DIỄN ÁN HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 13 KDTM CÔNG TY TNHH KIM LÂN HỌC VIỆN TƯ PHÁP Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ Mã hồ sơ LS DS13B5 TH2 DA3KDTM Diễn án lần Ngày diễn GVHD Họ và tên Ngà.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
Cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ
Mã hồ sơ : LS.DS13/B5.TH2-DA3/KDTM
Diễn án lần :
Ngày diễn :
GVHD :
Họ và tên : Ngày sinh :
Lớp :
Số báo danh :
Nhóm :
TPHCM, ngày 05 tháng 08 năm 2022
Trang 2I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (“Công ty Kim Lân”) và Công ty TNHH Nhật Linh (“Công ty Nhật Linh”) ký kết Hợp đồng nguyên tắc số
01/2012/NLBN- KL về mua bán hàng hóa (Hợp Đồng 01) Thời hạn thực hiện của
Hợp đồng là 12 tháng
Sau khi Hợp đồng kết thúc, hai bên đã tiến hành thanh lý Hợp đồng Ngày 25/02/2016 Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã lập biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31/12/2015, số tiền mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim Lân là
3.250.319.430 đồng (Ba tỷ hai trăm năm mươi triệu ba trăm mười chín nghìn bốn trăm ba mươi đồng)
Ngày 08/5/2016 Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh lập Biên bản đối chiếu công nợ lần 2 tính đến ngày 30/4/2016, số tiền mà Công ty Nhật Linh nợ Công ty Kim
Lân là 3.177.970.970 đồng (Ba tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn chín trăm bảy mươi đồng)
Ngày 09/5/2016, Công ty Kim Lân đã có Công văn số 0506ĐN/CV gửi Công ty Nhật Linh về việc đôn đốc thực hiện thanh toán tiền hàng còn nợ với Công ty theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 Tuy nhiên, công ty Nhật Linh không thấy có phản hồi gì
Ngày 17/5/2016 tại Trụ sở của Công ty Kim Lân, hai bên đã tiến hành họp thông nhất về khoản nợ nêu trên, Công ty Nhật Linh đã đồng ý thông nhất là có nợ Công ty Kim Lân với số tiền như tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2016 và
sẽ tiến hành lên lộ trình và phương thức thanh toán theo sự thống nhất của hai bên Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh có Công văn số 77/CV-NL về việc sẽ cam kết thanh toán tiền hành còn nợ cho Công ty Kim Lân một cách sớm nhất
Ngày 27/5/2016 Công ty Nhật Linh đã thông báo với Công ty Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mổi tuần thanh toán một lần với số tiền là
300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng chẵn) vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi
hết và việc thanh toán kết thúc vào 30/7/2016
Tuy nhiên, Công ty Nhật Linh không chịu thanh toán số nợ trên làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của công ty và đời sống của toàn bộ công nhận nhà máy của Công ty Kim Lân
Vì vậy, ngày 10/7/2016 Công ty Kim Lân khởi kiện Công ty Nhật Linh ra Tòa
án nhân dân huyện Thuận Thành với 02 yêu cầu như sau:
1 Yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải
quyết vụ kiện đòi nợ tiền hàng giữa Công ty Kim Lân với Công ty Nhật Linh Yêu cầu này có cơ sở theo như phân tích về thẩm quyền của Tòa án ở trên
Trang 32 Yêu cầu Công ty TNHH Nhật Linh có trách nhiệm thanh toán số nợ gốc là
3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm
bảy mươi đồng) và lãi suất theo quy định pháp luật
Tại văn bản ghi ý kiến ngày 22/8/2016, Công ty Nhật Linh có ý kiến phản bác, yêu cầu tòa án:
- Buộc Công ty Kim Lân chấm dứt hành vi sử dụng trái phép khu nhà ăn, niêm phong giữ nguyên trạng khu sản xuất
- Ký xác nhận vào biên bản thống kê tài sản
- Công ty Nhật Linh sẽ thanh toán nợ cho Công ty Kim Lân sau khi hoàn tất công việc trên
Ngày 03/9/2016, các bên tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại TAND huyện Thuận Thành Hai bên giữ nguyên quan điểm của mình, Công ty Kim Lân đồng ý ký danh sách thống kê tài sản nếu Công
ty Nhật Linh cung cấp đầy đủ giấy tờ sở hữu hợp pháp đối với tài sản
Ngày 17/11/2016, Công ty Nhật Linh gửi yêu cầu phản tố yêu cầu Công ty Kim Lân hoàn trả toàn bộ tài sản của Công ty Nhật Linh trên đất của Công ty Kim Lân Ngày 26/12/2016, TAND huyện Thuận Thành ra Quyết định số 12/2016/QĐXXST-KDTM đưa vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh ra xét xử
