởng  tương  tự  cũng  được  nhận  thấy  đối  với  tự  do  hóa  nhập  khẩu  của  Trung  Quốc  Cuối  cùng  một   thị   trường   lớn   hơn   làm   tăng   cạnh   tranh,   và   điều   này   có   thể   khuyến   khích   sự   đổi  mới   Có   một   số   bằng   chứng   cho   thấy,   sự   hội   nhập   vào   nền   kinh   tế   thế   giới   có   vai   trò  quan  trọng  đối  với  các  nền  kinh  tế  nhỏ  và  nghèo  hơn  là  đối  với  các  nền  kinh  tế  lớn  như  

Ấn  Độ  hay  Trung  Quốc  

Tóm  lại,  có  thể  nói  rằng,  kể  từ  năm  1980,  sự  hội  nhập  toàn  cầu  của  các  thị  trường  hàng  hóa  đã  cho  phép  các  nước  đang  phát  triển  với  vị  trí,  chính  sách,  thể  chế  và  cơ  sở  hạ  tầng  tương   đối   tốt,   tận   dụng   được   nguồn   lao   động   dồi   dào   của   mình   để   tạo   ra   lợi  thế  cạnh  tranh  trong  một  số  ngành  chế  tạo  và  dịch  vụ  Lợi  thế  ban  đầu  mà  các  nước  này  có  được  nhờ  lao  động  rẻ  trong  một  số  trường  hợp  đã  mở  đầu  cho  một  vòng  tròn  các  lợi  ích  

có   được   từ   thương   mại   nối   tiếp   nhau   Chẳng   hạn,   lần   đầu   tiên   thâm   nhập   thị   trường  phần  mềm  thế  giới,  thành  phố  Bangalore  đã  tận  dụng  được  lợi  thế  so  sánh  nhờ  lực  lượng  lao  động  rẻ  và  được  đào  tạo  của  mình  Khi  ngày  càng  có  nhiều  doanh  nghiệp  bị  thu  hút  

về  thành  phố, thì  nó  lại  bắt  đầu  nhận  được  tính  kinh  tế  nhờ  tập  trung  Doanh  thu  xuất  khẩu   tăng   lên   cho   phép   tài   trợ   việc   nhập   khẩu   nhiều   hơn,   do   vậy,   vừa   làm   tăng   cạnh  tranh  lại  vừa  mở  rộng  được  khả  năng  lựa  chọn  Có  một  số  bằng  chứng  là,  các  ảnh  hưởng  của   thương   mại   này   làm   tăng   không   chỉ   mức   thu   nhập   thực   tế   mà   còn   cả   tỷ   lệ   tăng  trưởng   Tuy   nhiên,   quá   trình   tăng   trưởng   cũng   rất   phức   tạp   Cần   thấy   rằng,   chỉ   riêng  thương  mại  chắc  chắn  không  đủ  đảm  bảo  cho  tăng  trưởng  Phải  kết  hợp  việc  mở  rộng  thương  mại  với  nhiều  chính  sách  khác  (huy  động  vốn,  ổn  định  chính  trị  và  cải  thiện  môi  trường  kinh  doanh)  thì  phát  triển  kinh  tế  mới  bền  vững  với  tốc  độ  cao

6.1.3  Thực  tiễn  của  thương  mại  quốc  tế

Năm  1988,  tổng  giá  trị  thương  mại  quốc  tế  về  hàng  hóa  và  dịch  vụ  đạt  gần  3.000  

tỷ  đôla  Con  số  to  lớn  này  vẫn  còn  thấp  hơn  nhiều  so  với  thu  nhập  quốc  dân   của  nước  

Mỹ  trong  năm  này  (khoảng  4.200  tỷ  đôla)  Nó  chiếm  khoảng  1/6  tổng  thu  nhập  của  thế  giới  Năm  1997,  thương  mại  quốc  tế  đã  tăng  lên  khoảng  7.200  tỷ  đôla  trong  thương  mại  hàng  hóa  chiếm  hơn  6.000  tỷ  đôla  và  thương  mại  dịch  vụ  chiếm  khoảng  1.200  tỷ

Từ   năm   1945,   trong   nhiều   năm,   thương  mại   quốc   tế   đã   có   nhịp   độ   tăng   trưởng  nhanh   hơn   thu   nhập   của   thế   giới   Hoạt   động   thương   mại   trên   thế   giới   về   hàng   công  nghiệp   chế   tạo   chế   biến   tăng   7%   mỗi   năm   từ   năm   1950   đến   năm   1986;   trong   khi   mức  tăng  thu   nhập   hàng  năm   chỉ   khoảng  4%   và   mức   tăng  của   sản  xuất  công  nghiệp   là   5%  Phần  lớn  động  lực  thúc  đẩy  mở  rộng  thương  mại  bắt  nguồn  từ  việc  từng  bước  cắt  giảm  hàng   rào   thuế   quan   của   đa   số   các   nước   phát   triển   Những   nước   mở   rộng   xuất   khẩu  nhanh  nhất  từ  năm  1950  bao  gồm  Italia,  Nhật  Bản  và  Tây  Đức  (đều  là  những  nước  bị  đảo  

Trang 32

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 144-

lộn  do  thua  trận  trong  chiến  tranh  thế  giới)  và  các  nước,  vùng  lãnh  thổ  khác  có  tốc  độ  gia  tăng   thu   nhập   quốc   dân   cao   như   Hồng   Kông, Singapore,   Hàn   Quốc,   Đài   Loan,   Trung Quốc,  Brazil và  Tây  Ban  Nha

Cơ  cấu  địa  lý  trong  thương  mại  cũng  thay  đổi  theo  khía  cạnh  khác,  buôn  bán  giữa  các   nước   láng   giềng   tăng   nhanh   một   cách   đột   biến   Buôn   bán   song   phương   vượt   qua  biên  giới  giữa  Canada  –  Mỹ,  giữa  Pháp,  Hà  Lan,  Anh  và  Tây  Đức,  giữa  Nhật  Bản  và  các  nước  công  nghiệp  phát  triển  đã  tăng  nhanh  hơn  so  với  thương  mại  liên  lục  địa

