HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ, việc dân sự Mã hồ sơ LS DS 07 B3 TH2 DA1HNGD Diễn lần Diễn án lần 1 Ngày diễn 14112021 Giáo viên hướng dẫn TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2021 10 1 MỤC LỤC I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2 1 Tóm tắt nội dung vụ án 2 2 Các tài liệu, chứng cứ được thu thập 3 3 Các nội dung đã được thống nhất, chưa thống nhất giữa các đương sự trong vụ án 3 II XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỐ T.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của luật sư khi tham gia giải quyết các
vụ, việc dân sự
Mã hồ sơ: LS.DS 07 B3.TH2-DA1/HNGD
Diễn lần: Diễn án lần 1
Ngày diễn: 14/11/2021
Giáo viên hướng dẫn:
TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 11 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2
1 Tóm tắt nội dung vụ án 2
2 Các tài liệu, chứng cứ được thu thập 3
3 Các nội dung đã được thống nhất, chưa thống nhất giữa các đương sự trong vụ án 3
II XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ VỀ TỐ TỤNG 4
1 Các đương sự trong vụ án: 4
2 Quan hệ pháp luật tranh chấp 5
3 Thời hiệu khởi kiện 5
4 Thẩm quyền Toà án 5
5 Thủ tục hoà giải 5
6 Văn bản pháp luật áp dụng 5
III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI 6
1 Hỏi bị đơn - anh Nguyễn Văn Nguyệt 6
2 Hỏi người có quyền, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị Thoa 6
3 Hỏi người có quyền, nghĩa vụ liên quan – Cán bộ đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương 7
4 Hỏi người có quyền, nghĩa vụ liên quan - Nguyễn Thị Nhi 7
5 Hỏi người làm chứng - Ông Nguyễn Văn Bích 7
6 Hỏi Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Hảo 7
IV DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ 8
V NHẬN XÉT VỀ VIỆC ĐÓNG VAI TẠI PHIÊN DIỄN ÁN 12
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
1 Tóm tắt nội dung vụ án
Chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, nay là thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương vào ngày 26/3/1999
Do mâu thuẫn nên chị Hảo và anh Nguyệt đã sống ly thân được hơn một năm nay Ngày 02/01/2016 chị Hoàng Thị Hảo đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, Tỉnh Hải Dương yêu cầu:
- Ly hôn với anh Nguyễn Văn Nguyệt
- Yêu cầu được nuôi 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi; Nguyễn Đức Anh và không cần anh Nguyễn Văn Nguyệt trợ cấp
- Yêu cầu chia đôi tài sản chung của anh chị bao gồm: nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương
Về con chung:
Tới năm 2016 anh, chị đã có hai con chung là:
- Cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2000 Cháu Nhi có làm đơn đề nghị được
ở với mẹ Kể từ khi sống ly thân, cháu Nhi đang sống cùng với chị Hảo
- Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/06/2007 Cháu Đức Anh có làm dơn đề nghị xin được ở lại với mẹ, sau đó làm đơn ở đề nghị được ở với bố Kể từ khi sống ly thân, cháu Anh đang sống cùng với anh Nguyệt
Về tài sản chung:
- Chị Hảo xác định:
(i) Nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m2
lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch
xi măng khoảng 1,6m2;
(ii) 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại: Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Anh Nguyệt và chị Hảo làm đơn đề nghị Tòa án không giải quyết về tài sản này
- Anh Nguyệt xác định:
(i) Không có tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01; diện tích 216m2
tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Gia đình anh Nguyệt xác định thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 là tài sản riêng của anh Nguyệt
Trang 4(ii) Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m2
Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 đồng và số
tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Anh Nguyệt đồng ý tự thanh toán hết
số nợ còn lại
2 Các tài liệu, chứng cứ được thu thập
- Giấy chứng nhận kết hôn của ông Nguyệt và bà Hảo;
- Bản sao giấy khai sinh của Nguyễn Thị Nhi và Nguyễn Đức Anh;
- Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 31/12/2005 mang tên ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo;
- Biên bản lấy lời khai ngày 18/01/2016, ngày 23/02/2016, ngày 16/5/2016;
- Đơn đề nghị của cháu Nhi và cháu Anh về việc được ở cùng mẹ;
- Biên bản số 24/BB-UBND ngày 08/6/2016 của UBND xã Thượng Đạt về việc xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo;
- Các biên bản xác minh ngày 09/3/2016, ngày 06/5/2016, ngày 15/6/2016, ngày 23/6/2016;
- Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 31/5/2016;
- Công văn ngày 10/6/2016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hải Dương;