Trang 4II MỘT SỐ VẤN ĐỀ TỐ TỤNG CƠ BẢN:
1 Xác định tư cách tố tụng của các đương sự:
Tư cách nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 2, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015: Nguyên đơn là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Qua nội dung hồ sơ
thì Công ty TNHH Kim Lân là pháp nhân có đủ năng lực pháp luật tố tụng dân sự và thông qua đại diện theo pháp luật là ông Hàn Anh Tuấn đồng thời là Giám đốc công ty
có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành yêu cầu giải quyết là nguyên đơn trong vụ án tranh chấp
Tư cách bị đơn: Theo qui định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015: Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện Như vậy, trong vụ án này bị đơn là
Công ty TNHH Nhật Linh, đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Chí Linh
Các đương sự trong vụ án:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Địa chỉ trụ sở: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn Chức vụ: Giám Đốc
Đại diện theo ủy qyền: Bà Kiều Thị Hải Vân
- Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh.
Địa chỉ trụ sở: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh Chức vụ: Giám Đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến Công
2 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo nội dung hồ sơ thể hiện, Công ty Kim Lân đòi Công ty Nhật Linh trả tiền hàng hóa còn nợ phát sinh từ Hợp Đồng Nguyên Tắc ký ngày 02/01/2015 Cho nên, đây là tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định tại Khoản 1, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
3 Xác định thời hiệu khởi kiện của vụ án:
Theo qui định tại Điều 319 Luật thương mại năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm
Đối chiếu tại hồ sơ vụ án thì ngày quyền và lợi của Công ty TNHH Kim Lân bị xâm hại là từ ngày hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của công ty Nhật Linh theo Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ vì hết thời hạn trả nợ mà Công ty Nhật Linh vẫn không thực hiện thanh toán cho Công ty Kim Lân đối là ngày
Trang 526/02/2015 (Sau ngày hai bên lập Biên bản đối chiếu xác nhận công nợ vào ngày 25/02/2015) Ngày 10/7/2015 Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện Công ty TNHH Nhật
Linh ra Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành là còn thời hiệu khởi kiện
4 Xác định văn bản pháp luật áp dụng:
- Bộ luật dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Luật doanh nghiệp năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Luật thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành
5 Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ vào thỏa thuận giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh trong Hợp
đồng tại Điều 5 quy định như sau “Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những mâu thuẫn hay tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng, chân tình bằng văn bản Nếu không thỏa thuận được, hai bên sẽ viện đến Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội, phán quyết của Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành.”
Như vậy, tranh chấp phát sinh giữa hai công ty nếu không thể được giải quyết bằng con đường thỏa thuận đàm phán thì Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay không tồn tại cơ quan tài phán mang tên Trọng tài kinh tế thành phố Hà Nội trong thỏa thuận trọng tài giữa các bên Như vậy, thỏa thuận trọng tài này giữa 02 bên không thể thực hiện được căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 20/3/2014 hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại như sau:
“Điều 4 Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM
Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM
là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1 Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.”
Căn cứ Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm năm 2010 quy định về trường hợp Toà
án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài như sau:
Trang 6“Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.”