Đối  với  các  nước  Đông  Á,  mức  độ  phụ  thuộc  của  tăng  trưởng  kinh  tế  trong  nước  vào  thương  mại  quốc  tế  còn  lớn  hơn  nhiều  so  với  các  khu  vực  khác  trên  thế  giới  Tỷ  lệ  kim   ngạch   ngoại   thương   của   các   nước   Đông  Á   và   Thái   Bình   Dương   so   với   GDP   trong  giai  đoạn  từ  1990  đến  2000  đã  tăng  từ  48,8%  lên  65,6%,  trong  khi  tỷ  lệ  tương  ứng  của  khu  vực  Mỹ  Latinh  và  vùng  Caribbean  là  23,2%  và  37,7%,  khu  vực  Trung  Đông  và  Bắc  Phi  là  45,4%  và  51,6%

Hầu  như  tất  cả  các  nước  đều  đang  ngày  càng  phụ  thuộc  nhiều  hơn  vào  các  hoạt  động  mậu  dịch  nhằm  duy  trì  được  mức  độ  tăng  trưởng  kinh  tế  và  bảo  đảm  công  ăn  việc  làm  Tuy nhiên,  từ  trước  tới  nay,  mậu  dịch  lại  luôn  đóng  vai  trò  một  động  cơ  tăng  trưởng  mạnh  mẽ  hơn  cho  một  số  nước  so  với  các  nước  khác  Mậu  dịch  quốc  tế  giữ  vị  trí  quan  trọng  trong  sự  hình thành  của “điều  kỳ  diệu”  Đông  Á  và  duy  trì  tính  năng  động  của  các  nền  kinh  tế  trong  khu  vực  Ở  một  thái  cực  đối  lập,  vùng  Nam  Sahara  châu  Phi  lại  đang  phải  đương  đầu  với  nạn  suy  thoái  kinh  tế  triền  miên,  một  phần  do  môi  trường  mậu  dịch  của  khu  vực  này  không  thuận  lợi

Trong  những  năm  1980,  tốc  độ  xuất  khẩu  hàng  hóa  của  Đông  Á  tăng  ở  mức  trung  bình  10%  hàng  năm,  gấp  hơn  hai  lần  tốc  độ  tăng  trưởng  chung  của  thế  giới  Xu  hướng  này  vẫn  tiếp  tục  phát  huy  trong  những  năm  1990  và  đặc   biệt tăng  mạnh  với  thành  tích  của  Trung  Quốc  và  Việt  Nam  Người  ta  dự  đoán  tình  hình  sẽ  tiến  triển  tốt  trong  thế  kỷ  tới  Ngược  lại,  vùng  Nam  Sahara  châu  Phi  đạt  tốc  độ  tăng  tưởng  hàng  hóa  xuất  khẩu  chỉ  vượt   con   số   không   một   chút   trong   những   năm   1980   và   tăng   lên   không   đáng   kể   trong  những  năm  1990  Hàng  hóa  xuất  khẩu  chiếm  tới  1/5  thu  nhập  của  khu  vực  này  Điều  này  

có  thể  giải  thích  cho  sự  giảm  sút  thảm  hại  về  mức  sống  của   người  dân  trong  khu  vực  Những  trái  ngược  này  phản  ánh  sự  tác  động  qua  lại  giữa  chính  sách  đối  nội  với  các  nhân  

tố  từ  bên  ngoài

Một  số  vấn  đề  nan  giải  mà  châu  Phi  đang  gặp  phải  có  thể  bắt  nguồn  từ  sự  bất  lực  trong  quản  lý  kinh  tế  Những  biện  pháp  cưỡng  đoạt  của  các  ủy  ban  chuyên  trách  của  nhà  nước,  như  đánh  thuế  quá  cao  các  nhà  sản  xuất,  duy  trì  quá  cao  giá  trị  đồng  tiền  làm  phá  hoại  môi  trường  cạnh  tranh  trong  xuất  khẩu  hàng  hóa  và  làm  giảm  thu  nhập  của  các  nhà  

Trang 33

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 145-

sản  xuất  trong  nước,  đã  dẫn  đến  những  mất  mát  lớn  về  thị  phần  các  mặt  hàng  nguyên  liệu  Đồng  hành  với tình  trạng  này,  nợ  nần  và  khủng  hoảng  kinh  tế  toàn  diện  đã  đẩy  khu  vực  này  tới  chỗ  suy  thoái  về  cơ  sở  hạ  tầng  kinh  tế  và  bắt  đầu  một  quá  trình “bóp  nghẹt  hàng   nhập   khẩu”   Nguyên   nhân   là  do   sự   khan   hiếm   ngoại  tệ   không   cho   phép   các   nhà  sản  xuất  nhập  khẩu  các  mặt  hàng  thiết  yếu  Nhìn  tổng  thể,  hàng  hóa  nhập  khẩu  những  năm   1980   giảm   trung   bình   khoảng   5%   mỗi   năm   Song   việc   vùng   Nam   Sahara   tiếp   tục  phụ  thuộc  vào  xuất  khẩu  nguyên  liệu  đã  làm  cho  khu  vực  này  trở  nên  dễ  bị  tổn  thương  như  vậy

Khối   các   nước   đang   phát   triển   đã   nâng   cao   được   thị   phần   của   họ   trong   nhóm  hàng  chế  tạo  xuất  khẩu,  hiện  chiếm  gần  25%  trong  tổng  lượng  trên  toàn  thế  giới,  trong  khi  vào  khoảng  đầu  những  năm  1970,  con  số  này  chỉ  là  5%  Việc  tăng  trưởng  kinh  tế  có  quan  hệ  mật  thiết  với  việc  giảm  bớt  sự  phụ  thuộc  vào  các  mặt  hàng  nguyên  liệu  Ở  các  nước  đang  phát  triển  mà  hàng  hóa  chế  tạo  chiếm  tới  50%  tổng  lượng  hàng  hóa  xuất  khẩu  thì  trong  vòng  20  năm  trở  lại  đây,  họ  luôn  duy  trì  được  tốc  độ  tăng  trưởng  cao  hơn  so  với  các  nước  xuất  khẩu  nguyên  liệu  Từ  những  năm  1980-1992,  các  nước  xuất  khẩu  hàng  

cơ   khí   chế   tạo  tăng  trưởng  ở   tốc   độ  trung   bình   7%/năm,   nhanh   gấp  bốn   lần   so   với   các  nước  xuất  khẩu  nguyên  liệu  Do  nền  mậu  dịch  quốc  tế  đang  ngày  càng  đòi  hỏi  các  mặt  hàng  có  hàm  lượng  trí  tuệ  cao  nên  xu  hướng  phân  cực  này  sẽ  còn  tiếp  diễn