- Đơn đề nghị của Ngân hàng Agribank xác nhận ông Nguyệt trả hết gốc và lãi khoản vay
3 Các nội dung đã được thống nhất, chưa thống nhất giữa các đương sự trong
vụ án
a) Nội dung đã được thống nhất:
- Hai bên đã thống nhất về việc ly hôn do không còn tình cảm;
- Hai bên đã thống nhất về nợ chung sẽ do anh Nguyệt trả hết
b) Nội dung chưa được thống nhất:
• Vấn đề nuôi con:
- Nguyên đơn: Đề nghị được nuôi cả hai con, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng;
- Bị đơn: Đề nghị được nuôi cả hai con, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng
• Tài sản chung của hai vợ chồng:
Trang 5- Nguyên đơn: Xác nhận diện tích đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 và tài sản trên đất là tài sản chung của hai vợ chồng Yêu cầu tòa chia đôi tài sản chung bằng hiện vật, nguyên đơn không yêu cầu chia tài sản trên đất
- Bị đơn: Xác nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa 496, tờ bản
đồ số 01, diện tích 216m2 đứng tên hai vợ chồng thực tế là đất của bố mẹ đẻ
để lại không phải là tài sản chung Đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ cấp lại cho ông bà Nguyễn Thị Thoa
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xác nhận mảnh đất có số thửa 496,
tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 là của gia đình bà Nguyễn Thị Thoa chỉ cho anh Nguyệt và chị Hảo ra ở trên đất, chưa cho đất Đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ đang đứng tên anh Nguyệt, Chị Hảo
1 Các đương sự trong vụ án:
(a) Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hảo
Sinh năm: 1978
Địa chỉ: thôn Nam Đàn, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương
(Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015)
(b) Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Nguyệt
Sinh năm: 1976
Địa chỉ: thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương
(Khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015)
(c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Nhi
Sinh ngày: 04/01/2000
Địa chỉ: xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Nguyễn Đức Anh
Sinh ngày: 13/6/2007
Địa chỉ: xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Ủy ban nhân dân Thành phố Hải Dương
- Ông Nguyễn Văn Cang
Sinh năm: 1930
Địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương; và
- Bà Nguyễn Thị Thoa
Sinh năm: 1944
Trang 6Địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
(Khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015)
(d) Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn Bích - Công chức địa chính xây dựng UBND xã Thượng Đạt, Thành phố Hải Dương
- Ông Đỗ Văn Tư – Cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt
2 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình, tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con và phân chia tài sản Do hai bên phát sinh mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Nguyên đơn có yêu cầu đơn phương xin ly hôn, nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng và chia tài sản chung theo quy định của pháp luật Do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản” được
quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (“BLTTDS”).
3 Thời hiệu khởi kiện
Yêu cầu khởi kiện của chị Hảo liên quan đến quan hệ hôn nhân và nuôi con là quyền nhân thân không gắn với tài sản nên thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 155 Bộ luật Dân sự
(“BLDS”) 2015.
4 Thẩm quyền Toà án
Căn cứ khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015 thì tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 thì tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì vụ án này thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án nhân dân (“TAND”) thành phố Hải Dương.
5 Thủ tục hoà giải
* Hòa giải ở cơ sở
Căn cứ Điều 52 Luật hôn nhân gia đình (HNGĐ) 2014 thì Nhà nước và xã hội chỉ khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn Do đó nguyên đơn có quyền nộp đơn khởi kiện ra Tòa án mà không cần tiến hành hòa giải cơ sở
* Hòa giải theo tố tụng dân sự
Căn cứ điều 54 Luật HNGĐ 2014 thì sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa
án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự Vì vậy đây là
vụ án bắt buộc hòa giải theo thủ tục tố tụng dân sự
6 Văn bản pháp luật áp dụng
- Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Trang 7- Bộ luật Dân sự 2015;
- Luật Đất đai 2003;
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của luật hôn nhân và gia đình;
- Án lệ số 03/2016/AL và Quyết định về việc công bố án lệ của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 (“Án lệ số 03”)
III DỰ KIẾN KẾ HOẠCH HỎI
1 Hỏi bị đơn - anh Nguyễn Văn Nguyệt
(1) Tại sao Bị đơn và Nguyên đơn lại ly thân?
