Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Một phần của tài liệu Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2 (Trang 100 - 112)

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

6.3. THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

6.3.2. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

Trong thực tiễn, có những thay đổi về hoàn cảnh và môi trường kinh tế tới mức gây ảnh hưởng đặc biệt xấu đến quyền lợi của một bên, làm mất cân bằng lợi ích kinh tế của các bên trong hợp đồng, làm cho việc thực hiện hợp đồng trở nên cực kỳ khó khăn và tốn kém đối với một bên. Luật Thương mại quốc tế cho phép các bên, trong một số trường hợp, được quyền thỏa thuận lại hợp đồng. Quyền này được ghi nhận như là một tập quán quốc tế và được ghi nhận trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT, trong điều khoản Hardship với những điều kiện áp dụng cụ thể (6.3.2.1.). Pháp luật Việt Nam cũng có quy định cụ thể về việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (6.3.2.2.).

6.3.2.1. Điu khon tha thun li hp đồng - Hardship

Thuật ngữ “Hardship” được sử dụng trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã được chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế. Đây là điều khoản quy định cho phép một bên trong hợp đồng có quyền đề nghị điều chỉnh hợp đồng Do đó, điều khoản Hardship gọi là điều khoản thỏa thuận lại hợp đồng khi có sự thay đổi do hoàn cảnh dẫn đến khó khăn đặc biệt trong việc thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế.

Tiền thân của điều khoản Hardship là những quy định trong án lệ của các nước phát triển phương Tây và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Ngày nay, điều khoản Hardship có xu hướng được chấp nhận và được quy định trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) và Bộ nguyên tắc của Luật châu Âu về hợp đồng - Principle European Contract Law (sau đây viết tắt là PECL). Trong PECL, điều khoản này được quy định dưới tên gọi là “Sự thay đổi hoàn cảnh”

(Change of Circumstances). Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về điều khoản thỏa thuận lại hợp đồng. Nội dung của phần này sẽ tập trung làm rõ quy định của Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT (sau đây viết tắt là Bộ nguyên tắc UNIDROIT) về Hardship.

a. Khái niệm và các điều kiện của hoàn cảnh được coi là Hardship Theo Điều 6.2.2 của Bộ nguyên tắc UNIDROIT năm 2010 có định nghĩa “Hoàn cảnh Hardship được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng hoặc do chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống, và:

a) Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng;

b) Bên bị bất lợi đã không thể tính đến, một cách hợp lý, các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng;

c) Các sự kiện này nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi;

d) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu”.

Về mặt nguyên tắc, việc thay đổi hoàn cảnh không thể làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Bên thực hiện nghĩa vụ không có

quyền viện dẫn lý do vì thay đổi hoàn cảnh để nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, khi sự cân bằng của hợp đồng bị thay đổi một cách cơ bản khi có sự gia tăng chi phí thực hiện hoặc việc thực hiện hợp đồng không đem lại giá trị nào đối với một bên (do sự tăng giá phi mã của nguyên liệu sản xuất, hoặc của hàng hóa là đối tượng của hợp đồng, tình trạng lạm phát, mất giá của đồng tiền,…), mục đích giao kết hợp đồng của một bên sẽ không thể đạt được. Do vậy, pháp luật cho phép bên đó có quyền đề nghị thỏa thuận lại hợp đồng.

Bên cạnh các điều kiện áp dụng hoàn cảnh Hardship nêu trên, việc áp dụng điều khoản Hardship cần phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:

- Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng. Nghĩa là tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không lường trước, dự liệu được sự kiện gây ra khó khăn có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng.

- Đặc biệt là đối với bên bị bất lợi đã không thể dự tính một cách hợp lý đến các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng, tức là bên bị bất lợi không thể biết trước hoàn cảnh Hardship tại thời điểm giao kết hợp đồng.

- Các sự kiện phát sinh ngoài tầm kiểm soát của bên bị bất lợi.

Hoàn cảnh Hardship chỉ có thể phát sinh nếu các sự kiện gây ra hoàn cảnh Hardship nằm ngoài tầm kiểm soát của bên bị bất lợi.

- Các rủi ro không nằm trong phạm vi mà bên bị bất lợi phải thực hiện theo cam kết của hợp đồng. Một bên tham gia vào một thương vụ có tính đầu cơ xem như chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định, ngay cả khi bên đó đã không hoàn toàn tỉnh táo nhận ra các rủi ro đó vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Nếu sự thay đổi cơ bản của hợp đồng xảy ra vào thời điểm khi công việc chỉ được thực hiện một phần, hoàn cảnh Hardship chỉ được áp dụng đối với những phần chưa thực hiện của hợp đồng. Mặc dù Điều 6.2.2 Bộ nguyên tắc UNIDROIT không loại trừ một cách rõ ràng khả năng viện dẫn đến hoàn cảnh Hardship thông qua thoả thuận trong hợp đồng, hoàn cảnh Hardship thường được áp dụng đối với các hợp đồng dài hạn, nghĩa là việc thực hiện của ít nhất một bên được kéo dài trong một khoảng thời

gian nhất định. Mặt khác, họ cũng có thể dựa vào hoàn cảnh Hardship để thương lượng lại các điều khoản hợp đồng nhằm duy trì hợp đồng trong hoàn cảnh mới. Định nghĩa của hoàn cảnh Hardship trong Điều 6.2.2 chỉ mang đặc tính chung. Trong các hợp đồng thương mại quốc tế, các điều khoản về hoàn cảnh Hardship được quy định rất chi tiết và cụ thể. Do đó, các bên có thể áp dụng nội dung của điều khoản vào từng vụ việc cụ thể.