6.2 ĐIỀU  KIỆN  THƯƠNG  MẠI  VÀ  SỰ  PHÁT  TRIỂN  KINH  TẾ

6.2.1 Điều  kiện  thương  mai

Điều   kiện   thương   mại   quốc   tế   có   thể   được   hiểu   theo   hai   nghĩa:   nghĩa   rộng   và  nghĩa  hẹp

Theo  nghĩa  rộng,  điều  kiện  thương  mại  là  những  quy  định,  điều  kiện, tiêu  chuẩn  ràng  buộc  của  quốc  gia  này  đối  với  quốc  gia  kia  trong  hoạt  động  xuất  nhập  khẩu  hàng  hóa

Ví   dụ,   các  sản   phẩm  nông  nghiệp   khi   nhập   khẩu   vào   thị  trường  Nhật   Bản   phải  đạt  “Tiêu  chuẩn  nông  nghiệp  Nhật  Bản  - JAS”  Tiêu  chuẩn  này  quy  định  các  tiêu  chuẩn  

về   chất   lượng,   các   quy   tắc   về   việc   ghi   nhãn   chất   lượng   và   đóng   dấu   chất   lượng   tiêu  chuẩn  JAS  Ngày  nay,  hệ  thống  JAS  đã  trở  thành  cơ  sở  cho  người  tiêu  dùng  trong  việc  lựa  chọn  các  thực  phẩm  chế  biến  Danh  sách  các  sản  phẩm  được  điểu  chỉnh  bởi  luật  JAS  bao  gồm:  đồ  uống,  thực  phẩm  chế  biến,  dầu  ăn,  mỡ  và  các  nông  lâm  sản  chế  biến  Một  sản  phẩm  bị  ràng  buộc  phải  tuân  theo  các  quy  định  về  dán  nhãn  chất  lượng  JAS  khi  có  đầy  đủ  các  điều  kiện  sau:

Trang 34

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 146-

- Sản  phẩm  phải  là  một  nông  sản  hoặc  là  nông  sản  đã  có  hoặc  trong tương  lai  gần  sẽ  có  một  tiêu  chuẩn  JAS  được  quy  định  cho  nó

Theo  nghĩa  hẹp,  điều  kiện  thương  mại  quốc  tế  là  những  điều  kiện  thực  tế  để  một  quốc  gia  bán  sản  phẩm  xuất  khẩu  và  mua  sản  phẩm  nhập  khẩu  của  mình,  nó  bằng  tỷ  lệ  của  chỉ  số  giá  cả  xuất  khẩu  so  với  chỉ  số  giá  cả  nhập  khẩu

Điều  kiện  thương  mại  (N) chính  bằng  tỉ  số  giữa  chỉ  số  giá  cả  xuất  khẩu  (PX)  của  một  nước  với  chỉ  số  giá  cả  nhập  khẩu (PM)  nhân  với  100  Nó  cho  ta  biết  %  của  điều  kiện  thương  mại

% 82 81 100

* 110

90 100

Điều  này  có  nghĩa  là  từ  năm  1990  đến  năm  2000  mức  giá  cả  xuất  khẩu  của  quốc  gia  này  giảm  18.18%  so  với  mức  giá  nhập  khẩu

Nếu  giá  xuất  khẩu  tăng  nhanh  hơn  giá  nhập  khẩu,  điều  kiện  thương  mại  sẽ  tăng  lên  Điều này  hàm  ý  rằng  đã  có  ít  lượng  hàng  hóa  xuất  khẩu  hơn  phải  từ  bỏ  để  đổi  lấy  một  lượng  hàng  hóa  nhập  khẩu  như  cũ

Nếu  giá  nhập  khẩu  tăng  nhanh  hơn  giá  xuất  khẩu,  điều  kiện  thương  mại  bị  suy  giảm  hàm  ý  rằng  cần  phải  có  một  lượng  hàng  hóa  xuất  khẩu  nhiều  hơn  bị  bán  đi  để  có  

đủ  tiền  mua  hàng  hóa  và  dịch  vụ  nhập  khẩu  với  số  lượng  như  cũ

Trang 35

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 147-

Điều  kiện  thương  mại  chịu  sự  ảnh  hưởng  của  mức  giá  nhập  khẩu  và  xuất  khẩu  Thêm  vào  đó,  tỷ  giá  hối  đoái  và  tỷ  lệ  lạm  phát  đều  có  ảnh  hưởng  trực  tiếp  đến  bất  kỳ  sự  thay  đổi  nào  trong  điều  kiện  thương  mại

Hộp  6.1  Giá  dầu  và  điều  kiện  thương  mại  

Rất  nhiều  nước  đang  phát  triển  phụ  

thuộc  vào  việc  xuất  khẩu  dầu  Và  bất  kỳ  

một  sự  thay  đổi  nào  trên  các  thị  trường  

hàng  hóa  quốc  tế  cũng  gây  ra  các  vấn  đề  

nghiêm  trọng  cho  điều  kiện  thương  mại  

của  những  nước  này  Khi  giá  dầu  bị  

giảm  vào  năm  1998  các  nước  đang  phát  

triển  phải  đối  mặt  với  một  vẫn  đề  lớn  là  

phải  xuất  khẩu  nhiều  dầu  hơn  để  có  thể  

trả  cho  một  lượng  nhập  khẩu  như  cũ  

Sự  xấu  đi  của  điều  kiện  thương  mại  đã  

ảnh  hưởng  xấu  đến  chất  lượng  cuộc  

sống  ở  những  nước  này  Tuy  nhiên  

trong  năm  nay,  giá  dầu  đã  tăng  nhanh  trở  lại  góp  phần  cải  thiện  điều  kiện  thương  mại  của  những  nước  xuất  khẩu  dầu

Nguồn  : UNCTAD Trade and Development Report (2005)

Ngoài  ra,  khi  xem  xét  tới  khả  năng  nhập  khẩu  dựa  vào  xuất  khẩu,  chúng  ta  căn  cứ  

trên điều  kiện  thương  mại  thu  nhập  (I)  Điều  kiện  thương  mại  thu  nhập  được  tính  bằng  

công  thức:

X X

M

P

P

I  *  * (trong  đó  QX là  lượng  xuất  khẩu)

Trong   ví   dụ   trên,   nếu   QX tăng   từ   100   năm   1990   lên   150   năm   2000   thì   điều   kiện  thương  mại  thu  nhập  tăng  lên  đến:   *150 122.73%