(2) Bị đơn có cố gắng hòa giải với Nguyên đơn khi hai bên xảy ra mâu thuẫn không?
(3) Bị đơn hãy cho biết, trong thời gian chung sống với nguyên đơn, bị đơn có từng đánh đập, bạo hành Nguyên đơn và các con không?
(4) Khi Nguyên đơn bỏ về nhà mẹ, Bị đơn có gọi Nguyên đơn về lại hay không?
(5) Công việc hiện tại của Bị đơn là gì?
(6) Mức thu nhập là bao nhiêu?
(7) Kể từ khi ly thân, cháu Nguyễn Đức Anh có được gặp mẹ không?
(8) Khi cháu Nguyễn Đức Anh muốn gặp mẹ, Bị đơn có tạo điều kiện để cháu gặp mẹ không?
(9) Bình thương ai là người chăm sóc và đưa đón cháu Nguyễn Đức Anh và cháu Nguyễn Thị Nhi đi học?
(10) Trong thời gian ly thân, Bị đơn có đến thăm cháu Nguyễn Thị Nhi không? (11) Bị đơn đã đến thăm cháu Nguyễn Thị Nhi bao nhiêu lần?
(12) Cháu Nguyễn Đức Anh làm hai đơn yêu cầu, đơn đầu tiên yêu cầu ở với
mẹ, đơn thứ hai yêu cầu ở với bố Bị đơn có tác động gì tới cháu hay không?
(13) Gia đình bố, mẹ anh, cho vợ chồng anh Nguyệt sang ở mảnh đất Thửa 496,
tờ bản đồ số 01, diện tích 216m22 từ khi nào?
(14) Kể từ khi biết Nguyên đơn và Bị đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496, có ai có ý kiến gì không hay có tranh chấp
gì không?
Trang 8(15) Khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496,
Bị đơn có phải là người đi kê khai để được cấp giấy chứng nhận này không?
(16) Tại sao anh lại yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 lúc cấp mà đến bây giờ khi chị Hảo khởi kiện mới yêu cầu huỷ?
2 Hỏi người có quyền, nghĩa vụ liên quan – Bà Nguyễn Thị Thoa
(1) Tại sao từ năm 2005 đến nay dù biết ông Nguyệt và bà Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà lại không có bất kỳ ý kiến gì?
(2) Lúc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên được thế chấp cho ngân hàng Agribank để vay tiền bà có biết không?
(3) Trong biên bản hòa giải đề ngày 17/6/2016 chính bà đã thừa nhận từ khi ông Nguyệt, bà Hảo được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà và các thành viên khác trong gia đình đều biết mà không phản đối?
(4) Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?
3 Hỏi người có quyền, nghĩa vụ liên quan – Cán bộ đại diện Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương
(1) Ông/bà hãy cho biết vì sao đơn yêu cầu xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyệt bị thất lạc?
(2) Cả 30 hộ dân đều bị thất lạc hay chỉ bị thất lạc đơn của hộ ông Nguyệt?
4 Hỏi người có quyền, nghĩa vụ liên quan - Nguyễn Thị Nhi
(1) Năm nay cháu Nhi mấy tuổi?
(2) Hiện nay cháu có đi học không? Học lớp mấy?
(3) Cháu học ở trường nào?
(4) Giữa bố và mẹ cháu thì ai chăm sóc và nói chuyện với cháu nhiều hơn? (5) Bố, mẹ ly hôn cháu muốn về sống với ai?
5 Hỏi người làm chứng - Ông Nguyễn Văn Bích
(1) Trong quá trình sinh sống trên diện tích đất nêu trên, chị Hảo – anh Nguyệt
có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước không?
(2) Sau khi anh Nguyệt, chị Hảo được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông có nhận được đơn thư khiếu nại nào về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên không?
(3) Đối với thửa đất 496, trước đây có tranh chấp gì không?
6 Hỏi Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Hảo
Trang 9(1) Nguyên đơn hãy cho biết, trong thời gian kết hôn và sống chung với Bị đơn,
Bị đơn đối xử với Nguyên đơn và các con như thế nào?
(2) Lý do khiến Nguyên đơn lại quyết định ly hôn với Bị đơn là gì?
(3) Nguyên đơn có cố gắng hòa giải với Bị đơn trong quá trình ly thân và phát sinh mâu thuẫn không?
(4) Trước khi ly thân, Bị đơn có bao giờ đánh đập Nguyên đơn và các con không?
