MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 2 I CÁC CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG 2 1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 2 2 Phạt vi phạm 3 3 Buộc bồi thường thiệt hại 3 4 Đình chỉ thực hiện hợp đồng 5 5 Huỷ bỏ hợp đồng 5 II NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬT SƯ CẦN LƯU Ý KHI TƯ VẤN CHO KHÁCH HÀNG SOẠN THẢO CÁC ĐIỀU KHOẢN TRONG HỢP ĐỒNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG 6 PHẦN KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 1 MỞ ĐẦU Trong thời kỳ kinh tế mở như ngày nay, nhu cầu kết nối và mở rộng quan hệ kinh do.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
I CÁC CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG 2
1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 2
2 Phạt vi phạm 3
3 Buộc bồi thường thiệt hại 3
4 Đình chỉ thực hiện hợp đồng 5
5 Huỷ bỏ hợp đồng 5
II NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬT SƯ CẦN LƯU Ý KHI TƯ VẤN CHO KHÁCH HÀNG SOẠN THẢO CÁC ĐIỀU KHOẢN TRONG HỢP ĐỒNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG 6
PHẦN KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 21
MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ kinh tế mở như ngày nay, nhu cầu kết nối và mở rộng quan hệ kinh doanh ngày một tăng cao Thế giới dần trở thành thế giới phẳng, một sân chơi chung được tạo ra mà ai cũng có cơ hội bình đẳng như nhau và điều đó dẫn đến việc hợp tác của các chủ thể trong và ngoài nước xuất hiện ngày càng nhiều, với những mối quan
hệ ngày càng phức tạp hơn Để hạn chế những rủi ro trong kinh doanh, tạo niềm tin cho nhau trong thương trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay là một yêu cầu lớn cần đặt
ra cho cả những chính trị gia và những chủ thể tham gia hợp tác kinh doanh Bên cạnh
xu hướng hợp tác cùng nhau “win – win”, thì vẫn còn rất nhiều rủi ro có thể xảy ra Từ đây, chế định hợp đồng được đặt ra, là một công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để các chủ thể tham gia hợp đồng có thể bảo vệ mình trước sự không thiện chí của bên còn lại
Sẽ không có vấn đề gì lớn xảy ra khi các chủ thể tham gia hợp đồng đều tự giác thực hiện đúng và đủ những nội dung mình đã tự nguyện cam kết Ngược lại, khi có một bên không thực hiện đúng hợp đồng hay nói cách khác là một bên có hành vi vi phạm hợp đồng thì hợp đồng sẽ phát huy ý nghĩa tồn tại của nó, đó chính là bảo vệ được quyền lợi của bên bị vi phạm Tuy nhiên, không phải lúc nào hợp đồng cũng bảo vệ được quyền lợi của bên bị vi phạm, điều này còn phụ thuộc vào nội dung các điều khoản mà các bên đã thoả thuận Do đó, để hỗ trợ các khách hàng là các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, các chủ thể phải tìm đến các luật sư tư vấn có uy tín trong lĩnh vực mà mình hoạt động
Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, luật sư sẽ khái quát về những chế tài xử lý hành vi
vi phạm hợp đồng đối với những giao dịch thương mại để quý khách hàng/doanh nghiệp bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị vi phạm Kèm theo đó là những lưu ý trong quá trình soạn thảo các điều khoản hợp đồng trước khi ký kết
Trang 32
PHẦN NỘI DUNG
I CÁC CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng được Nhà nước thừa nhận
và bảo vệ khi các bên tiến hành ký kết hợp đồng theo đúng quy định về nội dung và/hoặc hình thức (nếu có) theo quy định của pháp luật Hợp đồng được soạn thảo dựa trên những ý chí của các bên nhằm cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng, hướng tới mục tiêu cuối cùng là hợp tác cùng thắng lợi Hợp đồng sẽ phát huy tối đa nếu các bên tuân thủ các điều khoản và thực hiện đúng hợp đồng Tuy nhiên, trên thực tế việc hợp đồng không được thực hiện đúng, diễn ra rất phổ biến Do đó, để bảo vệ mình và doanh nghiệp, quý khách hàng cần lường trước được những rủi ro, những tình huống có thể xảy ra, để từ đó soạn thảo những điều khoản phù hợp nhất đối với tình trạng thực tế của giao dịch và công ty
Các chủ thể phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng thương mại, trường hợp không thực hiện đúng và đủ theo hợp đồng sẽ bị xem là vi phạm hợp đồng Cụ thể,
theo quy định tại khoản 1 Điều 351 BLDS năm 2015 quy định “vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung nghĩa vụ”, khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định: “Vi phạm hợp đồng là một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của luật này”
Ông cha ta có câu: “Thương trường như chiến trường”, quý khách hàng không thể đặt
niềm tin tuyệt đối cho đối tác của mình Để đảm bảo được mối quan hệ hợp tác tốt đẹp
và bảo vệ được lợi ích của mình, thì các điều khoản về chế tài xử lý vi phạm là một giải pháp tối ưu hoá nhất Bởi vì, khi một bên trong quan hệ hợp đồng có hành vi vi phạm hợp đồng thì họ có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi để bù đắp thiệt hại cũng như những hình phạt mang tính chất răn đe vì sự không trung thực, thiện chí của mình khi tham gia quan hệ hợp đồng thông qua các loại chế tài mà bên bị vi phạm áp dụng Vậy, những chế tài khiến bên có hành vi vi phạm phải chịu trách nhiệm là gì?
