Sau đó, các bên có tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng thỏa thuận về giải quyết tranh chấp và Tòa án đã xét rằng: 1 bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
MÔN: LUẬT DÂN SỰ BÀI THẢO LUẬN SỐ 2 – VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP DỒNG
NHÓM 4
Danh sách các sinh viên thực hiện:
Trang 2MỤC LỤC
BÀI 1: CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT
3
BÀI 2: SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ
TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG HỮU VINH - ANH THƯ
4-7
BÀI 3: ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG
KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC
HỒNG HỢP – ANH THƯ 8-11
BÀI 4 :XÁC LẬP HỢP ĐỒNG CÓ GIẢ TẠO
VÀ NHẰM TẨU TÁN TÀI SẢN THẢO GIANG – BỘI LINH – PHƯƠNG ANH
11-15
CHÚ THÍCH:
BLDS: Bộ luật Dân sự
TAND: Tòa án nhân dân
UBND: Ủy bản nhân dân
Trang 3CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
I.Tóm tắt:
Tình huống: Tháng 1 năm 2018, A (pháp nhân), B (cá nhân) và C (cá nhân) gửi
cho D một đề nghị giao kết hợp đồng (là điều khoản về phương thức giải quyết tranh chấp, bằng văn bản và có chữ ký của cả 3 chủ thể) Tháng 1 năm 2020 và tháng 2 năm
2020, D đã gửi cho A và B chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của mình nhưng D không chứng minh được đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho C (C không thừa nhận đã nhận được chấp nhận đề nghị giao kết của D) Sau đó, các bên có tranh chấp
về sự tồn tại của Hợp đồng (thỏa thuận về giải quyết tranh chấp) và Tòa án đã xét rằng: (1) bên đề nghị chưa nhận được chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Điều 400 BLDS 2015; (2) chấp nhận chưa được thực hiện trong thời hạn hợp lý theo quy định của Điều 394 BLDS 2015 và (3) chấp nhận trên của D là đề nghị giao kết mới
II.Trả lời câu hỏi:
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án đối với 3 vấn đề trên:
Đối với tình huống trên, hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý Tuy bên đề nghị giao kết hợp đồng (A, B, C) không đưa ra thời hạn trả lời chấp nhận giao kết nhưng sau 2 năm (1/2018 - 1/2020) không có lý do khách quan bên nhận đề nghị mới thực hiện việc trả lời là không hợp lý Theo khoản 1 Điều 394 BLDS 2015, việc D chấp nhận giao kết hợp đồng sau thời hạn trả lời được xem là lời đề nghị giao kết mới của D Chính vì vậy theo khoản 1 Điều 400 BLDS 2015, giao kết giữa D và các bên (A, B, C) chỉ hình thành khi D nhận được chấp nhận giao kết
Trang 4SỰ ƯNG THUẬN TRONG QUÁ TRÌNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
I.Tóm tắt:
Tình huống: Năm 2001, bà Chu và ông Bùi chuyển nhượng quyền sử dụng đất
của hộ (gồm 7 nhân khẩu) cho ông Văn Năm 2004, ông Văn đã xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên làm thủ tục chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì Tuy nhiên, nay các con bà Chu và ông Bùi yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng
vô hiệu vì chưa có sự đồng ý của họ và Tòa án đã áp dụng Án lệ số 04/2016/AL
II.Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
Điểm thay đổi thứ nhất:
- Theo khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng
dân sự thì: “2 Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn
trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết.” Như vậy, theo quy định của BLDS 2005 quy định
im lặng là chấp nhận, đồng ý khi các bên có thỏa thuận
- Còn theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 quy định về chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng thì: “2 Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.” Như vậy, theo quy định của BLDS hiện
hành trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen được xác lập giữa các bên thì ngoài ra sự im lặng trong giao kết không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Điểm thay đổi thứ hai:
- Khi im lặng được coi là đồng ý thì BLDS 2005 chưa xác được thời điểm giao kết hợp đồng, do đó khoản 2 Điều 400 BLDS 2015 đã khắc phục nhược điểm này, những quy định này chỉ xác định thời điểm nếu các bên giao kết im lặng qua thỏa thuận im lặng, chứ vẫn chưa quy định đến thời điểm nếu các bên xác lập theo thói quen (trong khi đó “thói quen” là một điểm mới quan trọng trong việc mở rộng phạm vi trong BLDS 2015 )
Câu 2: Quy định về vai trò của im lặng trong giao kết hợp trong một hệ thống pháp luật nước ngoài.
