I TÓM TẮT VỤ VIỆC Ngày 2631999, do quen biết nên chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Theo Giấy Chứng nhận đăng ký kết hôn số 09 quyển số 011999 Sau khi cưới, hai người chung sống được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân của mẫu thuẫn theo lời khai tại tòa của anh Nguyệt là “do cô Hảo hay ghen, vì bạn tôi trêu là tôi có con ở nơi công tác cô ấy đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ Sau đó cô Nguyệt còn gọi đ.
Trang 1I TÓM TẮT VỤ VIỆC:
Ngày 26/3/1999, do quen biết nên chị Nguyễn Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương Theo Giấy Chứng nhận đăng ký kết hôn số: 09 quyển số 01/1999
Sau khi cưới, hai người chung sống được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu
thuẫn Nguyên nhân của mẫu thuẫn theo lời khai tại tòa của anh Nguyệt là “do cô Hảo hay ghen, vì bạn tôi trêu là tôi có con ở nơi công tác cô ấy đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ Sau đó
cô Nguyệt còn gọi điện thoại gọi đầu gấu về đâm chết tôi, đến giờ tôi không chịu đựng được nữa tôi cho cố ấy về nhà bố mẹ để cô ấy để sống đến nay.” Và theo lời khai tại tòa của chị Hảo thì “do chúng tôi không hợp nhau, anh Nguyệt hay đi chơi về chửi bới, đánh đâp vợ con Vợ chồng tôi sống ly thân 1 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn.” Do đó, về quan hệ vợ chồng, chị Hảo xin được ly
hôn anh Nguyệt và anh Nguyệt đồng ý theo Biên bản lời khai tại Tòa ngày 18/01/2016 cùng với 03 Biên bản hòa giải vào các ngày 19/05/2016, 17/06/2016 và 12/07/2016 tại trụ
sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương
Về con chung
Chị Hoàng Thị Hảo và anh Nguyễn Văn Nguyệt có 2 con chung: Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2001 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 Cháu Nhi hiện đang ở cùng với chị Hảo, cháu Anh đang ở cùng với anh Nguyệt
Chị Hảo và anh Nguyệt đều xin nuôi cả 2 con chung, không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung,
Thứ nhất, về 01 thửa đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại: xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương đã được cấp chứng nhận quyền
sử dụng đất mang tên chị Hảo và anh Nguyệt từ năm 2005
Chị Hảo đề nghị được chia ½ diện tích đất trên và tự nguyện nhận phần đất không
có tài sản Không yêu cầu anh Nguyệt trả chênh lệch về tài sản nếu có
Còn anh Nguyệt thì không đồng ý chia cho chị Hảo quyền sử dụng đất vì cho rằng đất này là của bố mẹ anh em anh Nguyệt, không phải của anh Anh Nguyệt đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy Giấy chứng nhận nêu trên để cấp lại cho bố mẹ đẻ mình vì cho rằng việc cấp giấy này là sai
Trang 2Thứ hai, về tài sản trên đất có nhà và một số công trình phụ, chị Hảo không đề nghị
chia tài sản trên đất, xin được lấy phần không có tài sản trên đất Còn anh Nguyệt thống nhất giá trị về các tài sản trên đất với cô Hảo và xin được chia đôi tài sản này
Thứ ba, đối với 1965m2 đất ruộng tại cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cả hai sẽ tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết về diện tích đất này
Về nợ chung
Anh Nguyệt và chị Hảo đồng ý mỗi người trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 5.000.000 tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo Biên bản hòa giải ngày 17/06/2016 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương
TƯ CÁCH TỐ TỤNG VÀ YÊU CẦU CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN
1 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự 2015 (BLTTDS 2015)
Bởi vì giữa anh Nguyệt và chị Hảo có đăng ký kết hôn hợp pháp ngày 26/03/1999, chị Hảo có yêu cầu xin ly hôn, yêu cầu nuôi 2 đứa con chung và chia tài sản tài sản vợ chồng khi ly hôn
2 Đương sự trong vụ án
2.1 Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hảo, sinh năm 1978
- ĐKHKTT: Khu dân cư số 1 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, tp Hải Dương tỉnh Hải Dương
- Hiện trú tại: Thôn Nam Giàng, xã Thượng Đạt, tp Hải Dương
2.2 Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nguyệt, sinh năm 1976
- ĐKHKTT: Khu dân cư số 1 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, tp Hải Dương
2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- UBND thành phố Hải Dương;
- Bà Nguyễn Thị Thoa và Ông Nguyễn Văn Cang;
Cùng địa chỉ: Khu dân cư số 2, thôn Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
Trang 33 Thời hiệu khởi kiện:
Không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo Điều 155 BLDS 2015 Vì đây là tranh chấp
về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
4 Thẩm quyền toà án
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án
Vì căn cứ theo Khoản 1 Điều 28 BLTTDS 2015 thì tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền của tòa án, theo quy định Điểm a Khoản 1 Điều
35 BLTTDS 2015 thì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và theo quy định Điểm a Khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc Trong trường hợp này bị đơn là ông Nguyệt đang cư trú ở thành phố Hải Dương nên Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương có thầm quyền thụ lý vụ án
5 Văn bản pháp luật áp dụng:
- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Nghị định 126/2014 hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành
một số quy định của luật hôn nhân và gia đình
- Án lệ số 03/2016/AL về vụ án “Ly hôn”.
