1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên qua thực tiễn xét xử tại tòa án nhân dân tỉnh nghệ an

110 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 869,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ...38 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...46 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NGƯỜI CHƯA THÀNH NI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ HOÀI

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH

NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60.38.01.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS HOÀNG THẾ LIÊN

NGHỆ AN, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ HOÀI

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGHỆ AN, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Vinh, ngày 03 tháng 8 năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thị Hoài

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân đây tôi xin

được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành của mình

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thế Liên, thầy giáo đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian qua

Tôi xin bày tỏ cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại Học Vinh phòng đào tạo Sau Đại học, Khoa Luật đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới TAND Tỉnh Nghệ An, TAND TP.Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã

cỗ vũ, động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khóa học này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Vinh, ngày 03 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Thị Hoài

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS Bộ luật dân sự

BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự BLHS Bộ luật hình sự

BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

TAND Tòa án nhân dân

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

NCTN Người chưa thành niên

ADPL Áp dụng pháp luật

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HIỆN NAY 15

1.1 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân 15

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tội 15

1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên của TAND 21

1.1.3 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân dân Error! Bookmark not defined 1.2 Quy trình áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên của Toà án nhân dân 27

1.2.1 Giai đoạn thụ lý, nghiên cứu hồ sơ vụ án đánh giá về thủ tục tố tụng và chứng cứ 28

1.2.2 Giai đoạn lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng đối với bị cáo 31

1.2.3 Giai đoạn ban hành quyết định hoặc bản án hình sự 33

1.3 Nội dung và các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội .36

1.3.1 Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội .36

1.3.2 Các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 46

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI VỤ ÁN NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 47

2.1 Tình hình người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh Nghệ An 47

2.1.1 Những đặc điểm, tình hình có liên quan 47

2.1.2 Cơ cấu cán bộ và tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 48

2.1.3 Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở tỉnh Nghệ An 48

Trang 7

2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành

niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 53

2.2.1 Những kết quả đạt được trong quá trình áp dụng pháp luật để xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 54

2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 57

2.2.3 Những vướng mắc trong áp dụng pháp luật để xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân nói chung và ở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nói riêng 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN NGHỆ AN 81

3.1 Quan điểm bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ở Tòa án nhân dân Nghệ An 81

3.2 Một số giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên phạm tội ở Tòa án nhân dân Nghệ An 83

3.2.1 Những giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên ở Tòa án nhân dân nói chung 83

3.2.2 Những giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên ở Tòa án nhân dân Nghệ An .95

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Áp dụng pháp luật (ADPL) trong lĩnh vực hình sự là một hoạt động được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện một cách thường xuyên mỗi khi có hành

vi phạm tội xảy ra Tuy nhiên, để phân tích đúng tính chất, mức độ lỗi của hành

vi phạm tội là một vấn đề phức tạp, đặc biệt là đối với bị cáo là người chưa thành niên (NCTN) Thực tế đã có nhiều vụ án bị cáo là NCTN được đưa ra xét

xử nhưng do còn tồn tại nhiều ý kiến trái ngược nhau nên gây băn khoăn trong

dư luận xã hội, thậm chí có những vụ án có kháng cáo, kháng nghị kéo dài làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử

Cùng với công cuộc đổi mới hội nhập phát triển của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có nhiều chuyển biến, phát triển tích cực Bên cạnh những thành tựu đã đạt được như nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp được hình thành, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng thì tác động của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiều hành vi phạm tội mới, trong đó tội phạm do bị cáo là NCTN gây ra có những diễn biến hết sức phức tạp, những hành vi trên không chỉ diễn ra ở thành thị mà nó đã lan rộng ra địa bàn vùng sâu vùng xa Số lượng bị cáo là NCTN năm sau cao hơn năm trước, tính chất mức độ hành vi phạm tội ngày càng nghiêm trọng nhưng hoạt động ápdụng pháp luật trong xét xử đối với các tội phạm do NCTN thực hiện vẫn còn bộc lộ những bất cập, hạn chế dẫn đến một số vụ án bị Tòa án cấp trên sửa hoặc hủy, quyền của bị cáo là NCTN chưa được tôn trọng và bảo vệ, tác dụng giáo dục, phòng ngừa tội phạm do NCTN gây ra bị hạn chế Trước những đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm do NCTN thực hiện việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân dân nói chung

và của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An là điều cần thiết, có ý nghĩa sâu sắc cả

về lý luận cũng như thực tiễn ADPL để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong tố tụng hình sự và các giải pháp đặc

Trang 9

thù áp dụng tại địa phương, góp phần ngăn chặn tình trạng bị cáo là người chưa

thành niên một cách hiệu quả Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

- Qua thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An" làm luận văn

thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu của Luận văn

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến bị cáo là NCTN và ADPL trong xét xử hình sự, xét xử bị cáo là NCTN đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành, công bố trong nhiều công trình khoa học Có một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng dạy, bài viết trên tạp chí và một số sách chuyên khảo đã nghiên cứu về vấn đề này

Cụ thể có những công trình tiêu biểu sau đây:

- Một số sách chuyên khảo và một luận án, luận văn đề cập đến áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật của TAND trong xét xử hình sự và áp dụng pháp luật đối với bị cáo là người chưa thành niên:

- GS.TSKH Đào Trí Úc trong “Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật” đã đi sâu phân tích về áp dụng pháp luật và hoạt động xét xử của TAND

- Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình Phạt Tù Đối Với Người Chưa Thành Niên Phạm Tội - Lý Luận Và Thực Tiễn Áp Dụng, luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Đỗ Xuân Hồng (2014), Xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên theeo luật tố tụng hình sự Việt nam, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Lê Xuân Anh (2014), Áp dụng pháp luật trong xét sử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội - Qua thực tiễn tỉnh Thanh Hoá, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Nguyễn Thu Huyền (2017),Thủ tục xét xử những vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 10

- Vũ Thị Mỹ Hạnh(2017), Thủ tục xét xử bị cáo là người chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

- Trần Hưng Bình (2013), Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, luận án Tiến sỹ luật học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Học viện khoa học và xã hội

- Nguyễn Hữu Thế Trạch (2014), Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam, luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh

- Võ Quốc Tuấn (2017), Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động xét

xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, luận án Tiến sỹ luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết và các công trình trên nói chung đã làm rõ một số khía cạnh

lý luận và thực tiễn liên quan đến áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối

với người chưa thành niên phạm tội Các công trình nghiên cứu đã làm rõ một

số nội dung liên quan đến đến áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội, tuy nhiên, để nghiên cứu một cách đầy đủ và

có hệ thống dưới góc độ lý luận và thực tiễn về đến áp dụng pháp luật trong xét

xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An thì rất cần một công trình nghiên cứu cụ thể Đó cũng chính là lý do để học viên chọn chủ đề này làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN Tuy nhiên, đây là một vấn đề mới, rất phức tạp, nên tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn của việc APPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án người phạm tội là NCTN được TAND tỉnh Nghệ An xét xử, từ năm 2012 đến năm 2016

Trang 11

3.1 Đối tượng nghiờn cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

- Cỏc quan điểm khoa học về ỏp dụng phỏp luật trong xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn

- Cỏc quy định phỏp luật về ỏp dụng phỏp luật xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn ở tỉnh Nghệ An

- Thực tiễn ỏp dụng phỏp luật trong xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn ở tỉnh Nghệ An

3.2 Phạm vi nghiờn cứu

- Phạm vi nội dung: Do vấn đề ỏp dụng phỏp luật trong xột xử người chưa thành niờn phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn cú phạm vi rộng nờn trong khuụn khổ của luận văn thạc sĩ tỏc giả chỉ tập trung nghiờn cứu cỏc nội dung liờn quan đến vấn đề lý luận và phỏp luật về ỏp dụng phỏp luật trong giai đoạn xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn

- Phạm vi khụng gian: Nghiờn cứu tổ chức, hoạt động và thực tiễn ỏp dụng phỏp luật trong xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn

ở tỉnh Nghệ An

- Phạm vi thời gian: Áp dụng phỏp luật trong xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội là hoạt động liờn tục, thường xuyờn của Tũa ỏn nhõn dõn Do đú, trong khuụn khổ của luận văn thạc sĩ tỏc giả chỉ nghiờn cứu hoạt động ỏp dụng phỏp luật trong xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn phạm tội từ thực tiễn xột xử của Toà ỏn nhõn dõn cấp ở tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian năm từ 2011 đến 2016

4 Mục đớch và nhiệm vụ của Luận văn

4.1 Mục đớch nghiờn cứu

Luận văn nhằm xõy dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất cỏc giải

phỏp đảm bảo ỏp dụng phỏp luật trong xột xử sơ thẩm người chưa thành niờn

phạm tội của Tũa ỏn nhõn dõn ở tỉnh Nghệ An hiện nay

4.2 Nhiệm vụ của luận văn:

Thực hiện mục đớch trờn, luận văn giải quyết cỏc nhiệm vụ sau:

Trang 12

Một là: Phân tích khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật, các giai đoạn áp dụng pháp luật và các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử

sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

Hai là: Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An trong thời gian vừa qua Làm rõ những ưu điểm, tồn tại và những nguyên nhân của ưu điểm, tồn tại của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An

Ba là: Đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà

án nhân dân ở tỉnh Nghệ An đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo chủ trương của Đảng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; các quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề đảm bảo áp dụng pháp luật trong động xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân nói chung và của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích - tổng hợp, lịch sử - cụ thể;

Trang 13

- Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật trong động xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân nói chung và của Tòa án nhân dân cấp ở tỉnh Nghệ An nói riêng;

- Thống kê, so sánh, phân tích số liệu liên quan đến việc giải quyết án người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân nói chung và của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An nói riêng giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 9/2016

- Nghiên cứu điển hình các trường hợp áp dụng pháp luật cụ thể trong quá trình xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội, công tác áp dụng pháp

luật trong thi hành án dân sự kết hợp các phương pháp đàm thoại (trao đổi ý kiến với

những chuyên gia đầu ngành, những người làm công tác thực tiễn lâu năm)

- Phương pháp thống kê xã hội học

6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn

- Luận văn đóng góp vào việc phân tích làm sáng tỏ các đặc điểm của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An giai đoạn từ tháng 9/2012 đến tháng 9/2016

- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An trong thời gian qua, rút ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

- Luận chứng các giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Toà án nhân dân ở tỉnh Nghệ An

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Luận văn là một công trình nghiên cứu một cách toàn diện,

có hệ thống về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội, do vậy kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ lý luận về áp dụng pháp luật, nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác xét xử án hình sự nói chung và xét xử các vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội nói riêng đồng thời làm phong phú thêm cơ

sở khoa học về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử đối với tội phạm là người chưa thành niên đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách Tư pháp

Trang 14

- Về mặt thực tiễn: Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận của bản thân để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác;

là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định trong việc nghiên cứu giảng dạy Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật và các cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân Tạo cơ sở cho việc thống nhất trong nhận thức

về áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án người chưa thành niên phạm tội đạt hiệu quả Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh có thể khai thác những nghiên cứu của Luận văn về giải pháp áp dụng pháp luật trong xét xử án hôn nhân và gia đình

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dung pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân hiện nay

Chương 2: Tình hình người chưa thành niên phạm tội và thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án có bị cáo là người chưa thành niên ở Tòa án nhân dân Nghệ An

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT

XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI CỦA

TÒA ÁN NHÂN DÂN HIỆN NAY 1.1 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân

1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên và người chưa thành niên phạm tội 1.1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên

Thuật ngữ người chưa thành niên được dùng phổ biến trong các ngành khoa học khác nhau như: Luật học, Xã hội học, Tâm lí học, Giáo dục học… Dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành tự đặt ra cho mình những mục đích khác nhau liên quan đến người chưa thành niên

Theo từ điển tiếng Việt thì khái niệm người chưa thành niên được định

nghĩa như sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân" [30] Theo quy định tại điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em

năm 1989 thì "trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [21]

Bên cạnh công ước năm 1989 về quyền trẻ em thì quy tắc tối thiểu phổ biến của liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (quy tắc Bắc Kinh) do đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 14.12.1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm "NCTN là người dưới 18 tuổi" như là một sự kế thừa của Công ước về quyền trẻ em năm 1989 Quy định Riát về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN được Liên Hợp quốc thông qua ngày 14.12.1990 mặc dù không đưa ra một cách cụ thể về khái niệm NCTN, song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu NCTN là người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm NCTN ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì công ước về quyền trẻ em năm 1989 vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho

Trang 16

các nước quy định về độ tuổi cho NCTN, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này

Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về NCTN, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật, như sau:

Khoản 1 Điều 21 BLDS 2015 Việt Nam quy định: "người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên" và Bộ luật lao động Việt Nam cũng quy định: "người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" Như vậy, có thể thống nhất một quan điểm là NCTN

là người dưới 18 tuổi Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 mà Nước Cộng hòa xã hội chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên

Tóm lại, khái niệm người chưa thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hoá bằng giới hạn độ tuổi trong các văn bản pháp luật của từng quốc gia Theo đó, người

ta quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của người chưa thành niên

Như vậy, về khái niệm: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền

và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên

Ở Việt Nam, tuổi kết nạp Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh là từ 10 đến 15 tuổi, tuổi kết nạp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là từ 15 đến 30 tuổi Trong tuổi Đoàn gọi là thanh niên, trong tuổi Đội là thiếu niên, dưới tuổi Đội gọi là nhi đồng Ở mỗi lứa tuổi, người chưa thành niên được Nhà nước và

xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục để phát triển tốt nhất về thể chất

và nhân cách, trở thành người khỏe mạnh, có ích cho xã hội

1.1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội

Cho đến nay, trong các văn bản pháp luật hình sự vẫn chưa có khái niệm chính thức nào về “người chưa thành niên phạm tội”

Trang 17

Trong Luật hình sự Việt Nam giai đoạn sau năm 1945 đến trước khi BLHS năm 1985 có hiệu lực chỉ mới có quan niệm về “người vị thành niên”,

bên cạnh đó là quy định về giới hạn tuổi chịu TNHS Theo đó, “người vị thành niên được hiểu là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi.”[32]

Còn về giới hạn độ tuổi TNHS, qua hướng dẫn tại Chỉ thị số 46-TH ngày 14/01/1969 của Tòa án nhân dân Tối cao và Báo cáo tổng kết 4 năm 1965 –

1968 của Tòa án nhân dân Tối cao đã xác định độ tuổi bắt đầu phải chịu TNHS

là từ 14 tuổi [33]

Như vậy, có thể hiểu người chưa thành niên phạm tội là những người từ 14 đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự bị coi là tội phạm

và phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của pháp luật

Trong luật hình sự giai đoạn từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực đến trước khi BLHS năm 1999 có hiệu lực – Từ 01/01/1986 đến 1/7/2000 (sau đây gọi tắt

là giai đoạn BLHS năm 1986 có hiệu lực) Mặc dù trong BLHS năm 1985 không có điều luật nào trực tiếp ghi nhận khái niệm “người chưa thành niên phạm tội” Tuy nhiên, thông qua một số quy định tại các Điều luật như: Điều 58

về “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự”, Điều 64, Điều 65 về quyết định hình phạt

tù có thời hạn đối với NCTN, có thế đưa ra khái niệm về NCTN phạm tội

Theo đó, NCTN phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm NCTN phạm tội thì

bị xử lí hình sự nhẹ hơn so với người đã thành niên

Trong Luật hình sự hiện hành (từ 1/7/2000 đến nay), mặc dù trong BLHS năm 1999 cũng không ghi nhận trực tiếp khái niệm “NCTN phạm tội”, nhưng khi đề cập đến thuật ngữ này, Điều 68 BLHS năm 1999 đã đưa ra giới hạn độ

tuổi của NCTN phạm tội: “NCTN từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi phải chịu TNHS theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của phận chung Bộ luật không trái với quy định của chương này” Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng

Trang 18

chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do

cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”

Từ những quy định trên, có thể khái quát một khái niệm về NCTN phạm tội

theo quy định của pháp luật hiện hành như sau: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm”

Vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật hình sự lại quy định người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu TNHS và người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về một số tội phạm nhất định? Quy định này của BLHS về mặt lý luận có thể hiểu, người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra vì người chưa đủ 14 tuổi, trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình thực hiện, chưa đủ khả năng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là

có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện Một hành vi được coi

là không có lỗi cũng tức là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu TNHS (loại trừ trách nhiệm hình sự) Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực TNHS đầy đủ Do

đó, họ cũng chỉ phải chịu TNHS về một số tội phạm (rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng) chứ không phải chịu TNHS về tất cả các tội phạm Quy định này cũng thể hiện chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước ta

Điều 50 BLTTHS hiện hành quy định bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử, như vậy, căn cứ vào quy định này và quy định tại điều 12

của BLHS về tuổi chịu TNHS nêu trên, thì có thể hiểu bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử

Việc xác định tuổi của bị cáo là NCTN rất quan trọng vì đây là căn cứ ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt đối với bị cáo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho NCTN Việc xác định tuổi của bị cáo còn giúp cơ quan

Trang 19

tiến hành tố tụng xác định được việc xét xử và áp dụng hình phạt đối với NCTN

Nguyên tắc xác định tuổi của NCTN theo Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT/VKSNDTC -TANDTC -BCA -BTP -BLĐTBXH ngày 12/7/2011 trong các trường hợp cụ thể Tuổi của bị cáo là NCTN do các cơ quan tiến hành tố tụng xác định theo quy định của pháp luật

Như vậy, người chưa thành niên phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình

Một là, có hành vi phạm tội do người chưa thành niên thực hiện

Hai là, người thực hiện hành vi phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự tương ứng với loại tội phạm và lỗi gây ra tội phạm

Ba là, người đó thực tế phải chịu trách nhiệm hình sự sau khi các cơ quan

có thẩm quyền cân nhắc tính cần thiết phải xử lý bằng hình sự mà không thể áp dụng các biện pháp tư pháp hoặc các biện pháp khác để quản lý, giáo dục và phòng ngừa tội phạm

Những điều kiện trên cũng cho thấy tầm quan trọng trong việc xác định tội phạm do người chưa thành niên gây ra Tội phạm do người chưa thành niên gây ra bao giờ cũng gắn liền với một người chưa thành niên có hành vi phạm tội

cụ thể nhưng không phải mọi trường hợp một người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm

Trang 20

Tội phạm do người chưa thành niên gây ra có những đặc điểm riêng so với tội phạm do người đã thành niên gây ra Tội phạm do người đã thành niên gây ra là những hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ dấu hiệu tội phạm và đủ yếu tố cấu thành tội phạm Tội phạm do người chưa thành niên gây ra ngoài những dấu hiệu và yếu tố pháp lý còn được xác định bằng sự nhận định, cân nhắc cụ thể của cơ quan có thẩm quyền khi quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Theo một số nghiên cứu khoa học, việc truy cứu trách nhiệm hình sự và

áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được xem là “cần thiết” khi hội đủ 3 điều kiện sau đây :

- Người chưa thành niên phạm tội có nhân thân xấu

- Tội phạm đã được thực hiện có tính chất nghiêm trọng

- Những biện pháp giáo dục, phòng ngừa như giáo dục tại xã, phường, đưa vào trường giáo dưỡng không có hiệu quả để cải tạo người chưa thành niên phạm tội mà cần áp dụng hình phạt đối với họ

Từ những phân tích trên có thể hiểu khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi người dưới 18 tuổi và người đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi

và lỗi của mình theo phán xét của cơ quan tiến hành tố tụng

Khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra không đồng nhất với khái niệm người chưa thành niên phạm tội nhưng hai khái niệm đó có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Khái niệm người chưa thành niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên) thực hiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm do người chưa thành niên gây ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã được thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt (người chưa thành niên)

Sở dĩ pháp luật quy định chính sách cho NCTN bởi vì xuất phát từ đặc trưng cơ bản của nhóm NCTN (vị thành niên) biểu hiện trước hết ở vị trí vai trò của nó trong đời sống xã hội cũng như trong chính cuộ đời của mỗi người Nếu

Trang 21

trong cuộc đời của mỗi người, tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng, giai đoạn bản lề có thể quyết định toàn bộ cuộc sống sau này của mỗi người thì trong xã hội, thế hệ vị thành niên bao giờ cũng đại diện cho một sự chuyển tiếp vào các thế hệ mới, hướng tới tương lai Nguồn nhân lực cho sự phát triển được nảy sinh

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với

bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân dân

1.1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân dân

“Xét xử” là từ Hán Việt được hiểu theo nghĩa là xem xét và phán xử

Theo từ điển Luật học 2006, xét xử là “hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” Xét xử là

hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án và Tòa án là cơ quan duy nhất được đảm nhiệm chức năng xét xử theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay Các Hiến pháp năm 1946, 1959,1980,1992, 2013 đã quy định rõ

về chức năng xét xử của Tòa án Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức TAND

quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án: “Tòa án xét xử những vụ án hình

sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật” Xét xử những vụ án hình sự là

một chức năng quan trọng của Tòa án, thông qua đó Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN và các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

Hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án là một khâu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự bao gồm điều tra, truy tố, xét xử Hoạt động xét xử vụ

án hình sự của Tòa án là một giai đoạn tố tụng độc lập, những phán quyết của Tòa án ngoài việc dựa trên những chứng cứ tài liệu được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trước đó còn phải dựa vào kết quả điều tra công khai tại phiên tòa để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật

Trang 22

Pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay xác định nguyên tắc hai cấp xét xử:

sơ thẩm và phúc thẩm, trong đó xét xử sơ thẩm là trọng tâm và có vai trò quan trọng trong hoạt động của Tòa án Xét xử sơ thẩm hình sự được hiểu là một giai đoạn tố tụng, bắt đầu từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án hình sự cùng bản cáo trạng hay quyết định truy tố do Viện kiểm sát chuyển đến và Tòa án vào sổ thụ lý, cho đến khi ra bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm để kết thúc quá trình giải quyết vụ án hình sự Bản án, quyết định hình sự sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm Nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì có hiệu lực thi hành

Theo quy định của pháp luật hình sự ở một số nước, việc xét xử người chưa thành niên phạm tội được tiến hành bởi các Tòa chuyên biệt Pháp luật hình sự Việt Nam trước đây không quy định mô hình Tòa án riêng biệt để xét

xử về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, kể từ khi Luật

tổ chức Tòa án nhân dân 2014 được sửa đổi, bổ sung thì Tòa án nhân dân tỉnh

và Tòa án nhân dân cấp huyện có Tòa chuyên trách là Tòa gia đình và người

chưa thành niên, việc thành lập Tòa này căn cứ theo yêu cầu thực tế xét xử ở

mỗi Tòa Thông tư số 01/2016/TT-CA ngày 21/1/2016 quy định, Tòa án gia đình và người chưa thành niên có thẩm quyền giải quyết một số nội dung trong

hình sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại dưới 18 tuổi

bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống, học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18 tuổi khác Tuy nhiên, hiện nay mô hình Tòa án gia đình và người chưa thành niên chỉ mới được thành lập tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, một số Tòa

án ở địa phương khác đang trong quá trình xây dựng các điều kiện cần thiết để thành lập mô hình Tòa này đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Có thể thấy, ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN của Tòa án là quá trình lựa chọn các quy phạm pháp luật (QPPL) thủ tục và QPPL nội dung để áp dụng đối với đối tượng có tính đặc thù - người từ đủ 14 tuổi đến

Trang 23

dưới 18 tuổi phạm tội trong một giai đoạn tố tụng độc lập là xét xử sơ thẩm Theo đó, có thể phân loại ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN thành những dạng sau đây dựa trên một số tiêu chí nhất định:

Dựa vào các loại QPPL áp dụng, chia thành: ADPL nội dung (QPPL hình sự); ADPL hình thức (QPPL tố tụng hình sự)

Dựa vào trình tự xét xử sơ thẩm với ý nghĩa là một giai đoạn tố tụng độc lập bao gồm nhiều bước (phân đoạn), chia thành: ADPL trong chuẩn bị xét xử

sơ thẩm của Tòa án; ADPL của HĐXX tại phiên tòa; ADPL của Tòa án sau phiên tòa sơ thẩm với ý nghĩa là để tổ chức thực hiện văn bản ADPL

Trên thực tế các dạng ADPL trong quá trình xét xử sơ thẩm đối với vụ

án hình sự thường đan xen giữa ADPL nội dung và ADPL hình thức; và ở bất cứ công đoạn nào cũng là việc áp dụng cùng lúc, trong một thể thống nhất luật hình thức và luật nội dung Chính vì vậy việc phân chia các dạng ADPL như đã nêu trên đây là tương đối và chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu khoa học

Từ những phân tích trên có thể hiểu, áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân dân là hoạt động được tiến hành tại giai đoạn đầu của quá trình xét xử được tiến hành bởi Hội đồng xét xử là những người có hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của người chưa thành niên, căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và quy phạm pháp luật hình sự đối với người chưa thành niên để xác định có hay không có tội phạm, quyết định một trách nhiệm hình sự giảm nhẹ trong trường hợp họ có tội

và trách nhiệm dân sự nếu trường hợp pháp luật có quy định nhằm trừng trị, giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm

Trang 24

1.1.3 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên của Tòa án nhân dân

Như vậy, trên cơ sở những đặc điểm của ADPL nói chung và xuất phát từ khái niệm ADPL trong xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN, kết hợp với thực tiễn của hoạt động xét xử có thể thấy áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN

của TAND có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người

chưa thành niên của Tòa án nhân dân là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước của Toà án có thẩm quyền lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử với HĐXX đảm bảo sự hiểu biết cần thiết để xử lý đúng đắn bị cáo là NCTN

Tòa án nhân dân là chủ thể ADPL Việc xét xử đối với mọi tội phạm nói chung và bị cáo là NCTN nói riêng đều được thực hiện bởi các Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm BLTTHS năm 2003 quy định Tòa án nhân dân cấp huyện (gọi tắt là toà án cấp huyện); Tòa án nhân dân cấp tỉnh (gọi tắt là toà án cấp tỉnh) được xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo thẩm quyền của mỗi cấp Trong hoạt động xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên thì chủ thể ADPL là HĐXX gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, với vai trò chính là Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, trong một số trường hợp cần thiết phải

có hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân (Điều 185 BLTTHS năm 2003)

Khác với hoạt động xét xử đối với các tội phạm khác do NCTN là những người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tâm lý, trình độ nhận thức còn hạn chế, thiếu bản lĩnh, khả năng kiềm chế chưa cao, dễ bị kích động lôi kéo nên khi xét xử HĐXX đòi hỏi phải do những Thẩm phán tiến hành tố tụng " có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của NCTN" (khoản 1 Điều 302 BLTTHS năm 2003) Đặc biệt là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh" (Điều 307 BLTTHS năm 2003)

Như vậy, Toà án thông qua HĐXX với vai trò của thẩm phán và hội thẩm thực hiện quyền lực Nhà nước giao cho HĐXX đồng thời phải đảm bảo những

Trang 25

yêu cầu về hiểu biết cần thiết của những người này trong hoạt động ADPL đối với bị cáo là NCTN Có như vậy mới đảm bảo hoạt động ADPL của Toà án đối với bị cáo là NCTN"chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội" (khoản 1 điều 36 BLHS năm 1999)

Thứ hai, ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN của Tòa án

nhân dân ngoài việc đảm bảo quy định chung còn phải tuân theo những quy định riêng chặt chẽ về trình tự thủ tục tố tụng đối với NCTN do BLTTHS quy định

ADPL trong xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN ngoài việc tuân thủ những quy định chung của BLTTHS về xét xử sơ thẩm còn phải tuân theo những quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với bị cáo là NCTN Pháp luật TTHS coi đây là thủ tục đặc biệt và quy định thành một chương riêng trong BLTTHS năm 1988 cũng như BLTTHS năm 2003, BLTTHS 2015 và đòi hỏi mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử phải tuân theo Theo đó, việc ADPL trong xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN về trình tự, thủ tục phải đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ các quy định của chương này đồng thời theo quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN là điều kiện đủ để Toà án ADPL về trình tự thủ tục trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN Tuy nhiên, khi Toà án ADPL về trình tự thủ tục (hay ADPL về luật hình thức) trong nhiều trường hợp cũng không thể không ADPL về luật nội dung bởi lẽ trong một số QPPL hình thức đã chứa đựng luật nội dung hoặc bao hàm các khái niệm đòi hỏi cả việc áp dụng QPPL nội dung mới có thể ra được quyết định ADPL đúng đắn Việc Toà án áp dụng các quy định của BLTTHS trong hoạt động xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN là điều kiện bắt buộc và là tiền

đề cho việc áp dụng các QPPL nội dung đồng thời đảm bảo các quyền của NCTN, nhằm thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước trong ADPL xử lý bị cáo là người chưa thành niên

Thứ ba, ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN của Toà án

là quá trình cá biệt hoá các QPPL hình sự đảm bảo các nguyên tắc xử lý bị cáo

là NCTN được BLHS quy định để xác định có hay không có tội phạm, quyết

Trang 26

định một trách nhiệm hình sự giảm nhẹ trong trường hợp họ có tội và trách nhiệm dân sự nếu trường hợp pháp luật có quy định

Áp dụng QPPL hình sự được xác định là nội dung chính của quá trình ADPL trong xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN của Toà án Quá trình này bao gồm nhiều bước, nhưng toàn bộ quá trình ADPL phải đảm bảo các nguyên tắc xử lý đối với bị cáo là NCTN được quy định tại điều 69 BLHS năm 1999 Khi ADPL, Toà án sẽ đối chiếu các yếu tố của một cấu thành tội phạm với hành vi thực tế của bị cáo đã gây ra để xác định bị cáo có phạm tội hay không, đây là bước lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng đối với bị cáo là NCTN

Quá trình lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng được Toà án tiến hành kể

từ khi thụ lý hồ sơ thông qua hoạt động nghiên cứu hồ sơ trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân và hoạt động xét xử của HĐXX tại phiên toà Toà án hay HĐXX căn cứ vào các chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra và việc điều tra của HĐXX tại phiên toà công khai để đi đến xác định bị can, bị cáo có phạm tội hay không, phạm vào tội gì, vi phạm điều khoản nào của BLHS

Sau khi đã lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo Toà án thông qua vai trò của thẩm phán và HĐXX để quyết định trách nhiệm hình sự được quy định ở phần chế tài của QPPL hình sự Phần chế tài này nằm trong điều khoản đã lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng, nhưng cũng có thể nằm ở khoản hoặc điều khoản khác của BLHS

Quyết định trách nhiệm hình sự là bước tiếp theo của quá trình ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN Những quy định về hình phạt được áp dụng đối với bị cáo là NCTN thể hiện rõ đường lối nhân đạo trong xử

lý bị cáo là NCTN chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm Hình phạt nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với họ là tù có thời hạn Song theo quy định tại Điều 74, Điều 75 BLHS năm 1999 thì mức hình phạt tù được giảm nhẹ

Trang 27

đáng kể so với người đã thành niên phạm tội và việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội được áp dụng có lợi cho NCTN

Xác định một mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo là NCTN ngoài việc tuân thủ triệt để các quy định riêng trên đây còn phải căn cứ vào các nguyên tắc chung của BLHS về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thân nhân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 45, 46, 48 BLHS; Việc tổng hợp hình phạt trong trường hợp NCTN phạm nhiều tội được thực hiện theo quy định chung tại Điều 50 BLHS năm 1999 Trong trường hợp có tội được thực hiện trước khi đủ

18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi thì áp dụng quy định tổng hợp hình phạt tại Điều 75 BLHS năm 1999 Có như vậy việc xác định một mức hình phạt cụ thể cho bị cáo là NCTN của Toà án mới đảm bảo chính xác, khoa học

và đúng pháp luật

Ngoài quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân người chưa thành niên theo độ tuổi, khi ADPL để giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự đối với bị cáo là NCTN, toà án còn phải căn cứ vào những quy định khác về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng được quy định từ Điều 584 đến Điều 593 BLDS năm 2015 để quyết định Như vậy, việc đảm bảo thực hiện các nguyên tắc xử lý đối với bị cáo là NCTN được BLHS quy định, cũng như các QPPL nội dung quy định về trách nhiệm dân sự của người chưa thành niên trong BLDS là nét đặc thù trong hoạt động ADPL của Toà án khi xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN

1.2 Quy trình áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên của Toà án nhân dân

Hoạt động ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN của Tòa

án là rất phức tạp, các vụ việc thực tế lại rất đa dạng và không giống nhau Việc ADPL là quá trình đồng thời áp dụng QPPL hình thức và QPPL nội dung Phần lớn các vụ án được giải quyết theo trình tự tố tụng đều đi đến phiên tòa xét xử

và ra được quyết định bằng một bản án Đây là quy trình đầy đủ và thông

Trang 28

thường của hoạt động ADPL trong xét xử sơ thẩm về hình sự nói chung Tuy nhiên, thực tế xét xử trong một số trường hợp Tòa án có thể không đi đến bản

án hình sự sơ thẩm mà bằng các văn bản ADPL khác giải quyết vụ án Chẳng hạn, Tòa án ra Quyết định đình chỉ vụ án mà không cần mở phiên tòa xét xử Việc phân chia các giai đoạn ADPL trong xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN cần phải dựa vào quy trình đầy đủ đồng thời dựa trên tiêu chí áp dụng các quy phạm nội dung được thực hiện phù hợp theo những quy định, nguyên tắc đặc thù của

áp dụng pháp luật đối với đối tượng bị áp dụng là bị cáo là NCTN Theo đó có thể phân thành các giai đoạn cụ thể sau:

1.2.1 Giai đoạn thụ lý, nghiên cứu hồ sơ vụ án đánh giá về thủ tục tố tụng và chứng cứ

Giai đoạn này được coi là giai đoạn mở đầu trong quá trình ADPL của Tòa án để giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử sơ thẩm Nó không đồng nhất với các giai đoạn (hay các bước) của hoạt động xét xử kế tiếp nhau như: chuẩn bị xét xử, xét xử tại tòa… mà là một giai đoạn của quá trình ADPL Mặc dù, BLTTHS năm 2003 không quy định cụ thể việc thụ lý hồ sơ vụ án hình sự Tuy nhiên, thực tế hoạt động tố tụng bao giờ cũng diễn ra việc tòa án tiếp nhận hồ sơ kèm theo văn bản truy tố của viện kiểm sát chuyển đến Việc tiếp nhận hồ sơ, ghi vào sổ theo dõi (sổ thụ lý) là những hành vi tố tụng ban đầu có ý nghĩa quan trọng cho công tác chuẩn bị xét xử của Tòa án Do đó, để thống nhất hoạt động tiếp nhận hồ sơ vào sổ thụ lý của Tòa án được liên ngành tư pháp Trung ương, TANDTC quy định và hướng dẫn như một trình tự thủ tục bắt buộc Theo thông

tư liên nghành số 07/TTLN ngày 15/9/1990 của TANDTC và VKSNDTC (Thông tư số 07/TTLN), khi nhận hồ sơ từ Viện kiểm sát chuyển sang, cán bộ Tòa án nhận hồ sơ (thông thường là Thư ký Tòa án) phải kiểm tra các bút lục trong hồ sơ, vật chứng (nếu có), đặc biệt phải chú ý xem có biên bản về việc kiểm sát đã giao bản cáo trạng cho bị can chưa

Theo qui định tại Điều 176 BLTTHS năm 2003, sau khi nhận hồ sơ vụ

án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ

Trang 29

để tìm ra các lý lẽ, chứng cứ buộc tội và gỡ tội để phán quyết khách quan, chính xác, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của người tham gia tố tụng và tiến hành các thủ tục cần thiết khác cho việc mở phiên tòa Trong thời gian chuẩn bị xét

xử sơ thẩm vụ án có bị cáo là NCTN việc nghiên cứu hồ sơ vụ án phải xác định được những vấn đề cơ bản sau:

- Vụ án có thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án (đã thụ lý) hay không; có cần tách nhập vụ án không?

- Những yêu cầu về thủ tục tố tụng đặc biệt đối với bị cáo là NCTN có đảm bảo theo đúng qui định hay không.Về thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố

đã đầy đủ và đúng quy định chưa Ví dụ như phải xem xét trong giai đoạn điều tra, truy tố đã đảm bảo qui định về quyền bào chữa cho bị cáo là NCTN và người đại diện hợp pháp của họ; đảm bảo việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, tổ chức nơi bị cáo là NCTN học tập, lao động và sinh sống (qui định điều 305, 306 BLTTHS năm 2003)

- Việc cần thiết áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Trong đó chú ý tới việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam trên cơ sở đảm bảo qui định về việc bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo là người NCTN qui định tại điều 303 BLTTHS năm 2003

- Ngoài ra, trong thời gian chuẩn bị xét xử cũng cần phải xem xét đã

có đủ tài liệu, chứng cứ xác định sự thật khách quan của vụ án chưa, hành vi của bị can, bị cáo có cấu thành tội phạm hay không, hành vi nguy hiểm cho

xã hội của NCTN đã đủ độ tuổi chịu TNHS theo qui định tại điều 12 BLHS chưa? Có thể miễn TNHS cho bị cáo là NCTN theo qui định tại khoản 2 điều

69 BLHS không? Có xác định được nguyên nhân và điều kiện phạm tội không?

- Có vật chứng, tang chứng nào cần xử lý trước khi xét xử hay không?

- Việc định tội, viện dẫn pháp luật để áp dụng trong bản cáo trạng đã đúng chưa?

Trang 30

- Việc đưa vụ án ra xét xử đã có căn cứ chưa hay cần trả hồ sơ lại để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hay đình chỉ vụ án?

- Nếu đưa vụ án ra xét xử thì xét xử trong quãng thời gian nào và địa điểm tại đâu? Vụ án xét xử công khai hay phải xét xử kín?

- Cần phải triệu tập những ai tham gia tố tụng tại phiên tòa khi đưa vụ án

Theo quy định của BLTTHS đối với phiên tòa mà bị cáo là NCTN có khác với phiên tòa thông thường Để việc xét xử diễn ra khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật phải có đại diện gia đình bị cáo, đại diện của nhà trường, tổ chức đoàn thanh niên…Đây là những đại diện nắm bắt tâm tư và

có khả năng hiểu biết tâm lý lứa tuổi này Theo quy định tại Điều 207 BLTTHS năm 2003 thì những người này khi tham gia phiên tòa có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ để bảo vệ NCTN Những ý kiến đó cần được HĐXX hết sức quan tâm để xác định rõ những vấn

đề thuộc về tâm lý lứa tuổi, trình độ nhận thức và điều kiện sinh sống, giáo dục của bị cáo là NCTN Khi mà trình độ hiểu biết và khả năng nhận thức của bị cáo

là bị cáo là NCTN còn hạn chế thì sự tham gia tố tụng và hoạt động tranh luận của những người này là sự đảm bảo quan trọng cho việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị cáo là NCTN; đồng thời nó thể hiện tính dân chủ khách quan trong đánh giá chứng cứ đối với các vụ án có bị cáo là NCTN Chính vì vậy chủ tọa phiên tòa và HĐXX phải tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tranh tụng tại

Trang 31

các phiên tòa xét xử bị cáo là người chưa thành niên theo đúng qui định về thủ tục tố tụng đối với NCTN Có như vậy việc đánh giá chứng cứ thông qua xét hỏi mới đảm bảo tính toàn diện khách quan, bảo vệ các quyền của bị cáo là NCTN và những người tham gia tố tụng khác

Bên cạnh đó, đối với các phiên tòa sơ thẩm xét xử bị cáo là NCTN, pháp luật tố tụng đã chú trọng ghi nhận quyền tranh luận của bị cáo thông qua quy định thực hiện quyền bào chữa cho bị cáo là NCTN qui định tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 305 BLTTHS năm 2003 Để các tình tiết khách quan của vụ án được làm sáng tỏ thì việc tranh tụng tại phiên tòa là cần thiết Tranh luận là sự đối đáp của các bên tham gia tại phiên tòa, thể hiện ý kiến, quan điểm của mình về các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ cũng như lý lẽ của bên buộc tội (trong đó có quan điểm buộc tội của viện kiểm sát); lý lẽ gỡ tội của bên bị cáo Theo qui định về tranh luận trong BLTTHS hiện hành thì những người tham gia tố tụng có quyền tranh luận với nhau và với kiểm sát viên giữ quyền công tố để chứng minh và bảo

vệ quyền lợi của mỗi người Đồng thời kiểm sát viên cũng có nghĩa vụ phải đáp lại những ý kiến có liên quan tới vụ án do những người tham gia tố tụng đưa ra Ví như người làm chứng, người phiên dịch nêu ý kiến đòi hỏi kiểm sát viên phải tiếp thu và trả lời Tất cả những hoạt động tranh luận tại phiên tòa trên phải tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa và HĐXX, trên cơ sở tôn trọng các bên tham gia tranh luận Có thể nói, HĐXX là người “ cầm cân nẩy mực” sẽ tiếp thu thông tin nhiều chiều và có sự chắt lọc khách quan để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác

về chứng cứ được đưa ra tại phiên tòa, đó chính là cơ sở để HĐXX xem xét giải quyết đúng đắn vụ án

Tóm lại, đây là giai đoạn đầu của quá trình ADPL của tòa án trong xét

xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN, nhưng đây là hoạt động chủ yếu chiếm phần lớn thời gian trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và có ý nghĩa quan trọng cho việc đạt tới mục đích ra văn bản ADPL luật của tòa án

1.2.2 Giai đoạn lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng đối với bị cáo

Trang 32

Khác với người đã thành niên phạm tội, bị cáo là NCTN là chủ thể chịu

sự tác động của việc ADPL của toà án là một loại đối tượng đặc biệt Đây là những người đang ở độ tuổi phát triển, mặc dù họ đã nhận thức được những đòi hỏi tất yếu của xã hội, nhưng trình độ nhận thức còn hạn chế, còn những nhận thức sai lệch về chuẩn mực xã hội, từ đó hình thành nên tính tiêu cực này không bền vững cao như ở người đã thành niên Điều đó chứng tỏ khả năng có thể cải tạo giáo dục bị cáo là NCTN đạt hiệu quả cao nếu ADPL phù hợp Do vậy khi Tòa án lựa chọn QPPL để áp dụng đối với bị cáo là NCTN phải đảm bảo các nguyên tắc trong xử lý được quy định tại điều 69 BLHS năm 1999

Việc lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng đối với bị cáo là NCTN cần đáp ứng những yêu cầu sau:

+ Xác định chính xác, đầy đủ và khách quan các tình tiết cụ thể của hành

vi phạm tội thực tế và hậu quả do hành vi đó gây ra cho quan hệ xã hội được BLHS quy định và bảo vệ - thông qua hoạt động chứng minh và việc tổ chức thực hiện các biện pháp tố tụng quy định trong BLTTHS

+ Nhận thức đúng đắn về cấu thành tội phạm tương ứng và các quy định

có tính nguyên tắc đối với bị cáo là NCTN được quy định trong BLHS Để thực hiện yêu cầu này, chủ thể lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng là HĐXX cần

có kiến thức pháp lý vững vàng, kinh nghiệm thực tiễn phong phú và còn phải

có sự hiểu biết những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Xác định được sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể được thực hiện với những mô tả trong cấu thành tội phạm tương ứng quy định tại BLHS

Tóm lại, lựa chọn QPPL áp dụng là hoạt động quan trọng của cơ quan

tiến hành tố tụng Đây là hoạt động có tính chất quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan Trong xét

xử sơ thẩm bị cáo là NCTN thì lựa chọn QPPL áp dụng với tư cách là một giai đoạn của ADPL, giai đoạn này có ý nghĩa trung tâm trong quá trình giải quyết

vụ án Đây là giai đoạn tiền đề cho việc quyết định TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Lựa chọn QPPL áp dụng đúng sẽ tạo cơ sở

Trang 33

cho việc chuyển hóa các qui định về TNHS đối với bị cáo là NCTN trong các QPPL hình sự được chính xác, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm do NCTN gây ra Tuy nhiên, việc lựa chọn và chuyển hóa QPPL hình

sự của tòa án vào văn bản ADPL trong giai đoạn lựa chọn QPPL áp dụng mới chỉ dừng lại ở mức vật chất hóa các qui định về tội phạm trong BLHS, còn việc chuyển hóa các qui định về hình phạt trong QPPL hình sự sẽ được giải quyết ở giai đoạn sau

1.2.3 Giai đoạn ban hành quyết định hoặc bản án hình sự

Sau khi đã xem xét, nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, khách

quan về thủ tục tố tụng và các chứng cứ trong vụ án hình sự, đồng thời lựa

chọn được QPPL hình sự để áp dụng HĐXX sẽ ban hành quyết định ADPL để xác định rõ trách nhiệm pháp lý bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với chủ thể bị ADPL

Trong xét xử sơ thẩm hình sự nói chung, xét xử sơ thẩm bị cáo là NCTN nói riêng, thông thường HĐXX quyết định ADPL bằng bản án hình sự sơ thẩm Bản án hình sự sẽ chính thức hóa việc bị cáo có tội hay không có tội bằng việc nêu rõ những căn cứ pháp lý và lập luận chặt chẽ Nếu bị cáo không phạm tội, bản án phải tuyên bố rõ và nêu căn cứ pháp lý áp dụng để quyết định bị cáo không phạm tội, đồng thời là việc ra quyết định khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo như công dân bình thường khác Còn trường hợp nếu bị cáo có tội HĐXX phải tuyên bố và nêu rõ tội danh, căn cứ áp dụng để quyết định TNHS và trách nhiệm pháp lý khác đối với bị cáo Tuy nhiên ở giai đoạn này không phải bao giờ cũng đi đến bản án hình sự Ngoài bản án HĐXX cũng có thể đi đến quyết định TNHS dưới hình thức văn bản ADPL là quyết định đình chỉ vụ án căn cứ theo quy định tại khoản 2 điều 199 BLTTHS năm

2003 Theo đó việc HĐXX ra quyết định đình chỉ vụ án được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản

HĐXX quyết định TNHS, hình phạt đối với bị cáo là NCTN trước hết vẫn phải bảo đảm các nguyên tắc chung của pháp luật hình sự Việt Nam, đó là:

Trang 34

nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc nhân đạo XHCN, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng Song do TNHS của bị cáo là NCTN có những đặc điểm khác biệt Vì vậy mà việc quyết định TNHS đối với họ cũng phải tuân theo những nguyên tắc riêng

TNHS của bị cáo là NCTN theo BLHS là trách nhiệm của người từ độ tuổi nhất định tùy theo loại tội mà họ vi phạm, có thể là từ 14 tuổi hoặc từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm TNHS của bị cáo là NCTN có đặc điểm là TNHS giảm nhẹ, tùy theo loại tội mà họ phạm tương ứng với độ tuổi của người đó thì sẽ chịu trách nhiệm pháp lý khác nhau Quá trình giải quyết tội phạm do NCTN gây ra phải được tiến hành theo một trình tự, thủ tục đặc biệt, với những nguyên tắc riêng chỉ áp dụng với bị cáo là NCTN Chính sách hình sự đối với bị cáo là NCTN cho phép chủ thể ADPL có thể miễn TNHS nếu đủ điều kiện qui định tại điều 69 khoản 2 BLHS Đó chính là lý do để trong quá trình xét xử tòa án, HĐXX có căn cứ xem xét, xác định người phạm tội được miễn TNHS hay không Để quyết định TNHS đối với bị cáo là NCTN, HĐXX phải chú ý đến các qui định tại chương X BLHS - Những qui định đối với bị cáo là NCTN Việc quyết định hình phạt tù đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi được thực hiện theo hướng dẫn tại tiểu mục 11.1 mục 11 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC (Nghị quyết 01) Các qui định trong Nghị quyết 01 xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo và công bằng trong hoạt động xét xử của tòa án Có như vậy bản án mới có tính răn đe và giáo dục cao

Việc quyết định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với bị cáo được thực hiện bằng văn bản ADPL có tính đặc thù là bản án hình sự sơ thẩm Khác với các loại quyết định ADPL thông thường, bản án hình sự sơ thẩm chỉ có Tòa án mới có quyền tuyên phạt; đó là quyết định tố tụng quan trọng do Tòa án nhân danh Nhà nước quyết định theo một trình tự, thủ tục đặc biệt nhằm giải

Trang 35

quyết vụ án hình sự, quyết định hình phạt và những vấn đề có liên quan trực tiếp đến tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Bản án hình sự sơ thẩm phán xử đối với bị cáo là NCTN là quyết định ADPL đặc thù chỉ do HĐXX ban hành để quyết định về tội phạm và hình phạt đối với đối tượng là bị cáo là NCTN Nó đồng thời giải quyết những vấn đề có liên quan trong vụ án bằng việc quyết định quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể cho các chủ thể liên quan Các quyết định trong bản án là sự thể hiện quyền uy của Nhà nước, được bảo đảm thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật bằng sự cưỡng chế thông qua các thiết chế thi hành án của cơ quan công quyền Việc tuyên bố tội phạm và hình phạt bằng bản án hình sự sơ thẩm đã đánh dấu sự kết thúc qui trình ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là NCTN

Với bản án tòa án tuyên có ý nghĩa như một quyết định ADPL đối với bị cáo là NCTN nên cần đảm bảo những yêu cầu sau:

- Bản án hình sự phải thể hiện được những lập luận có cơ sở pháp lý và

có tính thuyết phục cao khi chấp nhận hay bác bỏ những vấn đề liên quan trong

vụ án

- Bản án phải đảm bảo tính pháp chế và tính hợp pháp, có nghĩa là chủ thể ban hành phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định của BLTTHS, BLHS và các qui định khác liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự Chú trọng thực hiện đúng các qui định về thủ tục tố tụng đối với NCTN và nguyên tắc xử lý bị cáo là NCTN Những kết luận trong bản án phải đảm bảo các căn cứ vững chắc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khách quan của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và được HĐXX đánh giá là đúng sự thật

Bản án hình sự sơ thẩm có nội dung không chỉ thể hiện kết quả của quá trình xét xử sơ thẩm nói riêng mà còn là kết quả của cả quá trình tố tụng từ khi khởi tố, điều tra, truy tố Quyết định của bản án - điểm kết thúc của giai đoạn quyết định TNHS sự và trách nhiệm dân sự trong cả quá trình ADPL của tòa án

- là phần quan trọng nhất của bản án hình sự Quyết định của bản án hình sự sơ thẩm thường đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 36

- Tuyên bố bị cáo có phạm tội hay không Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và giải quyết luôn việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ Còn trường hợp nếu

bị cáo có tội thì phạm tội gì

- Trường hợp có tội cần nêu điều khoản nào trong BLHS được áp dụng

để xử phạt bị cáo, mức hình phạt áp dụng tương ứng với hành vi và hậu quả gây

ra cho xã hội Trường hợp không cần thiết phải áp dụng hình phạt thì tòa án quyết định một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng để người phạm tội có khoảng thời gian cần thiết suy ngẫm về những hành vi mình đã gây ra, sớm được tái nhập cộng đồng

- Trong bản án phải quyết định các biện pháp cần thiết để đảm bảo thi hành án phạt tù, phạt tiền (là hình phạt chính) và bồi thường thiệt hại

- Bản án cần ghi rõ quyết định về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng; quyết định về án phí hình sự và án phí dân sự

- Ghi rõ quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo qui định của pháp luật

Tóm lại, quyết định TNHS đối với bị cáo là NCTN là giai đoạn quan

trọng của qui trình ADPL Đây là giai đoạn đòi hỏi HĐXX cần khách quan, trình độ chuyên môn tốt để áp dụng pháp luật một cách chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

1.3 Nội dung và các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

1.3.1 Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội

BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình

sự Việt Nam, phát huy thành tựu của BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) Sau hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội

Trang 37

phạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Bên cạnh đó, BLHS năm

1999 đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế nên ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2015 Tuy nhiên, đến nay thì BLHS chưa có hiệu lực thi hành

BLHS gồm có 26 chương với 426 điều, được thiết kế thành 03 phần Phần thứ nhất: Những quy định chung (gồm 12 Chương, từ Điều 01 đến Điều 107); Phần thứ hai: Các tội phạm (gồm 14 Chương, từ Điều 108 đến Điều 425); Phần thứ ba: Điều khoản thi hành (gồm 01 Chương và 01 điều - Điều 426) Tuy nhiên đối với người chưa thành niên thì có một số loại tội phạm không thể bị áp dụng pháp luật để xét xử vì đó là các loại tội phạm chỉ xảy ra với chủ thể có tư cách đặc biệt như “Tội tham ô tài sản”, “Tội ra bản án trái pháp luật”… Nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội cho thấy việc áp dụng pháp luật thường diễn ra ở các nội dung sau:

- Theo đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên và thực tiễn xét

xử thì trong số các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện thì loại tội phạm chiếm tỷ lệ cao nhất là tội trộm cắp tài sản, đây là loại tội phạm người chưa thành niên thực hiện rất phổ biến, thủ đoạn phạm tội thường ít có tính chất tinh vi xảo quyệt, thông thường người phạm tội thấy có sơ hở trong việc quản lý tài sản là tiến hành chiếm đoạt ngay, từ đó cho thấy tính chất cơ hội trong hành

vi trộm cắp của người người chưa thành niên để có phương hướng xử lý, giáo dục cho phù hợp

- Tội cướp tài sản và cướp giật tài sản thường được thực hiện bởi những người chưa thành niên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các loại phim ảnh hành động,

dễ bị kích động nên có hành vi bạo lực, thông thường hành vi phạm tội có tính chất trắng trợn, lợi dụng số đông gây áp lực hoặc sử dụng bạo lực, hung khí để chiếm đoạt tài sản

- Tội giết người, tội cố ý gây thương tích là những loại tội phạm chiếm

Trang 38

tỷ lệ tương đối cao trong số loại tội phạm mà người chưa thành niên phạm tội Đây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà người chưa thành niên đã gây ra, tạo dư luận xấu trong xã hội Về động cơ, mục đích phạm tội có khác nhau, có thể do mâu thuẫn, thù tức nhau, có thể do nghịch ngợm, có thể do thiếu hiểu biết pháp luật, không nhận thức được đầy đủ về việc làm của mình dẫn đến việc phạm tội

- Tiếp đến trong số các loại tội phạm do người chưa thành niên thực hiện

là tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em Đây là loại tội phạm chiếm tỷ lệ tương đối lớn

ở người chưa thành niên và là một trong những loại tội phạm nghiêm trọng mà người chưa thành niên mắc phải, hầu hết họ phạm vào tội này là do ảnh hưởng của văn hóa phẩm đồi trụy vẫn đang được lén lút lưu hành Sự lan truyền của các luồng văn hóa phẩm độc hại và do sự yếu kém trong việc quản lý của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội Đây còn là vấn đề cho thấy sự thiếu quan tâm, giáo dục của gia đình và xã hội đối với người chưa thành niên, dẫn đến việc các em có hành vi phạm tội do thiếu hiểu biết pháp luật hoặc do coi thường pháp luật

1.3.2 Các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân

Bảo đảm, theo nghĩa chung nhất là "làm cho chắc chắn thực hiện được một việc gì đó" Áp dụng pháp luật trong ở giai đoạn xét xử đối với vụ án

người chưa thành niên phạm tội là hoạt động phức tạp, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp là NCTN, đó là những người còn trong độ tuổi phát triển về nhân cách, thể chất, tâm lý nên rất dễ bị tổn thương Để nâng cao chất lượng ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với vụ án NCTN phạm tội, theo chúng tôi, phải đáp

ứng được các đảm bảo dưới đây:

1.3.2.1 Trình độ, năng lực chủ thể áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội

Để đảm bảo áp dụng pháp luật đúng đắn, có hiệu quả, ngoài hệ thống pháp luật hoàn chỉnh với các quy định cụ thể được giải thích và hướng dẫn thực

Trang 39

hiện, nhân tố có ý nghĩa quyết định việc áp dụng pháp luật là chủ thể áp dụng pháp luật Trong hoạt động của Tòa án nhân dân xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội thì chủ thể áp dụng pháp luật là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân

Như chúng ta đã biết người chưa thành niên là người còn có hạn chế về năng lực chủ thể, thường nông nổi, hiếu thắng nên dễ phạm sai lầm, thậm chí phạm tội; nhưng cũng dễ sửa chữa, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội

và gia đình Xuất phát từ quan điểm trên mà pháp luật Tố tụng hình sự đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là những chủ thể áp dụng pháp luật trong xét xử người chưa thành niên phạm tội Ngoài năng lực chuyên môn của một Thẩm phán thông thường còn phải có những kiến thức cần thiết về tâm lý học, nhất là tâm lý học lứa tuổi người chưa thành niên và khoa học giáo dục để họ có thái

độ, tình cảm đúng mực khi xử lý vụ án Ngoài trách nhiệm thực hiện đúng các qui định của pháp luật, thì thái độcảm thông, tình yêu thương, bao dung đối với các em sẽ giúp cho việc phân tích, đánh giá đúng các tình tiết của vụ án và áp dụng giải quyết vụ án thấu tình đạt lý Chính lẽ đó mà Bộ luật tố tụng hình sự qui định tiêu chuẩn của người tiến hành tố tụng nói chung và Thẩm phán nói riêng phải đáp ứng điều kiện khi tiến hành tố tụng những vụ án có người chưa thành niên thì cần hiểu biết về tâm lý học, khoa học giáo dục (Điều 423- Bộ luật

tố tụng hình sự năm 2015) Mặt khác, trong luật còn qui định rõ thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (Điều 423 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) Nếu tuyệt đối hóa các qui định của pháp luật, thì trong xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội, Hội đồng xét xử phải đảm bảo các yêu cầu và tiêu chuẩn nêu trên mới bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật Tuy nhiên, các tiêu chuẩn đặt ra đối với Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân lại không cụ thể rõ ràng Trên thực tế về mặt hình thức yêu cầu Hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thì tiêu chuẩn khả năng hiểu biết tâm lý học, khoa học giáo dục khó mà xác định và thực hiện được Điều này đã ảnh hưởng không tốt tới hoạt động áp dụng pháp

Trang 40

luật và hiệu quả của nó Do vậy, việc xác định Tòa chuyên trách xét xử người chưa thành niên phạm tội, đồng thời tiêu chuẩn hóa các yêu cầu cần thiết cho những người tiến hành tố tụng trong vụ án có người chưa thành niên phạm tội là đúng đắn và cần được thực hiện trên thực tế

Tiêu chuẩn cơ bản đối với Thẩm phán và Hội thẩm được quy định cụ thể trong các Điều luật ở Chương VII và Chương VII Luật Tổ chức Tòa án năm

2014

Tuy nhiên, trong các tiêu chuẩn để được bổ nhiệm làm Thẩm phán, được bầu hoặc cử làm Hội thẩm không có tiêu chuẩn về hiểu biết tâm lý lứa tuổi hay khoa học giáo dục và hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của người chưa thành niên Vì vậy trên thực tế nó đã không phải là tiêu chuẩn bắt buộc cần

có của Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử người chưa thành niên phạm tội Để nhằm bảo đảm trong thành phần Hội đồng xét xử có người ít nhiều hiểu biết về tâm lý lứa tuổi hay khoa học giáo dục nên Bộ luật tố tụng hình sự quy định thành phần Hội đồng xét xử phải có một Hội thẩm là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Đây là quy định bắt buộc, do đó nếu thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội không có những người này là vi phạm thủ tục tố tụng

Ngoài các tiêu chuẩn nêu trên là điều kiện cần có thì những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của người chưa thành niên là điều kiện đủ để chủ thể áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội được đúng đắn, khách quan

1.3.2.2 Thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các thủ tục tố tụng trong xét xử các vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội

Trong các loại chủ thể của tội phạm được Bộ luật hình sự qui định, thì người chưa thành niên phạm tội là chủ thể được xem dễ bị tổn thương, ít khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình nhất Chính vì vậy mà pháp luật về nội dung (Bộ luật hình sự) có những qui định riêng xác định trách nhiệm hình sự giảm

Ngày đăng: 25/08/2021, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
31. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học. Trường đại học Luật Hà nội. NXB Công an nhân dân. 1999. Tr 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
Nhà XB: NXB Công an nhân dân. 1999. Tr 148
34. GS.TSKH Đào Trí Úc, “Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật” đã đi sâu phân tích về áp dụng pháp luật và hoạt động xét xử của TAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật
35. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Lí luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2013
36. Nguyễn Minh Đoan (2009), Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
37. Nguyễn Thị Hồi (chủ biên), Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
38. Nguyễn Tất Viễn: “Tòa án người chưa thành niên”, Tạp chí Vì trẻ thơ, số chuyên đề, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án người chưa thành niên
41. Trần Văn Dũng: “Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội”, Tạp chí luật học số 5/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội
42. Chương Minh Mạnh: “Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên” Tạp chí kiểm sát số 8/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên
22. Thông tư liên nghành số 07/TTLN ngày 15/9/1990 của TAND TC và VKSNDTC Khác
23. Thông tư số 01/2011/TTLT ngày 12/7/2011của VKSNDTC, TANDTC, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Lao động Thương binh và xã hội Khác
24. Thông tư 01/2016/TT-CA ngày 21/01/2016 của TAND Tối cao 25. Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 01/01/2002 của Bộ chính trị Khác
26. Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao Khác
27. Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Khác
28. Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC Khác
29. Nghị quyết số 08 -NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 16/1/2017 B. Các tài liệu tham khảo Khác
32. Hoàng Việt luật lệ, do Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Văn Thi dịch, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998 Khác
33. Trần Văn Dũng, Những đặc điểm cơ bản về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, tạp chí Tòa án nhân dân số 22/2005, tr 12 - 20 Khác
43. Lê Xuân Thân(2004), Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, luận án Tiến sỹ luật học Khác
44. Vũ Thị Thu Quyên (2003), Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền của bị cáo là người chưa thành niên ở Việt Nam hiện nay, luận văn Thạc sỹ luật học Khác
45. Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình Phạt Tù Đối Với Người Chưa Thành Niên Phạm Tội - Lý Luận Và Thực Tiễn Áp Dụng, luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w