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh thuộc Tòa án vì thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Đối chiếu thêm các quy định về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa
án để xác định Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành thụ lý giải quyết có đúng thẩm quyền không
- Thứ nhất, về thẩm quyền theo cấp Tòa: Căn cứ tại Điểm b, Khoản 1, Điều 35
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về Kinh doanh, thương mại.” Như vậy, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp này
- Thứ hai, về thẩm quyền theo lãnh thổ: Căn cứ tại Điểm a khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm” Qua nội dung hồ sơ
thì bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh có địa chỉ trụ sở tại Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh Do đó thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh như hồ sơ thể hiện là đúng quy định của pháp luật
6 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo hồ sơ thể hiện thì Công ty TNHH Kim Lân khởi kiện Công ty TNHH Nhật Linh ra Tòa án nhân dân huyên Thuận Thành yêu cầu hai vấn đề sau:
Thứ nhất, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý
giải quyết vụ kiện đòi nợ tiền hàng giữa Công ty Kim Lân với Công ty Nhật Linh Yêu cầu này có cơ sở theo như phân tích về thẩm quyền của Tòa án ở trên
Thứ hai, yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH Nhật Linh có trách nhiệm thanh
toán số nợ gốc và lãi chậm thanh toán cho Công ty TNHH Kim Lân theo lãi suất quy
định của nhà nước, tổng số tiền là: 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng) và lãi suất theo quy định pháp luật.
7 Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về các thông tin, tài liệu, chứng cứ do Nguyên đơn tự chuẩn bị:
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì Nguyên đơn là Công ty TNHH Kim Lân cần cung cấp cho Tòa án những tài liệu chứng cứ đây:
Trang 7+ Thông tin xác minh tính cách pháp nhân của Công ty Kim Lân và công ty này vẫn còn hoạt động tại thời điểm khởi kiện: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
+ Các thông tin, tài liệu liên quan đến việc ký kết, thực hiện, thanh lý hợp đồng
và yêu cầu thanh toán:
Hợp đồng Nguyên tắc ký ngày 02/01/2015
Bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016
Bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016
Bảng kê tính lãi
Công văn số 0506ĐN/CV ngày 09/5/2016
- Các thông tin, tài liệu, chứng cứ Tòa thu thập, gồm: Biên bản lấy khai các đương
sự và Biên bản hòa giải mà Tòa án đã thu thập
Trang 8III KẾ HOẠCH HỎI CỦA LUẬT SƯ TẠI PHIÊN TÒA:
Luật sư nguyên đơn hỏi để bảo vệ quyền, lợi ích cho khách hàng
- Hỏi đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Tiến Công:
1 Lý do Công ty TNHH Nhật Linh không thực hiện việc thanh toán cho công ty TNHH Kim Lân theo hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015?
2 Có phải Biên bản đối chiếu công nợ ngày 28/5/2015 đã được Công ty xác nhận bằng con dấu và chữ ký của người đại diện công ty không?
3 Công ty Nhật Linh đã thanh toán tiền nợ hàng cho Công ty Kim Lân được bao nhiêu rồi? Thanh toán mấy lần?
4 Công ty Nhật Linh cho biết 02 ủy nhiệm chi mà công ty đã thanh toán là thực hiện theo hợp đồng nào?
5 Tại sao công ty Nhật Linh lại cam kết trả nợ và đề ra phương thức thanh toán đến ngày 30/7/2016 nhưng không thực hiện?
6 Giữa công ty Nhật Linh và công ty Kim Lân có Hợp đồng góp vốn vào ngày 03/10/2008, vậy tại sao công ty không cung cấp cho tòa án?
- Hỏi đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Kiều Thị Hải Vân:
1 Lãnh đạo Công ty TNHH Kim Lân có tư nguyện ký kết Hợp đồng nguyên tắc ngày 02/01/2015 với Công ty Nhật Linh hay không?
2 Bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 có được các bên thống nhất hay không?
3 Số tiền hàng Công ty Nhật Linh xác nhận còn nợ Công ty Kim Lân có phải phát sinh từ việc thưc hiện hợp đồng ký ngày 02/01/2015 hay không ?
4 Công ty Nhật Linh đã thanh toán cho bên nguyên đơn hay chưa?
5 Có phải tại phiên họp ngày 17/5/2016 các bên đã thống nhất với nhau về khoản
nợ phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015?
Trang 9IV LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO
NGUYÊN ĐƠN:
(Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn
– Công ty TNHH Kim Lân)
Kính thưa Hội đồng xét xử!
Thưa vị đại diện Viện kiểm sát!