III CÂU HỎI DỰ KIẾN TẠI PHIÊN TOÀ
1 Kế hoạch hỏi bị đơn:
- Trong quá trình chung sống chung giữa anh và chị Hảo có mấy người con chung?
- Hiện tại, hai cháu đang ở với ai?
- Anh nói nếu anh được nuôi cả hai con chung thì không yêu cầu chị Hảo cấp dưỡng đúng không?
- Anh đang là nghề gì, thu nhập bao nhiêu, công việc có ổn định không?
- Thời gian làm việc của anh như vậy liệu anh có thời gian để chăm sóc hai con không?
- Anh có thể mô tả công việc của anh hiện nay?
Trang 4- Anh cho rằng mẹ anh (tức là bà Thoa) phụ anh chăm sóc hai cháu, vậy anh có thể cho biết bà Thoa hiện tại bao nhiêu tuổi? tình hình sức khỏe như thế nào?
- Trong quá trình tòa án thụ lý vụ án, theo như Biên bản lời khai ngày 23/02/2016 thì chị Hảo khai rằng anh không cho chị Hảo gặp con là cháu Nguyễn Đức Anh có đúng như vậy không?
- Vì sao anh không cho chị Hảo gặp cháu Đức Anh?
- Vào năm 1999, khi chị Hảo và anh xây nhà và các công trình trên đất, ba mẹ anh có nói cho vợ chồng thửa đất đó để làm nhà ở riêng nhưng chỉ nói bằng miệng, có anh em trong gia đình biết, ngoài ra không có ai biết cả? Có sự việc này xảy ra hay không?
- Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất hiện tại do ai đứng tên?
- Việc cả hai vợ chồng được cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình chồng chị có ai phản đối gì không?
- Tại sao anh Nguyệt và các thành viên trong gia đình không khiếu nại, khiếu kiện khi cho rằng chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai?
2 Kế hoạch hỏi nguyên đơn
- Chị hiện tại đang làm nghề gì?
- Thu nhập như thế nào?
- Chị đang ở với ai? Mẹ chị bao nhiêu tuổi? sức khỏe như thế nào?
- Nguồn gốc đất chị yêu cầu chia là của ai? Khi cho có giấy tờ nào nói cho riêng 2 vợ chồng chị không?
- Chị được cấp Giấy CNQSDĐ khi nào? Lúc đó, gia đình chồng có ai có ý kiến gì về việc cấp Giấy này không?
- Đối với tài sản trên đất bao gồm : 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng kho, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3 thì anh Nguyệt hay chị Hảo là người bỏ tiền ra để tạo lập nên tài sản này?
- Đối với 1965m2 đất ruộng tại cư số 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, TP Hải Dương
để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chị có biết hay không? Tại sao trong Hợp đồng thuê đất, Biên bản giao đất chuyển đôi cây trồng chỉ có mỗi chữ ký của anh Nguyệt?
Trang 53 Hỏi người có quyền lợi va nghịa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thoa
- Bà cho biết nguồn gốc thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách nay là thành phố Hải Dương?
- Tại bút lục số 190, bà cho rằng vợ chồng bà cho vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo ở chứ không cho hẳn đúng không ?
- Vợ chồng anh Nguyệt xây nhà ở kiên cố từ đó đến nay trên phần đất này đúng không ?
- Khi vợ chồng anh Nguyệt ra riêng bà có cho thêm gì không ?
- Bà biết vợ chồng anh Nguyệt được cấp Giấy CNQSDĐ không ?
- Bà biết nhưng tại sao bà không phản ứng gì ?
- Từ lúc về làm dâu con trong gia đình, chị Hảo có chăm lo cho gia đình, chí thú làm
ăn, vun vén cho cho hạnh phúc gia đình không?
IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn- Nguyễn Thị Hảo trong vụ án nêu trên
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị Đại diện Viện kiểm sát!
Thưa các vị Luật sư đồng nghiệp!