Áp dụng trong trường hợp nào? Để hiểu rõ và có thể áp dụng chế tài một cách phù hợp, chúng ta cần đi tìm hiểu chúng một cách cụ thể
Theo Điều 292 Luật Thương mại 2005, chế tài xử lý vi phạm hợp đồng gồm có các chế tài xử lý vi phạm hợp đồng như sau:
1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Theo Điều 297 Luật Thương mại 2005 định nghĩa “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.”
Trang 43
Kèm theo đó, Luật Thương mại 2005 cũng có quy định một số trường hợp cụ thể đối với hợp đồng thương mại về việc bên bị vi phạm có thể yêu cầu bên vi phạm phải giao
đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng; Trường hợp bên
vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm Trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo nội dung nêu trên thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý,…
Trên thực tế, chế tài buộc thực hiện hợp đồng luôn được các bên ưu tiên áp dụng xử lý Đây là một biện pháp bảo đảm hiệu lực của hợp đồng, uy tín thương nhân trong hoạt động kinh doanh
2 Phạt vi phạm
Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại 2005, thì “phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận” Kèm theo đó, Điều 418 BLDS 2015 quy định thoả thuận phạt vi phạm: “Là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác Các bên có thể thoả thuận
về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phạt
vi phạm hợp đồng”
Phạt vi phạm là một loại chế tài có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thức của các chủ thể hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp đồng, phòng ngừa
vi phạm hợp đồng Như vậy có thể thấy, phạt vi phạm sẽ là một chế tài rất mạnh, đối với bên vi phạm, có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hai bên
3 Buộc bồi thường thiệt hại
Việc áp dụng chế tài buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng được xác định là loại bồi thường thiệt hại trong hợp đồng Cụ thể, tại Điều 302 Luật Thương mại 2005
có quy định như sau:“Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi
Trang 54
phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không
có hành vi vi phạm”
Khác với phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại; ngoài ra bên vi phạm còn phải bồi thường tổn thất tinh thần cho bên bị vi phạm Vì vậy, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra, và có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường: Có hành vi vi phạm hợp đồng; Có thiệt hại thực tế; Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Tuy nhiên, quý khách hàng cần phải lưu ý, theo quy định tại Điều 304 Luật Thương mại 2005 thì bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh tổn thất
đó, phù hợp với ba điều kiện được liệt kê ở trên
4 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Theo quy định tại Điều 308 Luật Thương mại 2005, chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc mà một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận tại hợp đồng, bởi vì xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng
Ở đây, cần làm rõ vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là gì? Theo phần giải thích từ
ngữ của Luật Thương mại 2005 thì “Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” 1 Cũng tại Điều 25 Công ước viên năm 1980, có quy định như
sau: “một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm
đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự” Ví dụ: Bên A ký hợp đồng mua sơn phủ với
Bên B để thực hiện thi công công trình cho Bên C Tuy nhiên, Bên B không giao hàng hoá đúng như sản phẩm mẫu mà Bên B đã gửi cho Bên A, khiến Bên A không có hàng hoá để thực hiện thi công công trình cho Bên C Như vậy, Bên B đã vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng
Quý khách hàng lưu ý về hậu quả pháp lý của việc tạm ngừng hợp đồng, khi hợp đồng
bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực và bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