Về vai trò của sự im lặng trong giao kết hợp đồng, tại Điều 1120 BLDS Pháp quy
định: “Im lặng không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp
Trang 5pháp luật, thông lệ, quan hệ kinh doanh hoặc hoàn cảnh đặc biệt dẫn tới có quy định khác.”1
Câu 3: Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên có thuyết phục không? Vì sao?
Nội dung án lệ:
“Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26-4-1996: Việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở Trong khi đó gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26-4-1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng
bà Tý bà không biết là không có căn cứ.”
Theo quan điểm của nhóm, Tòa án áp dụng Án lệ số 04/06/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là chưa thuyết phục Để làm rõ quan điểm trên, sau đây nhóm sẽ đưa ra so sánh giữa vụ việc trong tình huống và Án lệ số 04/2016/
AL như sau:
- Thứ nhất, tình tiết trong Án lệ số 04/2016/AL chỉ đề cập tới tài sản chung của
vợ chồng còn trong tình tiết của tình huống đề cho còn đề cập tới tài sản của hộ gia đình (tức là tài sản của vợ chồng bà Chu, ông Bùi và các con)
- Thứ hai, trong Án lệ số 04/2016/AL chỉ dừng lại ở trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng Còn đối với tình huống trên, chúng ta chưa nhìn thấy được những sự kiện hay đặc điểm cho thấy nguyên đơn biết quyền lợi của mình bị xâm phạm nhưng không lên tiếng Được biết vào năm 2004, ông Văn xây dựng chuồng trại trên đất chuyển nhượng, các bên
đã làm thủ tục chuyển nhượng, ông Văn đã được cấp giấy chứng nhận và gia đình ông không có ý kiến gì, tức có thể hiểu rằng, vợ chồng ông Bùi, bà Chu biết và không phản đối Nhưng tình tiết này không đồng nghĩa với việc các con của ông bà cũng không phản đối việc chuyển nhượng nên Tòa án nhận định việc im lặng của họ đồng nghĩa với ưng
1 Điều 1120, Tiểu mục 2: Đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, Mục 1: Giao kết hợp đồng, CHƯƠNG II: Giao kết hợp đồng, TIỂU THIÊN I: HỢP ĐỒNG, Tr.264.
Trang 6thuận và bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn là chưa hợp lý Vì các con của ông bà không lên tiếng cũng có thể là không biết về việc chuyển nhượng hoặc chưa đủ nhận thức rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm, chứ không có nghĩa là phản đối
Nếu áp dụng Án lệ số 04/2016/AL đối với tình huống này thì hệ quả sẽ là:
- Khẳng định được việc ông Bùi bà Chu đồng ý việc chuyển nhượng đất cho ông Văn và phủ nhận hoàn toàn yêu cầu của nguyên đơn cũng tức là của các con ông Bùi và bà Chu
- Tuy nhiên lại không giải quyết được cho trường hợp là các con của ông Bùi và bà Chu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng vô hiệu vì lý do chưa có sự đồng ý của họ Giả thiết rằng, trong 5 người con, vào năm 2001 có người chưa đủ tuổi nhận thức về việc chuyển nhượng đất giữa cha mẹ họ và đến năm 2004 vẫn chưa đủ tuổi nhận thức về việc ông Văn xây chuồng trại và làm thủ tục chuyển nhượng thì cụm” gia đình bà Chu ông Bùi không ai ý kiến gì” là không có căn cứ
để khẳng định người con có đồng ý hay không đồng ý Và từ “Nay” đã không thể hiện rõ thời gian, giả sử năm 2020 người con này đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch chuyển nhượng này vô hiệu thì cũng chưa giải quyết được thỏa đáng
Mặt khác, nhóm em sẽ phân tích sự việc theo hướng các con của ông Bùi bà Chu không biết về hợp đồng chuyển nhượng nhưng hợp đồng có hiệu lực theo một hướng khác:
*Trường hợp 1: Bà Chu và ông Bùi sử dụng số tiền chuyển nhượng để phục vụ
cho lợi ích chung của gia đình, bao gồm các đồng sở hữu là các con của ông bà
Theo quan điểm của tác giả Đỗ Văn Đại “…Qua thực tế xét xử, Tòa dân sự thấy cần chấp nhận những căn cứ xác định của đồng chủ sở hữu là: Những chủ sở hữu chung biết chuyện và không phản đối, những sở hữu chung này có tham gia một giai đoạn nào
đó của việc chuyển nhượng như tham gia nhận tiền…, tuy khi chuyển nhượng chủ sở hữu chung này không biết nhưng sau khi biết có biết việc chuyển nhượng đã sử dụng chung tiền chuyển nhượng hoặc người chuyển nhượng chia tiền chuyển nhượng tài sản…”2 Và chúng ta cũng có thể căn cứ vào chi tiết vào năm 2004 ông Văn xây dựng chuồng trại trên đất đã chuyển nhượng để ông Văn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và gia đình bà Chu, ông Bùi không ai có ý kiến gì, thì có thể thấy 5 người con của ông Bùi và Chu ngay thời điểm chuyển nhượng có thể không biết đến nhưng sau khi biết việc chuyển nhượng vào năm 2004 đã sử dụng chung tiền chuyển nhượng
Do đó, dù không áp dụng Án lệ 04 nhưng Tòa án vẫn có thể tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng này vẫn có hiệu lực
2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, Nxb Đại học quốc gia Tp.HCM
Trang 7Mặt khác, là 5 người con của ông Bùi và bà Chu biết về hợp đồng chuyển nhượng
và không lên tiếng phản đối trong một khoảng thời gian dài à Trong trường hợp này, nhóm em cho rằng Tòa Án có thể áp dụng Án lệ số 04 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trên:
*Trường hợp 2: Các con của ông Bùi và bà Chu biết về hợp đồng chuyển và
không lên tiếng trong khoảng thời gian dài
Tài sản tranh chấp trong tình huống này và trong Án lệ đều là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất được quy định tại Điều 210 BLDS 2015, mặc dù trong Án lệ là tài sản chung vợ chồng còn ở tình huống là tài sản chung của hộ gia đình nhưng bản chất sở hữu chung đối với tài sản về quyền và nghĩa vụ là tương đương
Cả hai vụ việc đều phát sinh tranh chấp do tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất tài sản này được chuyển nhượng cho người khác không trên cơ sở có sự đồng ý của (các) thành viên sở hữu chung còn lại, nhưng các chủ sở hữu chung còn lại đều biết về việc chuyển nhượng tài sản chung này nhưng không ai có ý kiến gì và sau một thời gian, vì lí
do nào đó, mới khởi kiện yêu cầu tuyên bố vô hiệu
Chính vì vậy, tòa án hoàn toàn có thể căn cứ hướng giải quyết của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao trong Án lệ số 04/2016/AL để giải quyết tình huống này, cụ thể là: Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên
ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định
là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất
Từ các phân tích trên, ta có thể thấy việc Tòa án áp dụng áp dụng Án lệ số 04/2016/AL để công nhận hợp đồng chuyển nhượng trong tình huống trên là hoàn toàn thuyết phục
Trang 8ĐỐI TƯỢNG CỦA HỢP ĐỒNG KHÔNG THỂ THỰC HIỆN ĐƯỢC
I.Tóm tắt:
Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn P (Ông Mai Thanh N là người đại diện hợp pháp)
Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn B, Ông Nguyễn Ngọc N,
Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (viết tắt HD Bank), và 24 người khác
Vấn đề khởi kiện: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất,hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy chỉnh lý và hợp đồng tín dụng
Nội dung:
Lý do khởi kiện: tháng 10/2016, ông P cho ông Búa vay 100.000.000 đồng và
thỏa thuận ông B chuyển nhượng cho ông các thửa đất do ông B đứng chủ quyền
để đảm bảo cho khoản vay trên Giấy cam kết có nội dung ông B được mua lại tài sản với giá 160.000.000 đồng và đã giao nhận đủ tiền Vì bận làm ông B nhờ ông
L đứng tên, sau đó ông L có đơn nên đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Sau đó, Ông P đã nhiều lần yêu cầu ông L chuyển các thửa đất trên lại cho ông nhưng ông L né tránh, không thực hiện Hiện trên thửa đất có các hộ đang ở; thửa có mồ mả người thân của ông B Vì ông B ký hợp đồng chuyển nhượng đất là để đảm bảo khoản vay giữa ông B với ông,ông P với ông B sẽ tự thỏa thuận
số tiền vay này.Ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vô hiệu các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất; Hủy các thông báo cập nhật, chỉnh lý
hồ sơ địa chính các thửa đất tranh chấp trên; Hủy các hợp đồng ủy; Hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng; Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho ông được kê khai đăng ký quyền sử dụng đất các thửa nêu trên
Quyết định của Tòa phúc thẩm: Bác kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm II.Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015
và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.
Thứ nhất:
- Khoản 1Điều 408 BLDS 2015 đã bỏ cụm từ “vì lí do khách quan”
- Khoản 1Điều 411 BLDS 2005 quy định trường hợp, hợp đồng vô hiệu do không thể thực hiện được nhưng chỉ khoanh vùng ở trường hợp “vì lí do khách quan” Trong khi đó, thực tiễn vận dụng điều luật này cả cho trường hợp không thể thực hiện vì lí do “chủ quan” như trường hợp các bên không thỏa thuận về các mặt tiếp giáp của mảnh đất được chuyển nhượng (đối với hợp đồng chuyển
Trang 9nhượng đất) hay đời máy cụ thể (đối với hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị) nên hợp đồng không thể thực hiện được.Thực ra, việc khoanh vùng như hiện nay không thuyết phục vì nếu áp dụng đúng luật thì không thể thực hiện được
vì lí do chủ quan không làm cho hợp đồng vô hiệu,nhưng nếu hợp đồng không
vô hiệu thì hợp đồng cũng không thể thực hiện được và trong trường hợp này vẫn không có câu trả lời thuyết phục Do đó, BLDS 2015 bỏ đi cụm từ “vì lí do khách quan” là hoàn toàn thuyết phục
Như vậy, lí do khách quan hay chủ quan không ảnh hưởng tới khả năng vô hiệu của hợp đồng mà chỉ ảnh hưởng tới lỗi lầm phát sinh trách nhiệm bồi thường
Thứ hai:
Khoản 1, Điều 408 BLDS 2015 thay từ “ký kết” trong khoản 1 Điều 411 BLDS
2005 bằng “giao kết” Việc BLDS 2005 dùng từ “ký kết” hợp đồng và thuật ngữ này là không có tính bao quát vì ký kết chỉ dùng cho hợp đồng văn bản có chữ ký trong khi đó hợp đồng có thể được hình thành mà không có chữ ký Để có tính bao quát hơn, BLDS
2015 đã dùng từ “giao kết”, và việc thay đổi này là hoàn toàn chính xác, khắc phục được khuyết điểm của BLDS 2005
Thứ ba:
Khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 đã thay cụm từ “giá trị pháp lý” trong khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 bằng “hiệu lực” Ta thấy rằng, hợp đồng vô hiệu thì chắc chắn là hợp đồng không có hiệu lực pháp lý Nhưng ngược lại, hợp đồng không có hiệu lực pháp
lý chưa chắc đã là hợp đồng vô hiệu, mà có thể là hợp đồng chưa được ký kết, đã ký kết nhưng bị đình chỉ hiệu lực, hoặc đã hết hiệu lực Như vậy, dùng cụm từ “hiệu lực” sẽ tạo
sự khái quát, bao quát hơn so với việc dùm cụm từ “giá trị pháp lý” vì “giá trị pháp lý” chỉ mang ý nghĩa luật định, còn “hiệu lực” còn có ý nghĩa trong việc thực thi
Câu 2: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng do đối tượng không thể thực hiện được được xác định như thế nào? Vì sao?