110

90

1990   đến   năm   2000   khả   năng   nhập   khẩu   của   quốc   gia   (dựa   vào   doanh   thu   xuất   khẩu)  tăng  22.73%  mặc  dù  PX/PM giảm  Sự  thay  đổi  điều  kiện  thương  mại  thu  nhập  là  rất  quan trọng  đố  với  các  nước  đang  phát  triển  vì  xuất  khẩu  tăng  thì  quốc  gia  sẽ  có  điều  kiện  mở  rộng  nhập  khẩu

Trang 36

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 148-

Hộp  6.2  Các  yếu  tố  tác  động  đến  điều  kiện  thương  mại

Trong  thương  mại  quốc  tế,  điều  kiện  thương  mại  biểu  thị  tỷ  lệ  giữa  mức  giá  của  hàng   hóa   xuất   khẩu   của   một   nước   với   mức   giá   của   hàng   hóa   mà   nó   nhập   khẩu   Khi  thương  mại  thế  giới  chưa  được  tự  do  hóa,  điều  kiện  thương  mại  giữa  hai  quốc  gia  có  thể  được  quyết  định  bởi  các  yếu  tố  sau:

- Sở  thích:  để  có  sự  trao  đổi  thương  mại  giữa  hai  quốc  gia,  mỗi  quốc  gia  đều  phải  có  

nhu  cầu  đối  với  hàng  hóa  của  nước  kia,  đồng  thời  phải  sẵn  sàng  hy  sinh  một  lượng  nhất   định   hàng   hóa   của   mình   để   đổi   lấy   hàng   hóa   của   nước   kia   Đương   nhiên,   sở  thích  tiêu  dùng  một  hàng  hóa  của  một  quốc  gia  phải  lớn  hơn  sự  hi  sinh  không  tiêu  dùng  hàng  hóa  đó  ở  quốc  gia  khác  thì  thương  mại  mới  diễn  ra  Nhu  cầu  hay  mức  độ  

ưa  thích  tiêu  dùng  hàng  hóa  của  một  nước  ở  một  nước  khác  là  một  yếu  tố  tác  động  đến  điều  kiện  thương  mại

- Sự  khan  hiếm:  số  lượng  tương  đối  của  mỗi  loại  hàng  hóa  có  thể  dược  trao  đổi  là  một  

yếu  tố  tác  động  đến  điều  kiện  thương  mại

- Chất  lượng  hàng  hóa:  đây  là  một  yếu  tố  quan  trọng  quyết  định  giá  trị  hàng  hóa  và  do  

đó,  ảnh  hưởng  đến  điều  kiện  thương  mại  Chất  lượng  ở  đây  không  chỉ  bao  gồm  chất  lượng  về  mặt  kỹ  thuật  mà  còn  bao  gồm  của  giá  trị  sử  dụng  của  hàng  hóa

- Chính  sách  của  chính  phủ:  các  khoản  thuế  mà  chính  phủ  đánh  vào  hàng  hóa  họ  bán  

hoặc   mua   cũng   tác   động   đến   điều   kiện   thương   mại,   bởi   khi   trao   đổi,   các   đối   tác  thương   mại   phải   xác   định   mức   giá   cho   hàng   hóa   của   mình   trên   cơ   sở   tính   đến   các  khoản  thuế  họ  phải  nộp  cho  chính  phủ  Nếu  chính  phủ  có  những  điều  kiện  nghiêm  ngặt  về  hoạt  động  thương  mại  thì  điều  này  cũng  tác  động  đến  quyết  định  về  giá  cả  của  hàng  hóa  Chẳng  hạn,  nếu  nước  A  có  điều  luật  quy  định  hành  vi  gian  lận  thương  mại phải  bị  phạt  bồi  thường,  các  đối  tác  thương  mại  ở  quốc  gia  đó  sẽ  phải  tính  toán  

kỹ   lưỡng   các   hành   vi   của   mình   và   điều   này   tác   động   đến   cả   quyết   định   về   giá   cả  hàng  hóa  của  họ

- Khả  năng  thuyết  phục:  Thương  mại  là  một  quá  trình  thương  lượng,  thương  lượng  về

chủng  loại  hàng  hóa,  thủ  tục  trao  đổi,  thời  hạn  trao  đổi  và  quan  trọng  hơn  cả  là  giá  cả  trao  đổi  Nếu  nước  A  có  khả  năng  cao  hơn  trong  việc  thuyết  phục  nước  B  về  giá  trị  và  chất  lượng  của  mình,  họ  có  thể  được  hướng  điều  kiện  thương  mại  có  lợi  hơn  trong  trao  đổi  với  nước  B

Tuy  nhiên,  trong  điều  kiện  thương  mại  tự  do  hóa  đa  phương  như  hiện  nay,  hàng  hóa  được  cung  cấp  và  tiêu  dùng  bởi  nhiều  nhà  sản  xuất  ở  nhiều  nước,  một  nền  kinh  tế  

Trang 37

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 149-

nhỏ   không   có   khả   năng   tác   động   đến   mức   giá   quốc   tế   cũng   có   nghĩa   là   không   có   khả  năng  làm  thay  đổi  điều  kiện  thương  mại  của  mình  Ngược  lại,  một  nền  kinh  tế  lớn  có  thể  dùng  chính  sách  tác  động  đến  nhu  cầu  xuất,  nhập  khẩu  của  mình  và  thông  qua  đó  tác  động  đến  mức  giá  thế  giới  và  làm  thay  đổi  điều  kiện  thương  mại  theo  hướng  có  lợi  cho mình   Ví   dụ,   khi   Mỹ   đưa   ra   chính   sách   hạn   chế   nhập   khẩu   ô   tô,   cầu   về   ô   tô   trên   thị  trường  thế  giới  sẽ  giảm,  kéo  giá  quốc  tế  về  xe  hơi  xuống  và  như  vậy  làm  giá  xe  hơi  Mỹ  nhập  khẩu  trở  nên  rẻ  hơn  Khi  giá  hàng  hóa  xuất  khẩu  của  Mỹ  không  thay  đổi,  giá  nhập  khẩu  rẻ  đi  sẽ  cải  thiện  điều  kiện  thương  mại  cho  Mỹ

Nguồn:  Học  viện  Quan  hệ  quốc  tế,  Giáo  trình  Quan  hệ  kinh  tế  quốc  tế,  NXB  Chính  trị  quốc  