Tôi là Luật sư , Luật sư Văn phòng Luật sư A, thuộc đoàn luật sư tỉnh B Được
sự yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hảo và được sự chấp thuận của Hội đồng xét xử, tôi tham
gia phiên tòa hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Hảo- là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, yêu cầu nuôi con chung và chia tài sản chung.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, dựa trên các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và việc xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm pháp lý sau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Hảo như sau:
Trang 6- Về quan hệ vợ chồng, kính đề nghị hội đồng xét xử xem xét ghi nhận sự tự
nguyện ly hôn giữa chị Hảo và anh Nguyệt do cuộc sống hôn nhân không đạt được mục đích
Như chị Hảo trình bày, chị và anh Nguyệt có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Đạt, TP Hải Dương vào ngày 26/03/1999 Sau khi kết hôn, cả hai chung sống cùng nhau tại nhà của bố mẹ anh Nguyệt là bà Thoa, ông Cang Sau một thời gian ngắn
vợ chồng ra ở riêng tại nhà đất hiện nay Cả hai chung sống hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn Nguyên nhân của mâu thuận là do vợ chồng không hợp nhau về cách sống, thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau Cuối năm 2014, chị Hảo không ở cùng nhà với anh Nguyệt nữa mà về nhà mẹ đẻ ở thôn Nam Giàng ở Vợ chồng đã ly thân nhau từ đó đến nay, không ai còn quan tâm đến ai Nay chị Hảo xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nữa Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (LHNGĐ 2014) kính đề nghị Quý tòa công nhận thuận tình ly hôn cho chị Hảo với anh Nguyệt với các lý do nêu trên
- Về quan hệ con chung: Kính đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho chị Hảo được
nuôi cả hai con chung là cháu: Nguyễn Thị Nhi, sinh ngày 04/01/2001 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 13/6/2007 Bởi các lẽ sau :
Hiện tại chị Hảo là người có công việc ổn định – là công nhân tại Công ty Trấn An, thu nhập từ 4.000.000 – 6.000.000 đ/tháng Thời gian làm việc từ 8-12 tiếng/ngày Hiện đang sống cùng mẹ ruột và mẹ của chị Hảo cũng đủ sức khỏe để chăm sóc cháu phụ với chị Hảo Thời gian làm việc của chị cũng đảm bảo để có thể chăm sóc các cháu
Đồng thời, cháu Nguyễn Thị Nhi và Cháu Nguyễn Đức Anh đều có đơn đề nghị ngày 22/01/2016 với nguyện vọng ở cùng mẹ sau khi chị Hảo và anh Nguyệt ly hôn
Đối với cháu Nguyễn Đức Anh, ngày 25/01/2016, thay đổi ý kiến là muốn sống cùng với bố vì cháu cho rằng sợ mẹ sẽ không cho ăn học giống như chị Đối với vấn đề này, tôi cho rằng cháu Anh đã chịu sự tác động từ anh Nguyệt nên mới viết ra những lời trình bày như vậy Bởi lẽ, tuổi của cháu còn quá nhỏ để có thể phán đoán được việc mẹ của
cháu-bà Hảo có hay không có điều kiện để cháu được đi học
Tại Bút lục 73- 74, Biên bản xác minh đối với ông Đỗ Văn Tự- cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng xác định rằng, trong thời gian cháu Đức Anh sống cùng anh Nguyệt thì mỗi khi cháu gặp mẹ đều bị anh Hảo đánh đập, hành hạ cháu Đây là lời khai hoàn toàn
Trang 7có cơ sở chấp nhận vì không ai có thể biết rõ sự việc bằng cơ quan chính quyền tại địa phương
Tôi cho rằng, việc cấm đoán không cho gặp mẹ của anh Nguyệt là vi phạm pháp luật,
và nếu sau này anh được tòa quyết định cho anh nuôi cháu Đức Anh thì chị Hảo sẽ không thể thực hiện quyền thăm nom, chăm sóc cháu, cũng như việc hai chị em cháu Nhi và Đức Anh sẽ không thể gặp nhau Việc này có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và sự phát triển tâm lý sau này của các cháu
- Về quan hệ tài sản: Kính đề nghị hội đồng xét xử xe xét chấp nhận yêu cầu chia