Thưa các vị luật sư đồng nghiệp cùng toàn thể mọi người có mặt tại phiên tòa hôm nay
Tôi là Luật sư ……… – Công ty Luật ACB – Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Tại phiên tòa ngày hôm nay, với sự yêu cầu của nguyên đơn và đồng ý của quý tòa, tôi tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn là công ty TNHH Kim Lân (công ty Kim Lân), người khởi kiện công ty TNHH Nhật Linh (công ty Nhật Linh), liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại đã
được quyết định đưa ra xét xử theo Quyết Định số 12/2016/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 12 năm 2016
Trước khi Hội Đồng Xét Xử tiến hành nghị án, tôi xin phép phát biểu một số quan điểm pháp lý để bảo vệ cho người khởi kiện như sau:
Qua phần trình bày của các bên và phần xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, xét thấy đã thể hiện rõ nội dung tranh chấp, tôi xin phép không tóm tắt lại nội dung vụ án
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nội dung đơn khởi kiện, các biên bản hòa giải và phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm của mình đối với vụ án để chứng minh yêu cầu của thân chủ tôi là hoàn toàn có căn cứ
và hợp pháp
Thứ nhất, Yêu cầu Công ty TNHH Nhật Linh có trách nhiệm thanh toán số nợ gốc cho Công ty TNHH Kim Lân và lãi phát sinh do chậm trả theo hợp đồng mua bán được ký kết giữa hai bên:
Giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh có ký hợp đồng nguyên tắc ngày 02/01/2015 về mua bán hàng hóa Sau khi kết thúc hợp đồng các bên đã tiến hành thanh lý hợp đồng Các biên đã thống nhất các khoản nợ và lập Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 (BL 27) xác nhận Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân tính đến hết ngày 21/12/2015 số tiền là 3.250.319.430 VNĐ Biên bản có đầy đủ chữ ký đại diện và con dấu của hai bên Điều này xác nhận có khoản nợ này trên thực
tế và Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2015
Trang 10Tại BL 33, Biên bản làm việc ngày 17/5/2016 giữa đại diện của hai phía công ty, đại diện Công ty Nhật Linh – Bắc Ninh cam kết sẽ thanh toán cho công ty Kim Lân tiền hàng còn nợ nhưng lộ trình và phương thức thanh toán theo thỏa thuận giữa 2 bên trong thời gian sớm nhất
Ngày 17/5/2016, công ty Nhật Linh cũng đã xác nhận có nợ công ty Kim Lân số tiền như trên và cũng đã gửi công văn số 77/CV-NL vể việc sẽ cam kết thanh toán các khoản nợ tiền hàng phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ngày 02/01/2015, thế nhưng phía Công ty Nhật Linh không thực hiện việc trả nợ như lời cam kết Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2016 công ty Nhật Linh cũng đã thừa nhận đã ký xác nhận tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2015, như vậy nghĩa là công ty Nhật Linh số tiền như biên bản đã đề cập
Công ty Nhật Linh chưa từng thanh toán bất cứ khoản nợ nào cho công ty Kim Lân phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc ngày 02/01/2015 đã được ghi nhận trong biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016
Như vậy, từ những lập luận trên có thể khẳng định giữa hai công ty Kim Lân và Nhật Linh có mối quan hệ mua bán hàng hóa xác lập dựa trên Hợp đồng nguyên tắc, từ
đó phát sinh nghĩa vụ giao hàng và quyền được nhận tiền thanh toán tiền hàng từ người mua là Công ty Kim Lân Do vậy, khi nhận hàng Công ty Nhật Linh phải có trách nhiệm thanh toán tiền hàng
Ngoài ra, căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự, thương mại, cụ thể tại Điều
290 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Thực hiện nghĩa vụ trả tiền trong giao dịch
dân sự thì “Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận và nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi”
Ngoài ra Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 quy định về quyền yêu cầu trả lãi
do chậm thanh toán như sau: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó…” Khoản 2 Điều 50 Luật thương mại năm 2005 cũng quy định: “Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận”.
Về mức lãi suất chậm trả, căn cứ vào Điều 11 quy định về xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật Thương Mại của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Lãi suất quá hạn trung bình của 03 ngân hàng Vietcombank, ViettinBank và Agribank ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành đang giải quyết vụ án Đồng thời, đối với Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các thương nhân thuộc Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 điều chỉnh thì án lệ số 09/2016/AL về xác định