Các  nước  đang  phát  triển  có  lý  do  đúng  đắn  khi  cho  rằng  các  thỏa  thuận  thương  mại  không  nên  áp  đặt  các  tiêu  chuẩn  lao  động  và  môi  trường  lên  các  nước  nghèo  Các cộng  đồng  trên  toàn  thế  giới  hiện  đang  cố  gắng  cải  thiện  các  tiêu  chuẩn  sống,  các  điều  kiện  lao  động  và  môi  trường  Các  nước  giàu  có  thể  sử  dụng  những  biện  pháp  tích  cực  để  

hỗ   trợ   công   việc   này   Tuy   vậy,   một   sự   cam   kết   thực   tế   và  tích   cực   đòi   hỏi   phải   có   các  nguồn  lực  thực  tế  Việc  áp  dụng  các  điều  khoản  trừng  phạt  thương  mại  đối  với  các  nước  không  đáp  ứng  được  các  tiêu  chuẩn  của  thế  giới  thứ  nhất  trong  các  điều  kiện  về  lao  động  

và  môi  trường  có  thể  có  những  ảnh  hưởng  rất  tai  hại  lên  mức  sống  của  người  nghèo,  và  

vì  vậy,   nó   không  có   tính   xây   dựng  Hơn   nữa,   một   nguy   cơ   lớn   là   các   biện   pháp  trừng  phạt  thương  mại  nhằm  thực  thi  các  tiêu  chuẩn  này  sẽ  trở  thành  những  hình  thức  bảo  hộ  mới,   gây   thiệt   hại   cho   người   nghèo   Quan   điểm   chung   hơn   ở   đây   là   các   thỏa   thuận  

Trang 38

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 150-

thương  mại  cần  cho  phép  các  nước  áp  dụng  những  cách  tiếp  cận  thể  chế  khác  nhau  đối  với các tiêu  chuẩn  môi  trường,  bảo  vệ  xã  hội,  bảo  tồn  văn  hóa  và  các  vấn  đề  khác  Các  nước  toàn  cầu  hóa  có  sự  đa  dạng  đáng  kể  về  thể  chế  và  văn  hóa,  và  chúng  ta  không  thấy  

có  lý  do  gì  để  sự  hội  nhập  kinh  tế  lại  không  tôn  trọng  tính  đa  dạng  này  

Thứ  hai,  vì  dịch  vụ  phân  phối  có  quan  hệ  chặt  chẽ  với  thương  mại  hàng  hóa  nên  

cơ  chế  thương  mại  hàng  hóa  chắc  chắn  có  ảnh  hưởng  tới  lĩnh  vực  phân  phối  Trong  khi  

tự  do  hóa  thương  mại  hàng  hóa  tạo  thuận  lợi  cho  sự  phát  triển  của  thương  mại  dịch  vụ  phân  phối  thì  sự  tồn  tại  của  các  rào  cản  đối  với  thương  mại  hàng  hóa  lại  có  ảnh  hưởng  tiêu  cực  mang  tính  lây  lan  đối  với  thương  mại  dịch  vụ  phân  phối  Những  hạn  chế  dưới  dạng  thủ  tục  hải  quan  phức  tạp,  tiêu  chuẩn  hàng  hóa  khác  nhau,  những  quy  định  không  cần  thiết  đối  với  việc  cấp  chứng  nhận  và  kiểm  tra  hàng  hóa  là  một  vài  trong  số  những  rào  cản  phi  thuế  quan  đã  làm  ảnh  hưởng  xấu  đến  dịch  vụ  phân  phối  Bằng  chứng  cho  thấy  sự  hài  hòa  hóa  kỹ  thuật, việc  xóa  bỏ  những  rào  cản  gây  ra  và  việc  dỡ  bỏ  kiểm  soát  tại  biên  giới  có  thể  thúc  đẩy  mạnh  mẽ  việc  quốc  tế  hóa  dịch  vụ  phân  phối  Thêm  vào  đó,  nếu   việc  tăng  cường  bảo   hộ   quyền   sở   hữu  trí  tuệ  mang   lại   lợi  ích  cho   người   bán   lẻ   và  người  nhượng  quyền  kinh  doanh,  những  người  dựa  vào  thương  hiệu  hay  nhãn  hiệu,  thì  

sự  yếu  kém  trong  việc  bảo  hộ  sở  hữu  trí  tuệ  chắc  chắn  sẽ  gây  ra   những  ảnh  hưởng  bất  lợi   Điều   này   còn   tồn   tại   vấn   đề   là quyền   sở   hữu   trí   tuệ   cho   phép   việc   phân   đoạn   thị  trường  thông  qua  ngăn  cấm  nhập  khẩu  song  song,  nên  thương  mại  hàng  hóa  và  tiếp  đó  

là  dịch  vụ  phân  phối  cũng  có  thể  bị  ảnh  hưởng

6.3 CÁC  CHIẾN  LƯỢC  PHÁT  TRIỂN  KINH  TẾ  LIÊN  QUAN  ĐẾN  THƯƠNG  MẠI

Kể  từ  sau  Chiến  tranh  thế  giới  thứ  hai  đến  nay  đã  có  3  trường  phái  lý  thuyết  chính  ảnh  hưởng  đến  chiến  lược  phát  triển  kinh  tế  liên  quan  đến  thương  mại  của  các  quốc  gia  đặc  biệt  là  các  nước  đang  phát  triển  (chiến  lược  phát  triển  kinh  tế  này  còn  được  gọi  các  chiến  lược  công  nghiệp  hóa)  Đó  là  các  trường  phái:  “cấu  trúc  luận”,  “thuyết  tự  

do  mới”  và  những  quan  điểm  mới  của  kinh  tế  học  phát  triển  Trong  khi  “cấu  trúc  luận”  

là  nền  tảng  lý  thuyết  cho  chiến  lược  công  nghiệp  hóa  dựa  vào  thay  thế  nhập  khẩu  thì  

“thuyết  tự  do  mới”  lại  cung  cấp  cơ  sở  lý  luận  cho  chiến  lược  công  nghiệp  hóa  hướng  về  xuất  khẩu  Cụ  thể  như  sau:

6.3.1  Chiến  lược  công  nghiệp  hóa  dựa  vào  thay  thế  nhập  khẩu

6.3.1.1  Hoàn  cảnh  ra  đời  (cơ  sở  lý  luận)

Chiến   lược   công   nghiệp   hóa   dựa   vào   thay   thế   nhập   khẩu   (Import   Substitution  Industrialization,  ISI)  được  thực  hiện  dựa  trên  cơ  sở  lý  thuyết  của  trường  phái  “cấu  trúc  luận”  Trường  phái  này  được  hình  thành  vào  những  năm  1950-1960

Trang 39

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 151-

Theo  quan  điểm  của  trường  phái  “Cấu  trúc  luận”,  kinh  tế  của  các  nước  đang  phát  triển  chịu  nhiều  thiệt  thòi  do  bị  kinh  tế  của  các  nước  trung  tâm  tư  bản  chi  phối,  bóc  lột,  

và  làm  cho  méo  mó  Kinh  tế  của  các  nước  đang  phát  triển  không  có  một  cấu  trúc,  một  nền   kinh   tế   đúng   nghĩa   mà   nó   chỉ   là   nền   kinh   tế   ngoại   vi   cung   cấp   nguyên   liệu,   thị  trường,   nguồn   lao   động   rẻ   cho   các   nước   trung   tâm   Với   một   cơ   cấu   lệch   như   vậy,   các  

nước  đang  phát  triển  không  thể  thoát  khỏi  nghèo  đói  và  lạc  hậu  Vì  vậy,   các  nước  đang  

phát  triển  cần  tái  cấu  trúc  lại  cơ  cấu  kinh  tế  và  tự  xây  dựng  nền  kinh  tế  của  mình  Đồng  thời  

các  nước  đang  phát  triển  cũng  cần  xây  dựng  nền  công  nghiệp  xương  sống  của  mình và  hạn  

chế  tối  đa  sự  xâm  nhập  của  các  nước  phát  triển  

Ngoài ra, các nhà  tư  tưởng  của  “cấu  trúc  luận”  khẳng  định  rằng  thị  trường  không  

đủ  để  đảm  bảo  một  sự  phát  triển  kinh  tế  ổn  định  và  vững  chắc  cho  các  nước  đang  phát  triển,  nó  cũng  không  thể  giúp  các  nước  đang  phát  triển  cải  tạo  được  cơ  cấu  kinh  tế  lạc  hậu   của   mình,   chính vì   vậy   nhà   nước   cần   đóng   vai   trò   tích   cực   để   thúc   đẩy   quá   trình  phát  triển,  thực  hiện  việc  chuyển  đổi  các  nền  kinh  tế  từ  nông  nghiệp  sang  công  nghiệp,  tăng  tích  luỹ,  đầu  tư  

Vận  dụng  những  quan  điểm  lý  thuyết  này,  chính  phủ  nhiều  nước  đang  phát  triển  

đã  xây  dựng  chiến  lược  công  nghiệp  hoá  thay  thế  nhập  khẩu    Chiến  lược  này  được  hầu  

hết  các  nền  kinh  tế  lớn  của  Mỹ  la  tinh  và  một  số  nền  kinh  tế  Đông  Á  áp  dụng  từ  những  năm  1950,  các  nước  Đông  Á  khác  từ  những  năm  1960,  1970  Sau  chiến  tranh  thế  giới  thứ  hai, đối  với  các  nước  mới  dành  được  độc  lập  ở  Mỹ  la  tinh,  chiến  lược  công  nghiệp  hóa  thay  thế  nhập  khẩu  được  xem  là  một  chiến  lược  lý  tưởng  có  thể  giúp  họ  cùng  một  lúc  đạt  được  nhiều  mục  tiêu

Một   trong   những   mục   tiêu   hàng   đầu   của   chiến   lược   công   nghiệp   hóa   thay   thế  nhập  khẩu  là  mang  lại  sự  độc  lập  lớn  hơn  về  kinh  tế  cho  các  nước  mới  dành  được  độc  lập  về  chính  trị  Các  nhà  lãnh  đạo  chính  trị  ở  các  quốc  gia  này  hy  vọng  rằng  ISI  sẽ  góp  phần  tăng  cường  sức  mạnh  kinh  tế  và  quân  sự  cho  họ  - một  điều  kiện  thiết  yếu  để đảm  bảo  an  ninh  Mục  tiêu  thứ  hai,  không  kém  phần  quan  trọng  của  ISI  là  tăng  trưởng  kinh  tế  

và   phát   triển   Thực   tiễn   của   thế   kỷ   XIX   và   XX   đã   cung   cấp   các   bằng   chứng   cho   thấy  nhiều  quốc  gia  như  Mỹ,  Đức,  Pháp  (cuối  thế  kỷ  XIX),  Nhật  Bản  (đầu  thế  kỷ  XX)  đã  phát triển  và  trở  nên  thịnh  vượng  nhờ  áp  dụng  các  chính  sách  bảo  hộ,  đánh  thuế  cao  vào  hàng  công  nghiệp  nhập  khẩu

6.3.1.2  Nội  dung

Công  nghiệp  hóa  thay  thế  nhập  khẩu  là  một  chiến  lược  phát  triển  kinh  tế  dựa  trên  tiền  đề  rằng  môt  nước  đang  phát  triển  nên  tập  trung  phát  triển  các  ngành  công  nghiệp  trong  nước  để  sản  xuất  ra  những  hàng  hóa  mà  nó  đang  phải  nhập  khẩu  (chủ  yếu  

Trang 40

Giáo trình Thương  mại  Quốc  tế - 152-

là  các  hàng  hóa  tiêu  dùng)  để  phục  vụ  tiêu  dùng  trong  nước  Với  chiến  lược  này,  chính  phủ  cung  cấp  các  khoản  hỗ  trợ  và  dựng  nên  những  rào cản  thuế  quan  rất  cao  nhằm  bảo  

hộ  các  ngành  công  nghiệp  trong  nước  Chiến  lược  công  nghiệp  hóa  thay  thế  nhập  khẩu  khuyến  khích  một  chế  độ  kiểm  soát  tiền  tệ  và  duy  trì  đồng  nội  tệ  cao  nhằm  tạo  thuận  lợi  cho  nhập  khẩu  máy  móc  và  linh,  phụ  kiện