b. Hạn chế đối với việc áp dụng điều khoản Hardship

Điều 6.2.1 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT quy định các bên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình, ngay cả khi chi phí thực hiện nghĩa vụ đó tăng lên, với điều kiện tuân thủ các quy định về Hardship.

Hoàn cảnh Hardship không phải là điều kiện để các bên chấm dứt việc thực hiện hợp đồng. Nói một cách khác, khi bên bị bất lợi phải chịu thua lỗ so với lợi ích mong đợi hoặc là việc thực hiện trở nên vô nghĩa với họ nhưng tính ràng buộc của hợp đồng vẫn phải được tôn trọng. Việc ngừng thực hiện chỉ được xem xét trong một số trường hợp đặc biệt. Đây là một hạn chế của điều khoản Hardship. Nguyên tắc ràng buộc của hợp đồng vẫn luôn là một nguyên tắc mà các bên phải tôn trọng, việc thay đổi hoàn cảnh chỉ có thể là lý do thích hợp để xem xét lại hợp đồng khi đáp ứng được các điều kiện áp dụng điều khoản hoàn cảnh Hardship.

c. Hệ quả pháp lý của điều khoản Hardship

Điều 6.2.3 Bộ nguyên tắc UNIDROIT quy định hệ quả pháp lý của điều khoản Hardship:

“1) Trong trường hợp Hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn cứ.

2) Yêu cầu đàm phán lại hợp đồng, bản thân nó, không cho phép bên bị bất lợi có quyền tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình.

3) Nếu các bên không thỏa thuận được trong một thời hạn hợp lý thì mỗi bên có quyền yêu cầu toà án giải quyết.

4) Nếu xác định có hoàn cảnh Hardship và nếu thấy hợp lý, Tòa án có thể:

a) Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo các điều kiện do tòa án quyết định; hoặc

b) Sửa đổi hợp đồng nhằm thiết lập lại sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng”.

Khi xảy ra hoàn cảnh Hardship, hệ quả pháp lý đầu tiên của bên bị bất lợi là có quyền yêu cầu đàm phán, thỏa thuận lại hợp đồng với bên đối tác. Khi bên bị bất lợi biết được hoàn cảnh thay đổi làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện hợp đồng thì phải thông báo kịp thời cho bên đối tác biết. Bên bị bất lợi được quyền yêu cầu thương lượng, thỏa thuận lại trong một khoảng thời gian hợp lý. Khoảng thời gian hợp lý có thể được thực hiện ngay khi có thể, sau thời điểm hoàn cảnh Hardship xảy ra. Bên bị bất lợi phải đưa ra các căn cứ xác thực chứng minh và đưa các yêu cầu để bên đối tác xem xét. Bản thân quá trình yêu cầu thương lượng, thỏa thuận lại không tạo cho bên bị bất lợi quyền được ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình. Trong quá trình thương lượng, thỏa thuận lại, bên bị bất lợi vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.

Quá trình thương lượng, thỏa thuận lại phải tuân theo nguyên tắc chung về thiện chí, trung thực và nghĩa vụ hợp tác. Nếu quá trình thương lượng, thỏa thuận lại đạt hiệu quả thì các bên sẽ ký vào văn bản sửa đổi đó. Ngược lại, nếu quá trình thương lượng, thỏa thuận lại không đạt như mong muốn của các bên hoặc một bên không có thiện chí tham gia quá trình thương lượng, thỏa thuận lại thì một trong các bên có quyền khởi kiện ra Tòa án nhờ giải quyết. So với quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT, quy định của Các nguyên tắc của Luật châu Âu về hợp đồng (PECL) mở rộng hơn khi quy định các bên phải điều chỉnh hợp đồng trước khi khởi kiện ra Tòa. “Nếu việc thực hiện hợp đồng trở nên quá khó khăn bởi vì có sự thay đổi về hoàn cảnh, các bên buộc phải tiến hành thỏa thuận với quan điểm là chỉnh sửa hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng, với điều kiện là: Việc thay đổi hoàn cảnh xảy ra sau thời gian ký kết hợp đồng, khả năng xảy ra sự thay đổi về hoàn cảnh không phải là một trong những tình huống mà các bên buộc phải tính đến khi ký kết hợp đồng, rủi ro về sự thay đổi không phải là một tình huống mà theo như hợp đồng, bên bị ảnh hưởng bị yêu cầu là phải gánh chịu” (khoản 2,

Điều 6, PECL). Chỉ khi nào không đạt được thỏa thuận thì mới yêu cầu Tòa án điều chỉnh theo một cách thức công bằng và bình đẳng.