(5) Sau khi đánh đập như vậy Bị đơn có ăn năn hối lỗi và sửa đổi không, hay Bị đơn vẫn luôn đánh đập Nguyên đơn và các con?
(6) Bình thường ai là người sẽ chăm sóc các con ở nhà, đưa đón các con đi học?
(7) Công việc hiện tại của Nguyên đơn là gì? Ở đâu?
(8) Mức thu nhập là bao nhiêu và có ổn định không?
(9) Kể từ khi ly thân, Nguyên đơn có gặp cháu Nguyễn Đức Anh không?
(10) Ai là người kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496?
(11) Kể từ khi biết Nguyên đơn và Bị đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496, có ai có ý kiến gì không?
(12) Có tranh chấp gì phát sinh sau thời điểm Nguyên đơn và Bị đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 không?
(13) Trong quá trình ở tại mảnh đất này, Nguyên đơn và Bị đơn có đóng góp và xây dựng gì không?
IV DỰ THẢO BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử!
Thưa vị Đại diện Viện Kiểm Sát!
Thưa các Luật sư đồng nghiệp!
Tôi là Luật sư X , đến từ Văn phòng luật sư Công lý, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay tôi tham gia phiên tòa với tư cách là luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hảo trong vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản” được Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đưa ra xét xử ngày hôm nay
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, trao đổi với các đương sự và theo dõi diễn biến phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin đưa ra ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo Tôi xin khẳng định, các yêu cầu chị Nguyễn Thị Hảo đưa ra là hoàn toàn có căn cứ và hợp pháp, bởi các căn cứ như sau:
1 Đối với yêu cầu ly hôn:
Nguyên đơn và Bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện Tuy nhiên, do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và thực tế bà Hảo và
Trang 10ông Nguyệt đã ly thân hơn 01 năm nay Cho đến phiên tòa hôm nay thì Bị đơn cũng đã thống nhất về việc ly hôn do hai bên không còn tình cảm
Do đó, kính đề nghị Hội đồng xét xử công nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hảo
và anh Nguyệt
2 Đối với yêu cầu nuôi con chung:
Nguyên đơn yêu cầu được chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Thị Nhi (04/01/2001) và Nguyễn Đức Anh (13/6/2007) Khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.”
Như vậy, việc Nguyên đơn yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai con là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật thể hiện qua những căn cứ sau đây:
Thứ nhất, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng 02 con:
Chị Hảo có công việc ổn định, hiện đang làm công nhân tại Công ty Trấn An với mức thu nhập 5.000.000 – 6.000.000 đồng/ tháng Đối với địa phương nơi Nguyên đơn đang sinh sống, đây là mức thu nhập ổn định và phù hợp với mức sống, mức chi tiêu bình quân hàng tháng của người dân tại đây Hơn nữa chị Hảo hiện đang sống chung với mẹ đẻ của mình Không những có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc cho hai người con mà chị Hảo còn có mẹ đẻ sống chung phụ giúp cho việc chăm lo con cái, thuận lợi cho việc chăm sóc, đưa đón hai cháu đi học Trong khi công việc của anh Nguyệt lại không ổn định, làm nông nghiệp và chăn nuôi theo vụ mùa Hơn nữa hai cháu cũng còn nhỏ, đang đi học cần nhiều
sự quan tâm chăm sóc nên vì sự phát triển toàn diện cũng như môi trường được chăm sóc tốt nhất cho các con nên chị Hảo đã có yêu cầu được quyền nuôi hai người con của mình, không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng
Thứ hai, về nguyện vọng và tâm sinh lý của các con:
Cả hai cháu hiện nay đều trên 7 tuổi (cháu Nhi 17 tuổi, cháu Đức Anh 11 tuôi),
do đó theo quy định tại theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân Gia đình số 2014, đây là trường hợp phải xem xét nguyện vọng của các cháu muốn ở với mẹ hay với bố sau khi 2 người ly hôn
Ngoài ra, theo lời khai của thân chủ tôi, anh Nguyệt là một người vô cùng thiếu trách nhiệm khi thường xuyên đi chơi và rất ít quan tâm đến vợ con Không chỉ vậy, anh Nguyệt còn là một người có khuynh hướng bạo lực, thường xuyên có hành vi chửi bới, đánh đập Nguyên đơn và các con Điều này sẽ dễ gây ra ám ảnh tâm lý cho các cháu Hai cháu cũng còn nhỏ, đang trong độ tuổi phát triển cần