Để   thực   hiện ISI,   các   nước   đang   phát   triển   đã   áp   dụng   các   biện   pháp   hạn   chế  nhập  khẩu,  một  mặt  nhằm  chuyển  hướng  nhu  cầu  của  người  tiêu  dùng  sang  các  nhà  sản  xuất  trong  nước,  mặt  khác  nhằm  tận  dụng  toàn  bộ  nguồn  ngoại  tệ  thu  được  từ  việc  xuất  khẩu  các  sản  phẩm  thô  như tài  nguyên  thiên  nhiên  để  nhập  khẩu  các  hàng  hóa  tư  bản  phục  vụ  cho  các  ngành  công  nghiệp  trong  nước

6.3.1.3  Đặc  trưng

Chiến  lược  này  công  nghiệp  hóa  thay  thế  nhập  khẩu  có  những  đặc  trưng  sau  đây:  

- Thứ  nhất,  công  nghiệp  hóa  thay  thế  nhập  khẩu  đặt  ra  mục tiêu  là  phát  triển  hầu  

hết   mọi   ngành   công   nghiệp   thiết   yếu   để   tự   đáp   ứng   các   nhu   cầu   trong   nước  thay  vì  phải  nhập  khẩu  

- Thứ  hai,  các  nước  thực  hiện  chiến  lược  công  nghiệp  hóa  thay  thế  nhập  khẩu  đều  

thực   hiện   nghiêm   ngặt   các   chính   sách   bảo   hộ   thị  trường  trong  nước   như   cấm,  hạn   chế   nhập   khẩu,   đưa   ra   biểu   thuế   quan   cao…   để   bảo   vệ,   nuôi   dưỡng   các  ngành   công   nghiệp   non   trẻ   trong   nước,   khiến   các   ngành   này   được   độc   quyền  tiêu  thụ  hàng  hoá  trên  thị  trường  nội  địa  Ban  đầu,  chính  phủ  các  nước  này  kích  thích  việc  sản  xuất  những  loại  hàng  hoá  tiêu  dùng  đơn  giản  như  quần  áo  giầy  dép   rồi   sau   đó  chuyển  sang  những  loại   hàng  hoá   tiêu   dùng   lâu   bền,   phức  tạp  hơn  như  thiết  bị,  phụ  tùng  máy  móc,  ô  tô  và  những  loại  sản  phẩm  trung  gian  như   thép   và   hoá   chất   Trên   thực   tế,   các   nước   đang   phát   triển   thường   bắt   đầu  bằng  việc  bảo  hộ  các  công  đoạn  cuối  của  ngành,  ví  dụ  như  chế  biến  thực  phẩm  

và  lắp  ráp  ôtô    Ở  các  nước  đang  phát  triển  lớn  hơn,  sản  phẩm  nội  địa  hầu  như  thay  thế   hoàn  toàn   hàng   tiêu   dùng   nhập   khẩu   (mặc   dù   sản   xuất   hàng   chế   tạo  thường  do  các  công  ty  đa  quốc  gia  tiến  hành)  Một  khi  khả  năng  thay  thế  hàng  tiêu  dùng  nhập  khẩu  giảm  đi,  các  nước  này  quay  sang  bảo  hộ  hàng  hóa  trung  gian  như  thân  ôtô,  thép,  sản  phẩm  hóa  dầu  

- Thứ  ba,  nhiều  chính  sách  kinh  tế  vĩ  mô  với  sự  can  thiệp của  Chính  phủ  được  sử  

dụng  để  khuyến  khích  phát  triển  công  nghiệp  Chính  sách  tỷ  giá  thường  cố  định  hoặc  xác  lập  trên  cơ  sở  nâng  cao  giá  trị  cho  đồng  tiền  nội  địa  Điều  này  thường  đem  lại  lợi  lớn  cho  các  nhà  sản  xuất  hàng  công  nghiệp  tiêu  dùng  bán  hàng  trên thị  trường  nội  địa  Ngoài   ra,   các  chính   sách   khác   như:   trợ   giá   qua   sử   dụng   lãi  suất  thấp,   nhà   nước   kiểm   soát   chính   sách   giá   cả,   thương  mại,   ngoại   thương…  