Căn cứ vào chứng cứ và yêu cầu của các bên, Tòa án sẽ xác nhận có hoàn cảnh Hardship hay không. Nếu có hoàn cảnh Hardship, Tòa án sẽ có hai cách xử lý sau:

Thứ nhất, chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, chấm dứt hợp đồng ở đây không phải do một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của hợp đồng.

Việc chấm dứt hợp đồng ở đây là do khả năng không thể đạt được mục đích của hợp đồng vì hoàn cảnh Hardship. Nên khi có căn cứ xác minh cho việc có hoàn cảnh Hardship thì Tòa án sẽ tuyên bố chấm dứt hợp đồng. Khi đó, hợp đồng sẽ chấm dứt “vào ngày và theo các điều kiện do Tòa án quyết định”.

Thứ hai, sửa đổi lại hợp đồng nhằm tái lập lại sự cân bằng của nó.

Tòa án sẽ cần phải phân chia công bằng về các khoản lỗ và giới hạn rủi ro mà mỗi bên phải gánh chịu và giới hạn hợp lý để các bên có quyền hưởng lợi từ việc thực hiện hợp đồng đó. Điều này sẽ phụ thuộc vào bản chất của hoàn cảnh Hardship đối với từng hợp đồng khác nhau để Tòa xem xét vụ việc. Do đó, khi phân chia hợp lý giữa quyền và lợi ích cho các bên thì Tòa án tuyên sửa đổi lại hợp đồng. Việc này có liên quan tới giá cả của hợp đồng cũng như công việc thực hiện trong hợp đồng đó.

Trên thực tế, cũng có trường hợp chấm dứt hoặc thay đổi hợp đồng là không hợp lý. Đó là trường hợp hợp đồng có đối tượng là các công việc mang tính rủi ro cao và thường xuyên như hợp đồng liên quan đến lĩnh vực tài chính dự án có mục đích là phân chia rủi ro và đánh giá rủi ro để có được nguồn vốn vay cần thiết từ ngân hàng. Trong trường hợp này, khi đã xuất vay vốn cho các nhà đầu tư đưa vào công trình thì ngân hàng không muốn bị hủy bỏ hợp đồng hay chấm dứt hợp đồng. Vì vậy, quy định của PICC không phù hợp với trường hợp này. Nên chăng cần có một giải pháp phù hợp hơn với mong muốn và đảm bảo sự công bằng giữa các bên trong loại hợp đồng này. Có thể sẽ tiếp tục cho các bên thực hiện đúng hợp đồng đã thỏa thuận hoặc tiến hành thêm các cuộc đàm phán, thương lượng lại các điều khoản của hợp đồng.

6.3.2.2. Thc hin hp đồng khi hoàn cnh thay đổi cơ bn theo pháp lut Vit Nam

Theo quy định của BLDS 2015, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Đây là quy định hợp lý và cần thiết để bảo đảm trật tự trong giao lưu kinh tế, đồng thời góp phần bảo vệ một cách triệt để các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn vừa qua đã cho thấy, nếu trong mọi trường hợp pháp luật đều buộc các bên phải nghiêm chỉnh chấp hành quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thì vô hình chung sẽ tạo ra sự bất công trong tương quan lợi ích giữa các bên. Ví dụ, trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu xuất hiện các tình tiết mới, hoàn cảnh mới mà khi ký kết hợp đồng các bên đã không thể lường trước được và nếu buộc phải tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng thì một bên sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng. Xuất phát từ nguyên tắc thiện chí, hợp tác trong giao kết, thực hiện hợp đồng (Điều 3 khoản 3), nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên, khắc phục tình trạng một bên trong hợp đồng bị thiệt hại, BLDS năm 2015 cũng có quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420. Theo đó, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng. Khi yêu cầu này bị từ chối, bên đó có quyền yêu cầu tòa án căn cứ vào tình tiết cụ thể của vụ việc mà tuyên bố hủy hoặc sửa đổi hợp đồng.

Một hoàn cảnh bị coi là thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:

+ Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;

+ Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;

+ Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;

+ Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

+ Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

+ Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

+ Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

CÂU HỎI LÝ THUYẾT CHƯƠNG 6

1. Hãy nêu cách xác định tính thương mại và tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế trong pháp luật Việt Nam và so sánh với pháp luật quốc tế?

2. Hãy nêu các chế tài được áp dụng trong hoạt động thương mại quốc tế trong trường hợp có hành vi vi phạm?

3. Phân tích các trường hợp được miễn trách nhiệm trong hoạt động thương mại quốc tế?

4. Hãy phân tích nguyên tắc tự do, lựa chọn luật áp dụng của các bên ký kết hợp đồng thương mại quốc tế?

5. Trình bày sự khác biệt trong quy định về giao kết hợp đồng giữa pháp luật Việt Nam và Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT?

Một phần của tài liệu Giáo trình Luật Thương mại quốc tế: Phần 2 (Trang 100 - 112)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(283 trang)