1 Khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại 2005
Trang 65
5 Đình chỉ thực hiện hợp đồng
Đình chỉ thực hiện hợp đồng cũng tương tự như tạm ngừng hợp đồng, chế tài đình chỉ hợp đồng được áp dụng khi một bên có hành vi vi phạm thoả thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng trừ các trường hợp được miễn trách nhiệm 2
Tuy nhiên, hậu quả pháp lý của việc đình chỉ thực hiện hợp đồng khác với tạm dừng hợp đồng Cụ thể, khi hợp đồng bị đình chỉ thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật
6 Huỷ bỏ hợp đồng
Trừ trường hợp miễn trách nhiệm, chế tài huỷ bỏ hợp đồng được áp dụng khi xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để huỷ bỏ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng3
Khách hàng cần lưu ý, có thể cân nhắc tình hình thực tế để áp dụng chế tài huỷ bỏ toàn
bộ hợp đồng hoặc huỷ bỏ một phần hợp đồng Việc huỷ bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực Sẽ khác với huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ tất cả nghĩa vụ được thoả thuận tại hợp đồng
Sau khi huỷ bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa
vụ phải hoàn trả bằng tiền Và cũng giống như tạm ngưng và đình chỉ hợp đồng, khi áp dụng chế tài huỷ bỏ hợp đồng thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.4
Ngoài ra, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có thể thoả thuận các biện pháp xử lý
vi phạm khác, tuy nhiên phải đảm bảo không trái với quy định của pháp luật và đạo
đức xã hội
2 Điều 310 Luật Thương mại 2005
3 Khoản 4 Điều 312 Luật Thương mại 2005
4 Điều 314 Luật Thương mại 2005
Trang 76
II NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬT SƯ CẦN LƯU Ý KHI TƯ VẤN CHO KHÁCH HÀNG SOẠN THẢO CÁC ĐIỀU KHOẢN TRONG HỢP ĐỒNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHẾ TÀI XỬ LÝ HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐỒNG
Mỗi giao dịch đều có bối cảnh riêng đặc thù, do đó khi soạn thảo hợp đồng, khách hàng cần hiểu rõ mục đích giao kết của cả hai bên, bối cảnh cụ thể, để từ đó soạn thảo
ra những điều khoản có nội dung phù hợp với quy định của pháp luật và đảm bảo ngôn ngữ rõ ràng, súc tích và chính xác
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, luật sư xin gửi để quý khách hàng một số lưu ý khi soạn thảo các điều khoản về chế tài xử lý hành vi vi phạm Để tiện hình dung và theo dõi, sau đây luật sư sẽ chia các chế tài xử lý hành vi vi phạm thành ba nhóm: Nhóm 1: Chế tài đảm bảo hợp đồng được thực hiện nhằm thoả mãn mục đích của các bên khi ký kết: chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (1);
Nhóm 2: Các chế tài liên quan đến tài sản nhằm ngăn ngừa và bù đắp các thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra: chế tài phạt hợp đồng, chế tài bồi thường thiệt hại (2);
Nhóm 3: Các chế tài mang tính tổ chức của hợp đồng như chế tài đình chỉ hợp đồng, huỷ bỏ hợp đồng, tạm ngừng việc thực hiện hợp đồng (3)
(1) Đối với nhóm 1: Căn cứ để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ cần
một căn cứ duy nhất là có hành vi vi phạm hợp đồng mà không cần các bên phải
có thoả thuận trong hợp đồng và không cần thiết biết thiệt hại đã phát sinh hay chưa
Kết luận: Khi soạn thảo hợp đồng, chúng ta không cần thể hiện nội dung của chế
tài thuộc nhóm 1 này vào hợp đồng Khi phát sinh căn cứ để áp dụng chế tài này, khách hàng chỉ cần thông báo yêu cầu bên kia phải thực hiện hợp đồng trong thời gian nhất định Nếu hết thời gian được ấn định mà bên vi phạm không thực hiện đúng theo hợp đồng thì sẽ tiến hành áp dụng các chế tài khác
(2) Đối với nhóm 2:
Đầu tiên, một chế tài mà theo quan điểm của luật sư là phải có ở tất cả các hợp đồng đó chính là chế tài bồi thường thiệt hại Tiền bồi thường thiệt hại là khoản tiền bồi thường cho tất cả thiệt hại xảy ra do vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, để đòi được tiền bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm phải có nghĩa vụ chứng minh tổn thất thực tế và thông thường những thiệt hại mà các bên có thể yêu cầu hầu như thấp hơn thiệt hại thực tế Do đó, chỉ chế tài bồi thường thiệt hại thì không thể bù đắp hết những thiệt hại cho bên bị vi phạm được Như vậy, chế tài bồi thường thiệt hại nên được quy định trong hợp đồng để bảo vệ quyền lợi của các bên nhưng nó không nên là chế tài duy nhất
Trang 87
Như đã trình ở trên, bên cạnh chế tài bồi thường thiệt hại, các bên cũng nên quy định thêm những chế tài bằng tiền khác để tăng giá trị số tiền mà các bên có thể yêu cầu trong trường hợp vi phạm hợp đồng Cụ thể, trong nhóm 2 này, còn một chế tài mà khi soạn thảo hợp đồng, khách hàng cần lưu ý vào bối cảnh hợp đồng
để có thể đưa nó vào Đó chính là chế tài phạt vi phạm Lý do vì sao mà luật sư cho rằng cần phải cân nhắc bối cảnh hợp đồng là vì đối với những khách hàng quen thuộc, làm ăn lâu năm việc thêm vào điều khoản phạt vi phạm sẽ không ổn đối với trường hợp này, làm cho đối phương sẽ có tâm lý không tốt khi tiếp tục mối quan hệ hợp tác kinh doanh lâu năm này Tuy nhiên, cũng cần xem xét vào bối cảnh của hợp đồng để đưa ra quyết định có nên hay không đưa điều khoản phạt
vi phạm vào hợp đồng Ngoài ra, đối với việc soạn thảo điều khoản này, cần đặc biệt lưu ý với những nội dung như sau:
- Thứ nhất, phạt vi phạm phải lập thành điều khoản trong hợp đồng thì mới được
áp dụng Tuy nhiên, cần phải lưu ý nội dung của điều khoản này Ví dụ, trong hợp đồng mua bán hàng hoá có điều khoản phạt vi phạm có nội dung như sau:
“Điều 7 Phạt vi phạm:
7.1 Trong trường hợp Bên B không giao hàng đúng thời hạn quy định trong Hợp đồng/ phụ lục/đơn hàng thì Bên B phải trả cho Bên A khoản tiền phạt là 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm
7.2 Nếu việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng gây thiệt hại cho Bên bị vi phạm, trừ trường hợp bất khả kháng quy định tại Hợp đồng này, thì Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Bên vi phạm bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế, trực tiếp phát sinh do việc chấm dứt Hợp đồng đó gây ra cho Bên bị vi phạm.”
Trong trường hợp này, bên B là bên bán sẽ chịu thiệt trong việc áp dụng điều khoản phạt vi phạm Bởi vì điều khoản này chỉ thoả thuận phạt vi phạm trong trường hợp bên B không giao hàng đúng thời hạn Trường hợp bên B bị vi phạm,
ví dụ bên A không thanh toán đúng thời hạn cho bên B thì bên B sẽ không thể áp dụng điều khoản phạt vi phạm cho bên B vì điều khoản này không có trong nội dung thoả thuận tại điều khoản phạt vi phạm
- Thứ hai, quý khách hàng khi soạn thảo điều khoản này, đó chính là không được
biến tấu thuật ngữ “phạt vi phạm” thành “thiệt hại ước tính”, “bồi thường ấn định”, Trên thực tế, nếu hợp đồng sử dụng thuật ngữ “phạt vi phạm”, tòa án sẽ chấp nhận quy định này, nhưng nếu thuật ngữ “thiệt hại ước tính” được sử dụng, tòa án sẽ tuyên quy định này vô hiệu
- Thứ ba, mức tiền phạt vi phạm hợp đồng bị giới hạn bởi thoả thuận về mức phạt
của các bên trong hợp đồng nhưng không được vượt quá mức phạt do pháp luật quy định Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng kinh doanh, thương mại
Trang 98
hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm; Đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước, mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm
- Cuối cùng, các bên có quyền thoả thuận về việc bên vi phạm chỉ phải nộp tiền
phạt vi phạm hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải nộp tiền phạt vi phạm hợp đồng và vừa phải bồi thường thiệt hại
Kết luận: Hầu hết, các hợp đồng được các khách hàng doanh nghiệp ký kết đều
mang tính chất đền bù ngang giá, phản ánh mối quan hệ mang tính chất hàng hoá, tiền tệ Do đó, nhóm 2 là nhóm chế tài mang tính chất tài sản là điều khoản tất yếu phải đưa vào hợp đồng, trừ khi hoàn cảnh ký kết hợp đồng khiến tất cả các bên tham gia hợp đồng đều không muốn đưa các điều khoản này vào hợp đồng