Theo Tòa án: “Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu theo Điều 411 của Bộ luật dân
sự 2005 thì sẽ không áp dụng thời hiệu”, bởi lẽ “các trường hợp áp dụng thời hiệu 2 năm
để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu tại Điều 136 của Bộ luật dân sự 2005 không bao gồm Điều 411 của Bộ luật dân sự 2005”3.Tuy nhiên, Tòa án cũng cho rằng không áp dụng thời hiệu là không có căn cứ pháp lý bởi lẽ các trường hợp không áp dụng thời hiệu tại khoản 2 Điều 136 BLDS 2005 cũng không bao gồm Điều 411 BLDS 20054 Điều 411
3 Quyết định số 1357/2017/QĐ-PQTT của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh.
4 Nguyễn Hồng Hải, “Một số vấn đề về hợp đồng vô hiệu trong pháp luật tư hiện hành của Việt Nam”, trong Hợp đồng vô hiệu trong pháp luật một số nước (Đại học Luật Hà Nội, 2018)
Trang 10BLDS 2005 cũng không thuộc các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện tại Điều
160 BLDS 2005 và các văn bản khác có liên quan.5
Câu 3: Trong vụ án trên, đoạn nào của Bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được?
Trong vụ án trên, đoạn của bản án cho thấy Tòa án theo hướng hợp đồng vô hiệu
do đối tượng không thực hiện được là:
"Vào tháng 4/2018, Tòa án đã có thông báo cho bà Nguyễn Thị Thu H biết thửa đất số 20 có tranh chấp (Thông báo số 185/TB-TLVA ngày 04/4/2018), nhưng đến ngày 07/8/2018 bà Nguyễn Thị Thu H vẫn ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 20 đang có tranh chấp cho ông Nguyễn Văn N1 Do đó, tuy ông Nguyễn Ngọc N1 trình bày khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 20 thì ông không biết đất đang có tranh chấp, nhưng bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Thu H biết rõ đất đang có tranh chấp, nên không có căn cứ để xác định việc chuyển nhượng đất là ngay tình Mặt khác, tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/6/2018 (bút lục 368, 369) thể hiện trên phần đất thửa
số 20 đang tồn tại 01 nhà mồ và 04 ngôi mộ của người thứ ba, nhưng việc chuyển nhượng đất lại không có ý kiến của chủ sở hữu hợp pháp các vật kiến trúc trên đất, nên quyền sử dụng đất không thể chuyển giao cho người nhận chuyển nhượng bình thường và đầy đủ quyền sử dụng của mình Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do
có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 408 Bộ luật dân sự."
Câu 4: Trong vụ án trên, Toà án xác định hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được có thuyết phục không? Vì sao?
Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được là thúy hoàn toàn thuyết phục
Vì theo Bản án thì Tòa án đã có thông báo cho bà Nguyễn Thị Thu H biết thửa đất
số 20 có tranh chấp nhưng bà Nguyễn Thị Thu H vẫn ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 20 đang có tranh chấp cho ông Nguyễn Văn N1 và không thông báo cho ông N1 biết thửa đất đang có tranh chấp Vì vậy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa bà H và ông N1 bị vô hiệu và bà H phải bồi thường thiệt hại cho ông N1 số tiền tương ứng theo quy định của Điều 408 BLDS 2015:
“1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện
được thì hợp đồng này bị vô hiệu.
5 Ví dụ: Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 03 tháng 12 năm 2012.