1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân biệt chuẩn bị xét xử sơ thẩm với chuẩn bị xét xử phúc thẩm

11 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 28,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ BÀI 3 NỘI DUNG 3 1 Phân biệt chuẩn bị xét xử sơ thẩm với chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 3 1 1 Cơ sở phát sinh 3 1 2 Thời hạn chuẩn bị xét xử 4 1 3 Các công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 4 2 Đánh giá tính hợp lý của các quy định về giai đoạn chuẩn bị xét xử 7 KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 MỞ BÀI Trong sự nghiệp đổi mới và dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, các phương thức giải quyết tranh chấp.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ BÀI 3

NỘI DUNG 3

1 Phân biệt chuẩn bị xét xử sơ thẩm với chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 3 1.1 Cơ sở phát sinh 3

1.2 Thời hạn chuẩn bị xét xử 4

1.3 Các công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử 4

2 Đánh giá tính hợp lý của các quy định về giai đoạn chuẩn bị xét xử 7

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

MỞ BÀI

Trong sự nghiệp đổi mới và dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, các phương thức giải quyết tranh chấp hành chính nói chung và xét xử vụ án hành chính nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; góp phần nâng cao hiệu quả quản lí hành chính nhà nước; đảm bảo dân chủ và công bằng xã hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam Pháp luật hiện hành ghi nhận chế độ xét xử hai cấp là xét xử cấp sơ thẩm và xét xử cấp phúc thẩm Theo đó, bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị Bản án, quyết định

sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật Vậy sự khác nhau về giai đoạn chuẩn bị xét xử giữa hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hành chính là gì?

Để có thể hiểu rõ được những điểm khác nhau đó, em xin lựa chọn đề bài: “Phân

biệt chuẩn bị xét xử sơ thẩm với chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 và đánh giá về tính hợp lý của các quy định này” làm bài tiểu luận kết thúc học phần của mình

NỘI DUNG

1 Phân biệt chuẩn bị xét xử sơ thẩm với chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019

1.1 Cơ sở phát sinh

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là giai đoạn độc lập của

quá trình giải quyết vụ án hành chính, chỉ phát sinh khi toà án quyết định thụ lý vụ tranh chấp hành chính bằng một vụ án hành chính Ở giai đoạn này đối tượng xem xét là tất cả các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ việc hành chính Đây là giai

2

Trang 3

đoạn đóng vai trò nền tảng và có ý nghĩa quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hành chính

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính phải ra một trong các quyết định sau đây: Tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính; Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính; Đưa vụ án ra xét xử

Còn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án hành chính được hiểu là toàn bộ các

hoạt động tố tụng mà toà án cấp phúc thẩm phải tiến hành kể từ khi nhận được kháng cáo, kháng nghị và toàn bộ hồ sơ vụ án do toà án cấp sơ thầm gửi lên cho đến khi Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà, ra một trong các quyết định: tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án; đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm

1.2 Thời hạn chuẩn bị xét xử

Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm: Theo Điều 130 Luật tố tụng hành chính,

các vụ án, trừ vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài và vụ

án khiếu kiện về danh sách cử tri là: 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án đối với trường

hợp vụ án hành chính có đối tượng là quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc; trường hợp vụ án hành chính có đối tượng xét xử

là quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lí cạnh tranh thì thời hạn là 02 tháng

Đối với các vụ án phức tạp, thời hạn nói trên không quá hai tháng, vụ án hành chính có đối tượng xét xử là quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì thời hạn kéo dài không quá 01 tháng

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Điều 221 Luật tố tụng hành chính quy

định thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý vụ án phúc thẩm Đối với vụ án phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án toà án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 30 ngày

3

Trang 4

1.3 Các công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

Các công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm:

Ở giai đoạn này, toà án có thẩm quyền phải tiến hành những công việc sau:

(1) Thông báo về việc toà án thụ lý vụ án hành chính: Trong thời hạn 03 ngày làm việc

kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thụ lý vụ án phải thông báo bằng văn bản cho người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án

và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và công bố trên Cổng

thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)1

(2) Phân công thẩm phán giải quyết vụ án: Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày

thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử theo đúng thời hạn quy định của Luật này2

(3) Lập hồ sơ vụ án; yêu cầu nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ và các loại giấy tờ có liên quan; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ

(4) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Giai đoạn

chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính cũng có thể ra quyết áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời” Như vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể xem xét và quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời sau: Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Tạm dừng việc thực hiện hành vi hành

chính; Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi hành chính nhất định Khi ban hành các

quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp khẩn cấp tạm thời, Thẩm phán

cần tuân theo các quy định tại Chương V, Luật Tố tụng hành chính năm 2015

1 Khoản 1 Điều 126 Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung

năm 2019 2 Khoản 2 Điều 127 Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung

năm 2019

4

Trang 5

(5) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại

(6) Ra các quyết định Để kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án phải ban

hành các quyết định để hiện việc giải quyết vụ án hành chính, đó có thể là quyết định

tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính, đình chỉ giải quyết vụ án hành chính hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm quyền ra các quyết định này thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án Sau khi ra một trong các quyết định trên thì Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong vòng

03 ngày làm việc1

Các công việc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm:

Sau khi nhận được toàn bộ hồ sơ vụ án do Toà án cấp sơ thẩm gửi lên, Toà án cấp phúc thẩm cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, phải xem xét, kiểm tra thật cụ thể nội dung kháng cáo, kháng nghị và nội dung vụ án Công việc này do Thẩm phản được phân công làm Chủ tọa phiên tòa thực hiện cùng với sự tác nghiệp của Thư kí Toà án Việc kiểm tra bao gồm:

(1) Kiểm tra về nội dung kháng cáo, kháng nghị Kiểm tra về thủ tục tố tụng và nội

dung cụ thể của vụ án liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, Toà án cần kiểm tra để đảm bảo tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp kháng cáo quá hạn thì một lần nữa kiểm tra lại về lí do kháng cáo quá hạn và quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận khảng cáo quả hạn

(2) Hồ sơ vụ án hành chính cần phải được nghiên cứu xem xét lại về thủ tục tố tụng và nội dung:

Về thủ tục tố tụng: Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo thủ

tục phúc thẩm, các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án hành chính cần:

1 Điều 145 Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019

5

Trang 6

+ Kiểm tra các căn cứ thụ lý vụ án như: thời hạn khởi kiện, chủ thể có quyền khởi kiện

+ Kiểm tra về thẩm quyền giải quyết vụ án, bao gồm cả thẩm quyền về loại việc và thẩm quyền theo cấp

+ Kiểm tra việc xác định tư cách những người tham gia tố tụng của Toà án cấp sơ thẩm Đặc biệt cần lưu ý xem có bị bỏ sót người tham gia tố tụng hay không

Về nội dung:

+ Kiểm tra tính chính xác, khách quan của bản án hay quyết định sơ thẩm xem có phù hợp với các văn bản pháp luật hiện hành và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập

+ Kiểm tra tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xem có cần bổ sung gì không Toà án cấp phúc thẩm khi xét xử lại các bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị có quyền sử dụng những chứng cứ đã được toà

án cấp sơ thẩm xem xét, sử dụng đồng thời có quyền sử dụng các chứng cứ mới được bổ sung để xác định sự thật khách quan của vụ án Trước khi xét xử hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ mới Những chứng cứ mới này cần phải được toà án cấp phúc thẩm xác minh, Toà án phúc thẩm có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung hoặc uỷ thác cho toà án khác tiến hành xác minh1

(3) Kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án phúc thẩm có thể

ra một trong các quyết định pháp luật cần thiết sau:

+ Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có những căn cứ phù hợp với quy định của Điều 228 của Luật Tố tụng hành chính

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, nxb công an nhân dân, Hà Nội, 2014

6

Trang 7

+ Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có một trong các trường hợp quy định tại Điều 229 thuộc thẩm quyền của Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm khi có đầy đủ căn cứ, chứng cử hợp lệ

2 Đánh giá tính hợp lý của các quy định về giai đoạn chuẩn bị xét xử

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định các mốc thời gian quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Đây là khoảng thời gian

tính từ thời điểm thụ lý vụ án đến khi Thẩm phán ra một trong các quyết định đưa

vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đình chỉ giải quyết vụ án Khoảng thời gian chuẩn bị xét xử là 04 tháng đối với các khởi kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính và quyết định buộc thôi việc, và là 02 tháng đối với các khởi kiện về quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh1 Thời hạn này được cho là khoảng thời gian hợp lý để Thẩm phán có đủ cơ sở

ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không Các khiếu kiện về quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc canh tranh có thời hạn ngắn hơn, bởi vì các khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh đã được giải quyết bởi các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cạnh tranh Trong thủ tục giải quyết khiếu kiện về Danh sách cử tri, giai đoạn chuẩn bị xét xử chỉ là 02 ngày Việc quy định thời hạn rất ngắn là mục đích nhằm giải quyết nhanh chóng khiếu kiện của người dân bảo đảm quyền lợi của họ trong cuộc bầu cử sắp diễn ra Việc đảm bảo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử là điều kiện bắt buộc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng Tuy nhiên, việc vi phạm thời hạn trong các vụ

án hành chính là khá phổ biến xuất phát từ bản chất của loại vụ việc “dân kiện quan” này

1 Điều 130 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi bỏ sung năm 2019

7

Trang 8

Điều 130 của Luật Tố tụng Hành chính chỉ quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các quyết định hành chính thuộc trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 116 của Luật này mà không quy định thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 116 của Luật này, do đó khi thụ lý giải quyết đối với những trường hợp này thì Tòa án áp dụng thời gian chuẩn bị xét xử là 02 tháng, có nơi thì áp dụng 04 tháng dẫn đến việc áp dụng pháp luật không thống nhất

Đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử được quy định cụ thể trong Luật Tố tụng hành chính năm 2015, điều này thể hiện việc Tòa án khuyến khích và tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án trên cơ sở của pháp luật Qua thực tiễn xét xử các vụ án hành chính cho thấy rằng việc Tòa án tổ

chức đối thoại cho các đương sự là rất cần thiết Xuất phát từ mối quan hệ vốn không bình đẳng giữa người khởi kiện và người bị kiện (một bên là chủ thể thường

- một bên là chủ thể mang quyền lực nhà nước) nên khả năng người khởi kiện được tiếp cận, tiếp xúc với người bị kiện sau khi chịu tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính là rất hạn chế Do đó, khi Luật Tố tụng hành chính quy định thủ tục đối thoại tại Tòa án là tạo ra một điều kiện, một môi trường công lý bình đẳng để các bên gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với nhau, qua đó các đương sự trong

vụ án hành chính sẽ hiểu biết nhau hơn, làm rõ những nguyên nhân, sự khác biệt trong nhận thức pháp luật, những sai sót và hạn chế của nhau Đặc biệt, người khởi kiện qua sự giải thích, phân tích sẽ hiểu rõ hơn những quy định pháp luật mà trong

đó có rất nhiều những quy định phức tạp, liên quan đến nhiều văn bản pháp luật, nhiều cấp quản lý như đất đai, thuế, hải quan, từ đó các bên có thể đi đến những thỏa thuận hoặc giảm những mâu thuẫn, xung đột1 Nếu Tòa án chú trọng đến việc đối thoại, tạo điều kiện và sự bình đẳng giữa các bên trong đối thoại thì có thể dẫn

1 Phạm Hồng Thái – Bùi Tiến Đạt, Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 2 Giai Đoạn Chuẩn Bị Xét Xử Một Vụ Án Hành Chính, xem tại: https://chuyentuvanluat.com/hanh - chinh/khoi -kien vu - an - hanh - chinh , truy cập ngày 25/08/2021

8

Trang 9

đến kết quả người khởi kiện rút đơn khởi kiện, người bị kiện hủy bỏ hoặc thay đổi quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện Việc chấm dứt giải quyết vụ án hành chính thông qua đối thoại có ý nghĩa rất quan trọng trong tố tụng hành chính Do xuất phát từ việc đã thông hiểu lý do của các bên nên khiếu kiện không bị tiếp tục hoặc kéo dài, không kháng cáo gây tốn kém về vật chất, công sức và thời gian của các bên, Tòa án cũng giảm tải về số lượng các vụ án cần được giải quyết trong một thời gian nhất định theo luật2 Tuy nhiên, thực tiễn triển khai còn những tồn tại, hạn chế nhất định, cụ thể việc thực hiện đối thoại cũng gặp nhiều vướng mắc, trở ngại vì trên thực tế người bị kiện luôn viện các lí do để vắng mặt và

do đó đối thoại không thực hiện được tạo tâm lý bất bình, bức xúc cho người khởi kiện Vì vậy, để việc đối thoại trên thực tế đảm bảo hiệu quả, pháp luật tố tụng hành chính cần bổ sung quy định cụ thể về trách

nhiệm phải có mặt của người bị kiện trong phiên họp đối thoại, cũng như nâng cao trách nhiệm công vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính nói chung1

Đối với các quy định về việc giao nộp chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử, đây là lần đầu tiên pháp luật quy định về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại trong tố tụng hành chính Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính và sau này là Luật Tố tụng hành chính Việt Nam năm 2010 không quy định quyền của người khởi kiện trong việc tiếp cận ý kiến của người bị kiện và tài liệu, chứng cứ của người bị kiện (nếu có) Quy định này thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ tố tụng giữa người khởi kiện (người dân) và người bị kiện (chính quyền), và có thể ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan Khắc phục hạn chế này và quán triệt nguyên tắc công khai trong tố tụng hành chính, Luật Tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2019 đã quy định về việc bắt buộc phải

1 NCS ThS Nguyễn Thị Hà, Nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 18/2017, tr.22-31.

9

Trang 10

tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại Đây là phiên họp công khai các vấn đề liên quan đến chứng cứ và tổ chức đối thoại cho các bên

KẾT LUẬN

Quy định của Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm với chuẩn bị xét xử phúc thẩm có nhiều điểm mới tiến bộ, tạo thuận lợi cho người dân, có tác động tích cực trong việc kiểm soát nền hành chính Tuy nhiên, thực tiễn giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hành chính cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, giảm lòng tin của người dân đối với hiệu quả hoạt động xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hành chính Do đó, Luật tố tụng hành chính cần hoàn thiện quy định pháp luật đối với xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án hành chính một cách chặt chẽ và bao rộng Đảm bảo sự công bằng, khách quan, đúng đắn của quá trình xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho nhân dân

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam,

nxb công an nhân dân, Hà Nội, 2014

2 Luật tố tụng hành chính năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019

3 Phạm Hồng Thái – Bùi Tiến Đạt, Giáo trình Luật tố tụng hành chính Việt Nam, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

4 NCS ThS Nguyễn Thị Hà, Nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm vụ án hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp Số 18/2017, tr.22-31

10

Ngày đăng: 24/05/2022, 08:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w