đôi tài sản chung của chị Hảo, chị Hảo yêu cầu được nhận ½ gía trị tài sản bao gồm: + Về đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Hảo và anh Nguyệt từ năm 2005 Về nguồn gốc thửa đất: thửa đất này do gia đình anh Nguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt từ những năm 1994-1995, khi mua thửa đất này chỉ là vùng trũng, anh Nguyệt và gia đình có san lấp nhưng còn dang dở Đầu năm 1999, chị Hảo và anh Nguyệt kết hôn sau đó được gia đình chồng chia cho phần đất này Chính vì vậy, hai vợ chồng chị mới tiến hành san lắp rồi làm nhà và công trình phụ trên đất và dọn ra ở vào tháng 8 năm 1999 Việc tặng cho này tuy không được lập thành văn bản cụ thể, nhưng tại hồ sơ vụ án, cụ thể tại bút lục số 85 (Biên bản lấy lời khai của ông Chuyển- em ông Nguyệt) trình bày rằng, do anh Nguyệt không bỏ tiền ra mua đất nên khi ra riêng gia đình không cho anh thêm gì nữa Như vậy, có thể hiểu, việc ra riêng của hai vợ chồng chị Hảo, gia đình chồng chỉ có thể cho đất, chứ
không cho gì khác Tiếp đến, tại bút lục 190 bà Thoa (mẹ ông Nguyệt) trình bày: «Tôi xác định đất là của vợ chồng tôi, chúng tôi cho vợ chồng anh Nguyệt chị Hảo ở trên đất chứ không cho hẳn » Ở đây, bà Thoa vẫn thừa nhận là cho hai vợ chồng chị Hảo Hơn
nữa, việc anh Nguyệt, chị Hảo vào cất nhà ở kiên cố, trồng cây lâu năm và được cấp Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với thửa đất này từ năm 2006 (búc lục 94) nhưng vẫn không có ý kiến gì là hoàn toàn vô lý
Theo nội dung án lệ số 03/2016/ AL ngày 06/4/2016 của Hôi đồng thẩm phán TANDTC thì có thể hiểu rằng, việc anh Nguyệt yêu cầu hủy Giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 01 nêu trên vì cho rằng đây là đất của bà Thoa mua là hoàn toàn không có căn cứ, bởi các lẽ
1/ Bà Thoa biết được chủ trương cấp Giấy CNQSDĐ cho 30 hộ dân, nhưng bà cho rằng bà là chủ đất nhưng không làm thủ tục kê khai
Trang 82/ Năm 1999, vợ chồng chị Hảo, anh Nguyệt vào san lắp mặt bằng xây nhà ở kiên
cố trên phần đất này, bà Thoa và những thành viên khác trong gia đình đều biết nhưng không có ý kiến gì
3/ Ngày 31/12/2005, anh Nguyệt, chị Hảo được cấp Giấy CNQSDĐ cho đến khi có việc ly hôn giữa chị Hảo và anh Nguyệt, gia đình bà Thoa biết được việc này nhưng vẫn không có khiếu nại gì về việc cấp đất
Từ đó, có thể khẳng định ý chí của gia đình anh Nguyệt là cho anh Nguyệt và chị Hảo phần đất này
.Chính vì vậy, đề đề nghị của chị Hảo được chia ½ diện tích đất trên và tự nguyện nhận phần đất không có tài sản là hoàn toàn có cơ sở
Tuy nhiên, trong vụ án này, việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân có liên
đạc như vậy sẽ không có cơ sở để giải quyết theo yêu cầu của các đương sự là chưa phù hợp
- Về khoản nợ chung : Chị Hảo và anh Nguyệt đã thống nhất với nhau, anh Nguyệt
và chị Hảo mỗi người trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam 5.000.000 tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo Biên bản hòa giải ngày 17/06/2016 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương đề nghị Tòa án ghi nhận thỏa thuận này giữa hai bên
Từ những phân tích nêu trên, kính đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều
259 BLTTDS tạm ngừng phiên tòa để tiến hành đo đạc, định giá phần đất tranh chấp
và tiến hành lấy lời khai của cháu Quốc Anh cũng như cháu Nhi để biết nguyện vọng của các cháu như thế nào sau khi cha mẹ ly hôn và cũng là căn cứ để giải quyết vụ án
Tôi tin tưởng vào sự khách quan, công minh của HĐXX sẽ đưa ra phán quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các bên
Xin chân thành cảm ơn HĐXX đã cho tôi thời gian để trình bày những nội dung bảo
vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của tôi
Trang 9III NHẬN XÉT DIỄN ÁN.
1 – Nhận xét Hội Đồng Xét Xử:
I.1 Chủ tọa phiên tòa:
-
-I.2 Hội thẩm nhân dân 1:
-I.3 Hội thẩm nhân dân 2:
Trang 10
-2 Thư ký phiên tòa
-3 Nhận xét Kiểm Sát Viên
-4 Nhận xét Nguyên đơn/ Đại diện Nguyên đơn
-5.Nhận xét bị đơn/ Đại diện bị đơn