(3) Đối với nhóm 3: là nhóm chế tài không mang tính chất tài sản Tuy nhiên, đây cũng là nhóm chế tài quan trọng nên đưa vào hợp đồng khi soạn thảo Cụ thể:
- Thứ nhất, đối với chế tài tạm ngừng hợp đồng Chế tài này cho phép một bên tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ nếu bên kia vi phạm hợp đồng cho đến khi vi phạm được khắc phục trong thời hạn đã thỏa thuận Chế tài này quan trọng vì nó được áp dụng để một bên có thể tạm ngừng thanh toán, tạm ngừng giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ do bên kia vi phạm hợp đồng Nếu không có chế tài này, những hành
vi tạm ngừng nói trên có thể được coi là vi phạm hợp đồng, và có thể phải chịu lãi, phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại Chế tài ngừng hợp đồng chỉ được áp dụng khi các bên có thoả thuận tại hợp đồng Từ những phân tích ở trên, khi soạn thảo hợp đồng, quý khách nên dự trù trước những trường hợp mà bên đối phương có thể vi phạm để đưa vào làm điều kiện để mình thực hiện chế tài tạm ngừng hợp đồng
- Thứ hai, chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng Chế tài này cho phép bên bị vi phạm ngừng thực hiện hợp đồng, tức là những phần hợp đồng chưa được thực hiện
sẽ không còn giá trị thực hiện Trường hợp hợp đồng giao hàng nhiều đợt, đình chỉ hợp đồng sẽ làm chấm dứt hiệu lực của đợt giao hàng bị vi phạm và cả những đợt giao hàng sau Đây là một điều khoản giúp bên bị vi phạm có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không chịu bất kỳ trách nhiệm bồi thường thiệt hại nào Tuy nhiên, chế tài này chỉ chỉ được áp dụng khi được thoả thuận tại hợp đồng Do
đó, khách hàng nên cân nhắc vào hoàn cảnh ký kết hợp đồng, để đưa điều khoản này vào hợp đồng
- Thứ ba, chế tài huỷ bỏ hợp đồng Chế tài này cho phép bên bị vi phạm chấm dứt hiệu lực từng phần hoặc toàn bộ hợp đồng, có thể ảnh hưởng đến những phần hợp đồng đã được thực hiện lẫn những phần hợp đồng chưa được thực hiện Trường
Trang 109
hợp hợp đồng giao hàng nhiều đợt, chế tài này được áp dụng linh hoạt hơn, có thể chấm dứt hiệu lực của đợt giao hàng hiện tại, những đợt giao hàng sau đó hoặc kể
cả những đợt giao hàng đã hoàn thành trước đó, điều này phụ thuộc vào mức độ vi phạm ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện hợp đồng Cũng giống như các điều khoản trong nhóm, cần phải quy định chế tài này trong hợp đồng thì mới được áp dụng
Kết luận: các chế tài của nhóm này, giúp bên bị vi phạm có thể tránh được các
trách nhiệm phát sinh khi mình bị vi phạm Đặc biệt, đình chỉ và huỷ bỏ hợp đồng cho phép một bên chấm dứt thực hiện giao dịch với bên vi phạm và nhanh chóng tìm được đối tác mới để tiếp tục hoạt động kinh doanh Nếu không có điều khoản này, một bên có thể bị ‘mắc kẹt’ với đối tác kinh doanh không mong muốn và làm cho hoạt động kinh doanh bị đình trệ Do đó, nên đưa cả ba trường hợp này vào hợp đồng để có thể linh hoạt xử lý trong trường hợp mình bị vi phạm hợp đồng
Ngoài ra, khách hàng cần đặc biệt lưu ý đến các trường hợp miễn trách nhiệm đối với
hành vi vi phạm Cụ thể, theo quy định tại Điều 294 Luật Thương mại 2005 có quy định những trường hợp được miễn trách nhiệm như sau:
“a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng”
Như vậy, những chế tài xử lý vi phạm được liệt kê ở trên nhằm bảo vệ lợi ích của bên
bị vi phạm Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể biết trước được mình sẽ là bên bị vi phạm hay là bên vi phạm, do đó việc quy định những trường hợp miễn trách nhiệm là một quy định hợp lý và đảm bảo được sự công bằng cũng như thiện chí của các bên
Vì chúng ta không thể lường trước được những yếu tố khách quan có thể đến khi tham gia hợp đồng Do đó, các bên có thể thoả thuận trường hợp miễn trách nhiệm và sự kiện bất khả kháng chi tiết tại hợp đồng để tránh những trường hợp bất ngờ không nằm trong khả năng kiểm soát của chúng ta