Ngày đăng: 24/05/2022, 09:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Bộ  Thương  mại,  Tài  liệu  bồi  dưỡng  “Các  cam  kết  gia  nhập  Tổ  chức  Thương   mại  Thế  giới  của  Việt  Nam”, H., 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các  cam  kết  gia  nhập  Tổ  chức  Thương  mại  Thế  giới  của  Việt  Nam
7. Đảng   Cộng   sản   Việt   Nam,   Văn   kiện   Đại   hội   Đại   biểu   toàn   quốc   lần   thứ   VII, NXB. Sự  thật,  H., 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn   kiện   Đại   hội   Đại   biểu   toàn   quốc   lần   thứ   VII
Nhà XB: NXB. Sự  thật
8. Đảng  Cộng  sản  Việt  Nam,  Văn  kiện  Đại  hội  Đại  biểu  toàn  quốc  lần  thứ  IX, NXB. Chính  trị  Quốc  gia, H., 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn  kiện  Đại  hội  Đại  biểu  toàn  quốc  lần  thứ  IX
Nhà XB: NXB. Chính  trị  Quốc  gia
9. Lê  Bộ  Lĩnh, Việt  Nam: Chính sách thương  mại  và  đầu  tư,  Viện  Kinh  tế  Thế  giới,   H., 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt  Nam: Chính sách thương  mại  và  đầu  tư
11. Võ  Đại  Lược  (Chủ  biên),  Công  nghiệp  hóa,  hiện  đại  hóa  Việt  Nam  đến  năm  2000, NXB. Khoa  học  Xã  hội,  H., 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công  nghiệp  hóa,  hiện  đại  hóa  Việt  Nam  đến  năm  2000
Nhà XB: NXB. Khoa  học  Xã  hội
12. Nguyễn   Pháp   (Chủ   biên),   Giáo   trình   kinh   tế   đối   ngoại,   Bộ   môn   Kinh   tế   đối ngoại,  Đại  học  Kinh  tế  Quốc  dân,  H., 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo   trình   kinh   tế   đối   ngoại
13. Nguyễn  Trần  Quế  và Phạm  Phùng,  Kinh  tế  đối  ngoại  Việt  Nam  thời  kỳ  Đổi  mới, NXB. Thống  kê, H., 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh  tế  đối  ngoại  Việt  Nam  thời  kỳ  Đổi  mới
Nhà XB: NXB. Thống  kê
14. Nguyễn   Xuân   Thắng   (Chủ   biên),   Giáo   trình   toàn   cầu   hóa   và   hội   nhập   kinh   tế   quốc  tế, NXB. Đại  học  Quốc  gia  Hà  Nội,  H., 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo   trình   toàn   cầu   hóa   và   hội   nhập   kinh   tế  quốc  tế
Nhà XB: NXB. Đại  học  Quốc  gia  Hà  Nội
15. Nguyễn  Anh  Tuấn  (Chủ  biên),  Giáo  trình  Kinh  tế  đối  ngoại,  Học  viện  Quan  hệ   Quốc  tế,  Bộ  Ngoại  giao,  NXB. Chính  trị  Quốc  gia, H., 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo  trình  Kinh  tế  đối  ngoại
Nhà XB: NXB. Chính  trị  Quốc  gia
16. Thời  báo  Kinh  tế  Việt  Nam, “Kinh  tế  2009-2010:  Việt  Nam  và  thế  giới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời  báo  Kinh  tế  Việt  Nam", “Kinh  tế  2009-2010:  Việt  Nam  và  thế  giới
3. Bộ  Tài  chính,  Số  79/2009/TT-BTC, Thông  tư  hướng  dẫn  về  thủ  tục  hải  quan; kiểm  tra,  giám  sát  hải  quan;  thuế  xuất  khẩu,  thuế  nhập  khẩu  và  quản  lý  thuế  đối   với  hàng  hóa  xuất  khẩu,  nhập  khẩu, H., ngày 20/04/2009 Khác
5. Bộ  Thương  mại  và trường  Đại  học  Ngoại  thương, Kỷ  yếu  hội  thảo  khoa  học   quốc   gia:   Thương   mại   Việt   Nam   trong   tiến   trình   hội   nhập   kinh   tế   quốc   tế,   H., 2003 Khác
6. Chính  phủ,   Số  149/2005/NĐ-CP, Nghị  định  quy định  chi  tiết  thi  hành  Luật   thuế  xuất  khẩu,  thuế  nhập  khẩu,  H., ngày 08/12/2005 Khác
10. Luật  thuế  xuất  khẩu,  thuế  nhập  khẩu  của  Quốc  hội  nước  Cộng  hòa  Xã  hội   Chủ  nghĩa  Việt  Nam,  Số  45/2005/QH11 ngày 14/06/2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1 cho  thấy  các mức  thuế  năm  1994  của  những  hàng hóa được  lựa  chọn   nhập  khẩu  vào  Mỹ - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
Bảng 4.1 cho  thấy  các mức  thuế  năm  1994  của  những  hàng hóa được  lựa  chọn   nhập  khẩu  vào  Mỹ (Trang 3)
Nhận xét : Dựa vào dạng hình học của đồ thị, suy ra : Nếu phản ứng tạo r ax mol kết tủa (x < a) thì cĩ thể dễ dàng tính được lượng  OH tham ra phản ứng là 3x mol hoặc y (4a x) mol - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
h ận xét : Dựa vào dạng hình học của đồ thị, suy ra : Nếu phản ứng tạo r ax mol kết tủa (x < a) thì cĩ thể dễ dàng tính được lượng OH tham ra phản ứng là 3x mol hoặc y (4a x) mol (Trang 3)
Hình 1 Hình 2 - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
Hình 1 Hình 2 (Trang 8)
Hình 5.1:  Tác  động  của  thuế  quan Hình 5. 2:  Tác  động  của  hạn  ngạch - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
Hình 5.1  Tác  động  của  thuế  quan Hình 5. 2:  Tác  động  của  hạn  ngạch (Trang 12)
quan. Trong Hình 5.3, khi cầu  bất  ngờ   mở  rộng  đếnD’nếusử  dụng  thuế quan, - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
quan. Trong Hình 5.3, khi cầu  bất  ngờ   mở  rộng  đếnD’nếusử  dụng  thuế quan, (Trang 13)
Dựa vào tính chất hình học của đồ thị, ta thấy : - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
a vào tính chất hình học của đồ thị, ta thấy : (Trang 13)
Hình 5.4:  Tác  động  của  hạn  ngạch thuế  quan - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
Hình 5.4  Tác  động  của  hạn  ngạch thuế  quan (Trang 14)
Hình 5.5:  Tác  động  của  trợ  cấp  xuất  khẩu  của  một  nước  lớn - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
Hình 5.5  Tác  động  của  trợ  cấp  xuất  khẩu  của  một  nước  lớn (Trang 16)
thành AEC (Bảng  7.1). - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
th ành AEC (Bảng  7.1) (Trang 77)
Hình 7.1: Bản  đồ  các  nước  thành  viên  WTO  (tính  đến  ngày  31/12/2009) - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
Hình 7.1 Bản  đồ  các  nước  thành  viên  WTO  (tính  đến  ngày  31/12/2009) (Trang 81)
không thể  hình  thành.  Nhưng  tinh  thần  cơ  bản  của  Hiến  chương  ITO  vẫn  tồn  tại  thông   qua  sự  hình  thành  GATT  –một  hiệp  định  được  dự  kiến  là  Hiệp  định  phụ  trợ  cho  Hiến   chương   ITO - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
kh ông thể  hình  thành.  Nhưng  tinh  thần  cơ  bản  của  Hiến  chương  ITO  vẫn  tồn  tại  thông   qua  sự  hình  thành  GATT  –một  hiệp  định  được  dự  kiến  là  Hiệp  định  phụ  trợ  cho  Hiến   chương   ITO (Trang 83)
Hình  7.2.  Chỉ  số  thuế  quan  qua  các  vòng  đàm  phán  của  GATT - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
nh  7.2.  Chỉ  số  thuế  quan  qua  các  vòng  đàm  phán  của  GATT (Trang 85)
Bảng  7.1.  Cấu  trúc  chung  của  các  hiệp  định  của  WTO - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
ng  7.1.  Cấu  trúc  chung  của  các  hiệp  định  của  WTO (Trang 91)
Bảng  8.1:  Mức  thuế  cam  kết  bình  quân  theo  ngành  hàng  tổng  hợp - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
ng  8.1:  Mức  thuế  cam  kết  bình  quân  theo  ngành  hàng  tổng  hợp (Trang 127)
Bảng  8.  2:  Diễn  giải  mức  thuế  cam  kết bình quân - Giáo trình Thương mại quốc tế: Phần 2 - PGS. TS. Nguyễn Xuân Thiên
ng  8.  2:  Diễn  giải  mức  thuế  cam  kết bình quân (Trang 130)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm