6 VADS là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Huy Cương
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC (ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG)
Hà Nội – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là do chính tôi thực hiện
Toàn bộ các tài liệu, cơ sở pháp lý, các dẫn chứng số liệu đƣợc tôi sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn đều đảm bảo chính xác, trung thực theo yêu cầu của một luận văn khoa học
Tác giả
Đặng Minh Hạnh
Trang 4TAND:
TANDTC:
HĐTP:
UBND VADS HSVADS:
Tòa án nhân dân tối cao Hội đồng Thẩm phán
Ủy ban nhân dân
Vụ án dân sự
Hồ sơ vụ án dân sự Xây dựng hồ sơ vụ án dân sự Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ TẠO LẬP KỸ NĂNG XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN DÂN SỰ 6
1.1 Vụ án dân sự và nhiệm vụ, quyền hạn chung của thẩm phán trong xét xử vụ án dân sự 6
1.1.1 Khái niệm VADS 6
VADS là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bao gồm: Các tranh chấp về dân sự, các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, các tranh chấp về kinh doanh thương mại và các tranh chấp về lao động (được qui định tương ứng tại các điều 26, 28, 30 và 32 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) 6
1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong VADS 6
1.2 Hồ sơ vụ án dân sự và các văn bản pháp lý quy định hồ sơ vụ án dân sự 8
1.2.1 Khái niệm HSVADS 8
1.2.2 Khái niệm về xây dựng HSVADS 9
Xây dựng hồ sơ vụ án dân sự là việc Tòa án thực hiện các thủ tục do BLTTDS quy định để xác minh, thu thập chứng cứ nhằm giải quyết yêu cầu khởi kiện của đương sự, bảo đảm đúng pháp luật 9
1.2.3 Các qui định của pháp luật đối với HSVADS 9
1.2.4 Các văn bản pháp lý hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng HSVADS 10
1.3 Các qui định cụ thể của pháp luật đối với hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 10
1.3.1 Quy định về hồ sơ khởi kiện và thụ lý VADS 11
1.3.2 Quy định về xác định tư cách đương sự trong vụ án 15
1.3.3 Quy định về tài liệu, chứng cứ trong VADS 19
1.3.4 Quy định về thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự 23
CHƯƠNG 2 30
Trang 6KỸ NĂNG CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC XÂY DỰNG HỒ SƠ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN 302.1 Các kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS để chuẩn bị xét
xử sơ thẩm 30
2.1.1 Kỹ năng kiểm tra hồ sơ khởi kiện VADS 30 2.1.2 Kỹ năng thông báo về việc thụ lý VADS 31 2.1.3 Kỹ năng yêu cầu và tiếp nhận ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án 32 2.1.4 Kỹ năng xem xét và chấp nhận yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự trong vụ án 33 2.1.5 Kỹ năng xem xét và xử lý việc rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu của các đương sự trong vụ án 36 2.1.7 Kỹ năng yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ của vụ án 38 2.1.8 Kỹ năng thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật
tố tụng dân sự để xây dựng hồ sơ vụ án dân sự 41 2.1.9 Kỹ năng hòa giải để các đương sự thống nhất với nhau về chứng cứ trong VADS
582.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử VADS 60
2.2.1 Những yếu tố khách quan 60 2.2.2 Những yếu tố chủ quan 63
2.3 Những khiếm khuyết trong hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm tại các tòa án trong thời gian qua 64
2.3.1 Một số khiếm khuyết trong hoạt động xây dựng hồ sơ giải quyết tranh chấp dân sự: 64 2.3.2 Một số khiếm khuyết trong hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình:
67
2.3.3 Một số khiếm khuyết trong hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại: 68
Kết luận chương 2 69CHƯƠNG 3 71
Trang 7GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN, NÂNG CAO CÁC KỸ NĂNG XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM 713.1 Những yêu cầu hoàn thiện và nâng cao kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 713.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 713.3 Một số kiến nghị cụ thể 72
3.3.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật 72 3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức các cơ quan nhà nước, trong đó chú trọng việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước để nâng cao hiệu quả việc giải quyết các VADS 76
KẾT LUẬN 78DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án tại tòa án nhân dân có thẩm quyền, thì hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án là nhiệm vụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được của Thẩm phán trong quá trình giải quyết VADS HSVADS có thể hiểu là tập hợp các tài liệu, chứng cứ được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Toà án hoặc do Toà án thu thập được theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định mà Toà án dùng làm căn
cứ để giải quyết vụ án
Hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình giải quyết VADS, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật Có thể thấy rằng, hoạt động xây dựng HSVADS ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi lẽ đây là giai đoạn đầu tiên giải quyết tất cả các vấn đề cơ bản nhất của VADS, có sự tham gia của tất cả những người tham gia tố tụng và thực hiện tất cả các nguyên tắc của BLTTDS
Vì vậy, xây dựng HSVADS chính là việc xác minh, thu thập chứng cứ Thẩm phán có nhiệm vụ đánh giá toàn bộ chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ
án Việc đánh giá chứng cứ có đúng đắn, khách quan và toàn diện phụ thuộc vào việc thu thập chứng cứ có đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật Trách nhiệm của Thẩm phán là phải đảm bảo trong hồ sơ vụ án có đầy đủ chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án Trách nhiệm của thẩm phán là xem xét, toàn diện đầy
đủ tất cả các vấn đề của vụ án và giải quyết vụ án đảm bảo khách quan, công bằng, đúng pháp luật Vì vậy, hoạt động xây dựng HSVADS yêu cầu những kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm của thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án
Hiện nay, hoạt động xây dựng hồ sơ vụ án của Thẩm phán chỉ được thực hiện khi VADS đã được thụ lý và bị giới hạn bởi yêu cầu của các đương sự trong
vụ án Vì thế, để việc xét xử được khách quan, toàn diện và đúng quy định của pháp luật thì người Thẩm phán không những phải nắm vững các quy định của
Trang 10Nguyễn Quang Hiền (2012), Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật: lý luận và thực tiễn Tạp chí
Tòa án nhân dân số 19/2012, tr 1-5
Nguyễn Thị Hằng (2013), Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm
phán trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội
Nguyễn Văn Lin và Nguyễn Thị Hạnh, Vai trò của thẩm phán trong thu
thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ giải quyết vụ án dân sự, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp, (Theo http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?)
Vũ Thanh Tuấn (2014), Cần hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của Thẩm phán trong giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, Tạp chí
Tòa án nhân dân số 7 (tháng 4/2014)
TS Lưu Bình Nhưỡng , Cải cách tư pháp nâng tầm vị thế của hệ thống
Tòa án nhân dân, (Theo
http://congly.com.vn/hoat-dong-toa-an/cai-cach-tu-phap/caicach-tu-phap-nang-tam-vi-the-cua-he-thong-toa-an-nhan-dan83566 html)
Phạm Thái Quí, Thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự còn nhiều gian
nan, (theo http://daibieunhandan.vn/default.aspx)
Trang 113
Các nghiên cứu trên đây, đã phần nào làm rõ được vai trò của thẩm phán trong hoạt động xét xử các VADS về cả khía cạnh lý luận và thực tiễn xét xử tại các tòa án
Bên cạnh đó, các công trình đề cập trực tiếp đến hoạt động xây dựng HSVADS của thẩm phán chủ yếu được công bố trong hoạt động đào tạo thẩm phán tại Học viện Tòa án hoặc Học viện Tư pháp (trước đây) là những cơ sở đào tạo nghề thẩm phán Như:
Trường Cán bộ Tòa án – TANDTC (2014), Chương trình đào tạo thẩm
phán, Lưu hành nội bộ Tập tài liệu giải dạy này được chia thành các phần tương
ứng với các kỹ năng giải quyết đối với các loại vụ án nhất định Trong đó, tập tài liệu cũng đề cập, phân tích và luận giải các kỹ năng cần thiết của thẩm phán khi giải quyết VADS nói chung và kỹ năng xây dựng HSVADS nói riêng Có thể thấy rằng, tập tài liệu được xây dựng theo định hướng đào tạo thực hành, vì thế những nội dung được xây dựng để học viên áp dụng trong thực tiễn Tương tự,
“tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho thẩm phán sơ cấp” của Trường cán bộ tòa án
cũng cung cấp những nội dung để các thẩm phán có thể trao dồi, nâng cao kỹ năng trong hoạt động xây dựng HSVADS
Có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu đã phần nào đã làm rõ những vấn đề pháp lý và những kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS sự trên cơ sở pháp lý hiện hành
Tuy vậy, chưa có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, mang tính hệ thống liên quan các khía cạnh pháp lý của hoạt động xây dựng HSVADS Đồng thời chưa có công trình nào phân tích, luận giải các kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm Qua đó, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng, thực trạng hoạt động xây dựng HSVADS tại các tòa án, nhằm đưa ra những giải pháp và kiến nghị nâng cao kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS hiện nay ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 124
Hiện nay, pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động xây dựng HSVADS được điều chỉnh bởi BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đồng thời, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ xét xử trong ngành tòa án cũng điều chỉnh hoạt động và nâng cao kỹ năng xây dựng HSVADS của thẩm phán
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung phân tích và luận giải các cơ
sở pháp lý và các kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích cơ sở pháp lý và các kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS, nhằm:
i) Làm rõ cơ sở pháp lý của hoạt động xây dựng HSVADS;
ii) Luận giải, đánh giá kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
iii) Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao kỹ năng của thẩm phán trong quá trình xây dựng HSVADS
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học và các phương pháp luận của triết học Mác – Lênin; Lý luận chung về nhà nước – pháp luật; các quan điểm của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là hoạt động của cơ quan tư pháp
Luận văn được viết trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp, tìm kiếm và thu thập thông tin làm rõ những vấn đề phát sinh trong hoạt động xây dựng HSVADS của thẩm phán theo pháp luật hiện hành Đồng thời, bằng phương pháp phân tích, tổng hợp để luận giải những kỹ năng trong việc xây dựng HSVADS
6 Những đóng góp của luận văn
Những đóng góp của luận văn gồm có:
Thứ nhất, luận văn phân tích, tổng hợp các cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt
động xây dựng HSVADS của thẩm pháp theo quy định hiện hành Đồng thời, luận giải những nội dung cơ bản của hoạt động xây dựng HSVADS
Trang 135
Thứ hai, luận văn phân tích và đánh giá các kỹ năng của thẩm phán trong
hoạt động xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Từ đó, luận văn nêu ra và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng HSVADS
Thứ ba, luận văn tập hợp, thống kê và đánh giá những khiếm khuyết
thường gặp của thẩm phán trong hoạt động xây dựng hồ sơ của VADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm dẫn đến vi phạm quá trình tố tụng, ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động xét xử chung của tòa án
Thứ tư, luận văn đưa ra những giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn
thiện, nâng cao kỹ năng xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở pháp lý của việc xây dựng HSVADS và tạo lập kỹ năng xây dựng HSVADS
Chương 2 Kỹ năng xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm trong thực tiễn tại tòa án
Chương 3 Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao kỹ năng xây dựng HSVADS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Trang 146
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ
TẠO LẬP KỸ NĂNG XÂY DỰNG HỒ SƠ VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Vụ án dân sự và nhiệm vụ, quyền hạn chung của thẩm phán trong xét
xử vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm VADS
VADS là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bao gồm: Các tranh chấp về dân sự, các tranh chấp
về hôn nhân và gia đình, các tranh chấp về kinh doanh thương mại và các tranh chấp về lao động (được qui định tương ứng tại các điều 26, 28, 30 và 32 Bộ luật
1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của thẩm phán trong VADS
Theo quy định của Điều 48 và một số điều luật khác của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Khi được Chánh án phân công, thẩm phán sẽ xem xét xử lý đơn khhởi kiện xem có đủ điều kiện khởi kiện không? đương sự có phải sửa đổi, bổ sung
về hồ sơ khởi kiện không? Có thuộc vào các quy định của pháp luật về việc trả lại đơn khởi kiện hay không để xem xét thụ lý vụ án theo quy định
- Trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, thẩm phán lập HSVADS
để tập hợp, sắp xếp các tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án mà mình đang thụ lý vụ án để giải quyết theo trình tự, thủ tục của pháp luật
- Tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ theo quy định của pháp luật Thông thường thì đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong trường hợp này thì tòa án chỉ có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và
Trang 15- Quyết định tạm đình chỉ chỉ khi có căn cứ cho rằng đương sự là cá nhân
đã chết, cơ quan tổ chức đã hợp nhất, chia, tách, sáp nhập, giải thể mà chưa có ai
kế thừa các quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó hoặc là đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật hoặc cần đợi kết quả các chứng minh có liên quan đến vụ việc thì mới giải quyết được vụ án và các trường hợp khác qui định tại Điều 214 BLTTDS 2015 Khi không còn căn cứ để tạm đình chỉ VADS thì thẩm phán sẽ phải ra quyết định tiếp tục đưa VADS ra giải quyết theo quy định tại Điều 216 BLTTDS 2015
- Khi có căn cứ cho rằng đương sự là cá nhân đã chết mà không có ai thừa
kế các quyền và nghĩa vụ của họ hoặc các cơ quan tổ chức đã bị giải thể phá sản không có ai kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của các cơ quan tổ chức đó; các trường hợp khác quy định tại Điều 217của BLTTDS 2015 thì thẩm phán sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS
- Đối với những đối tượng như là người có công với cách mạng thương binh, liệt sĩ, hộ nghèo, trẻ em, người chưa thành niên, người cao tuổi…thì trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình thẩm phán sẽ giải thích, hướng dẫn cho
họ biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
- Khi các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận tự giải quyết với nhau mà không bị lừa dối, cưỡng ép, trái với đạo đức xã hội, trái với các quy định của
Trang 168
pháp luật thì khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì thẩm phán sẽ quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của pháp luật
- Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án đưa vụ án dân sự ra xét xử theo quy định của pháp luật; triệu tập người tham gia tố tụng đến phiên tòa; tham gia xét
xử tại phiên tòa với tư cách là chủ tọa hoặc là thành viên Hội đồng xét xử
- Đề nghị Chánh án tòa án phân công thẩm tra viên hỗ trợ thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật
- Đề nghị Chánh án tòa án kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ quốc hội văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của pháp luật
- Xử lý hành vi cản trở các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật thì đó có thể là các hành vi gây cản trở là các hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của tòa án, cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ, vi phạm nội quy phiên tòa, không thi hành quyết định của tòa về việc cung cấp chứng cứ cho tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
- Tiến hành hoạt động tố tụng khác khi giải quyết VADS theo quy định của pháp luật
1.2 Hồ sơ vụ án dân sự và các văn bản pháp lý quy định hồ sơ vụ án dân sự
1.2.1 Khái niệm HSVADS
HSVADS là tập hợp các giấy tờ, tài liệu do Toà án thu thập hoặc soạn thảo trong quá trình thụ lí một VADS và cần thiết cho việc giải quyết vụ án đó HSVADS giúp Toà án có các thông tin cập nhật về tiến trình thụ lí và giải quyết
vụ án, nhất là về các quyết định đã được đưa ra và các biện pháp đã được thực hiện trong quá trình tố tụng, đồng thời, dựng lại diễn biến của việc thụ lí và xét
xử vụ án qua các giai đoạn tố tụng Qua hồ sơ, có thể biết được nội dung của vụ án; đặc biệt, trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp trên có thể
Trang 17Việc chuyển giao HSVADS được thực hiện trong các trường hợp sau: Toà
án thụ lí không có thẩm quyền giải quyết vụ án, hồ sơ phải được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền; vụ án bị kháng cáo, kháng nghị hợp lệ, hồ sơ phải được chuyển đến cấp xét xử có thẩm quyền
Việc bảo quản HSVADS thuộc trách nhiệm của bộ phận hành chính của Toà án đã thụ lí và xét xử vụ án Để có thể bảo quản tốt hồ sơ vụ án, Toà án phải đánh số thứ tự các giấy tờ, tài liệu có trong hồ sơ và phải lập danh mục các giấy
tờ, tài liệu đó Thời hạn bảo quản HSVADS chưa được quy định cụ thể trong luật hiện hành
1.2.2 Khái niệm về xây dựng HSVADS
Xây dựng hồ sơ vụ án dân sự là việc Tòa án thực hiện các thủ tục do BLTTDS quy định để xác minh, thu thập chứng cứ nhằm giải quyết yêu cầu
khởi kiện của đương sự, bảo đảm đúng pháp luật
1.2.3 Các qui định của pháp luật đối với HSVADS
Quy định về lập HSVADS được quy định tại điều 204 BLTTDS 2015, trong đó:
- HSVADS bao gồm đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án; văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết VADS Như vậy, HSVADS thì ngoài đơn khởi kiện thì còn các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp, thường thì sẽ gồm: Các giấy tờ về nhân thân, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ; các văn bản tố tụng
do Tòa án ban hành như: Thông báo thụ lý vụ án, quyết định xét xử …; các tài liệu do Tòa án thu thập bao gồm: Biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, biên
Trang 181.2.4 Các văn bản pháp lý hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng HSVADS
Cho đến nay, việc xây dựng và quản lí HSVADS chủ yếu theo các tập quán tư pháp cũng như bằng các quy tắc được quy định trong quy chế làm việc của ngành toà án Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS có nhắc đến hồ
sơ vụ án nhưng không có các quy định cụ thể quy chế pháp lí về HSVADS Tại Thông tư liên ngành số 09-TTLN ngày 01.10.1990 của TANDTC, VKSNDTC
và BTP có một số quy định liên quan đến quyền của đại diện VKSND tiếp cận
và khai thác thông tin, chứng cứ được ghi nhận trong HSVADS trong trường hợp VKSND tham gia tố tụng trong vụ án đó
Thực tiễn xét xử thường phân biệt các thành phần của hồ sơ theo cách như sau:
- Các ghi chép về lai lịch của vụ án, cho phép phân biệt vụ án này với vụ
án khác như ngày thụ lí, số thụ lí, lai lịch của cáo bên, của người đại diện, người
có quyền và lợi ích liên quan (nếu có), loại vụ việc, Thẩm phán phụ trách vụ việc
- Các giấy tờ liên quan đến thủ tục giải quyết vụ án: quyết định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định trưng cầu giám định, các ý kiến, thư từ giao dịch; giấy triệu tập, giấy ủy quyền
- Các giấy tờ, tài liệu liên quan đến nội dung của vụ án: đơn kiện, tường trình, tài liệu chứng minh, biên bản giám định, các biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải; các ghi chép về diễn biến của các phiên toà; bản án, quyết định của Toà án
1.3 Các qui định cụ thể của pháp luật đối với hoạt động xây dựng hồ sơ vụ
án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Trang 1911
1.3.1 Quy định về hồ sơ khởi kiện và thụ lý VADS
1.3.1.1 Quy định về hồ sơ khởi kiện
Hồ sơ khởi kiện VADS là những đơn từ, tài liệu chứng cứ phục vụ
cho việc khởi kiện Đó là những thứ rất quan trọng, góp phần quyết định đến kết quả giải quyết tranh chấp của tòa Nó cũng là căn cứ để tòa xem xét giải quyết một cách khách quan, chính xác và đúng quy định của pháp luật
Để tòa án thụ lý và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đương sự cần chuẩn bị hồ sơ khởi kiện theo đúng quy định của pháp luật Hồ sơ khởi kiện vụ tranh chấp dân sự đến Tòa án gồm những tài liệu gì?
a Đơn khởi kiện
- Đơn khởi kiện là hình thức biểu đạt yêu cầu của người khởi kiện đến Tòa án Với tính chất là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án xem xét quyết định thụ lý VADS, vì vậy, đơn khởi kiện phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung
- Đơn khởi kiện phải được làm (theo mẫu) đúng theo quy định tại Điều 189 BLTTDS 2015
- Hình thức, nội dung đơn khởi kiện được hướng tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của HĐTP TANDTC
b Tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, người khởi kiện phải gửi kèm theo các tài liệu, chứng cứ để chứng minh
* Đối với vụ án hôn nhân:
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;
- Giấy khai sinh của con (nếu có con);
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản chung (nếu có yêu cầu chia tài sản);
- Các giấy tờ về nợ chung (nếu có);
- Các giấy tờ tài liệu khác có liên quan như: chứng cứ xác định tình trạng hôn nhân qua sự phản ánh của cơ quan quản lý của vợ, chồng; tổ
Trang 2012
chức dân cư, đoàn thể, chính quyền địa phương; các chứng cứ về chỗ ở, thu nhập, nghề nghiệp, điều kiện nuôi dưỡng con v.v…
* Đối với vụ án thừa kế:
- Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, CMND, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi (nếu có) để xác định diện và hàng thừa kế;
* Đối với vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định Luật đất đai 2013
- Các giấy tờ liên quan đến tranh chấp như hợp đồng, văn bản cho thuê, cho mượn, mua bán v.v…;
- Biên bản hòa giải ở xã, phường (nếu có)
* Đối với tranh chấp nhà ở:
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, trường hợp chưa có Giấy chứng nhận quyền sở hữu thì cần có các giấy tờ xác nhận chủ quyền nhà;
- Các giấy tờ liên quan đến giao dịch nhà ở có tranh chấp như: Giấy cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ, mua bán hoặc những giấy tờ khác thể hiện
Trang 21- Các tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng
*Đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
- Biên bản làm việc, giải quyết của cơ quan chức năng;
- Các giấy tờ, hóa đơn, chứng từ chứng minh thiệt hại Trong loại tranh chấp này, người khởi kiện cần chứng minh từng khoản thiệt hại thực
tế đã xảy ra bằng các chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý – những chi phí thực tế, cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí…
1.3.1.2 Qui định về thụ lý VADS
Theo quy định tại điều 195 BLTTDS, sau khi nhận được đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo thì Tòa án phải vào sổ nhận đơn và tiến hành xem xét Trong trường hợp thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án phải báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí Sau khi người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án quyết định nhận giải quyết và vào
sổ thụ lý VADS Trường hợp đương sự thuộc diện không phải nộp tiền tạm ứng
án phí hoặc có đủ điều kiện được miễn án phí thì Tòa án tiến hành vào sổ thụ lý VADS ngày sau khi nhận đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo
Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán phải triệu tập các đương sự đến Tòa án
để họ cung cấp chứng cứ, tiến hành xác minh và hòa giải, đối với những vụ việc pháp luật quy định không được hòa giải thì phải khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa
* Các điều kiện để thụ lý VADS
Trang 2214
- Chủ thể khởi kiện: Chủ thể khởi kiện VADS bao gồm các cá nhân, cơ
quan, tổ chức đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định Chủ thể khởi kiện phải là người được tham gia vào các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và họ phải là những chủ thể có quyền khởi kiện được quy định tại Điều 161 và Điều
162 BLTTDS
- Vụ án khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tòa án
chỉ thụ lý VADS đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Để vụ án đươc thụ lý, đơn khởi kiện phải gửi đến đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết, xét xử Trước hết, phải xác định tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền chung về dân sự của Tòa án theo quy định tại các điều 26,28,30 và
32 BLTTDS hay không? Ngoài ra, đơn khởi kiện còn phải được gửi đến đúng Tòa án có thẩm quyền theo cấp xét xử theo điều 36, 37 và 38 và phải đúng thẩm quyền theo lãnh thổ theo các điều 39, 40 BLTTDS Trong trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo Điều 40 BLTTDS thì đương sự phải cam kết không khởi kiện tại các Tòa khác, nếu do các bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận đó
- Vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật: Một vụ án đã được Tòa án Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết
định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại đối với vụ
án đó nữa Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết những việc trước đó chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192 BLTTDS
* Các điều kiện khác:
Thứ nhất, Người khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án: kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện phải gửi các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Thứ hai, Người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí: ngoài việc thỏa mãn các điều kiện khởi kiện về nộp các tài liệu chứng cứ cho Tòa án thì để tòa
Trang 2315
án thụ lý VADS, đương sự còn phải nộp tiền tạm ứng án phí trừ các trường hợp không phải nộp hoặc được miễn tiền tạm ứng án phí
Thứ ba, Đơn khởi kiện phải thỏa mãn các nội dung cơ bản theo quy định
1.3.2 Quy định về xác định tư cách đương sự trong vụ án
Đương sự trong VADS là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự trong VADS chính là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự Xác định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự tức là xác định tư cách của đương sự trong VADS
1.3.2.1 Việc xác định tư cách nguyên đơn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015:
“Nguyên đơn trong VADS là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm
Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa
án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”
Như vậy, có thể thấy nguyên đơn trong VADS không những chỉ là người khởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong VADS còn là cơ quan,
tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách Việc tham gia tố tụng của nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác Hoạt động tố tụng của nguyên đơn
có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng
Từ nhận định trên có thể thấy, cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định là nguyên đơn cần có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Nguyên đơn được giả thiết có quyền lợi bị xâm hại hay có tranh
chấp Mặc dù nguyên đơn có quyền, lợi ích giả thiết bị xâm phạm nhưng vẫn có
Trang 2416
thể khởi kiện và được thụ lý vì họ đã cung cấp các chứng cứ ban đầu cần thiết để chứng minh họ có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết Về nguyên tắc thì nguyên đơn phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp, có quyền, lợi ích liên quan quan hệ pháp luật nội dung đó
Thứ hai: cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách nguyên đơn khi họ thực hiện
quyền khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước do mình phụ trách hoặc được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho họ
Với cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự hoặc cơ quan, tổ chức thông qua người đại điện hợp pháp khởi kiện VADS và được Tòa án thụ lý thì cá nhân, cơ quan, tổ chức đó được xác định là nguyên đơn Nếu cá nhân là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự mà được người đại điện khởi kiện thì người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự được bảo vệ quyền lợi
là nguyên đơn
Khi cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật khởi kiện để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì người được bảo vệ quyền lợi chính là nguyên đơn, còn chủ thể khởi kiện vì lợi ích của người khác được xác định là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn
1.3.2.2.Việc xác định tư cách bị đơn
Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015: “Bị đơn trong VADS
là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”
Một cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định là bị đơn trong VADS khi:
Thứ nhất, là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự khởi kiện
Thứ hai, bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay xâm phạm đến
quyền lợi của nguyên đơn
Như vậy tư cách bị đơn sẽ được xác định tùy theo từng quan hệ tranh chấp:
Trang 2517
- Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ bảo lãnh: Trong
quan hệ này, việc xác định tư cách của bị đơn phụ thuộc vào những điều kiện luật định Chủ nợ có thể khởi kiện người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng hoặc theo quan hệ bảo lãnh để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự Bị đơn sẽ là người bảo lãnh nếu nghĩa vụ đến hạn phải thực hiện nhưng bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình Nếu không thuộc trường hợp này thì người bị kiện hay bị đơn chính là người có nghĩa vụ theo quan hệ hợp đồng
- Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án về quan hệ pháp luật sở hữu:
Bị đơn trong quan hệ pháp luật sở hữu thường là bên vi phạm quyền sở hữu của chủ thể khác Pháp luật dân sự hiện hành có sự phân biệt giữa tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu Đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì chủ sở hữu chỉ có quyền khởi kiện người chiếm hữu ngay tình để đòi lại tài sản trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người có quyền định đoạt tài sản Trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu – kiện vật quyền
-Việc xác định tư cách bị đơn trong các vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Trong các quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người bị thiệt
hại phải khởi kiện người có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự, khi đó người bị khởi kiện chính là bị đơn Đối với việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, chủ thể được xác định là
bị đơn bao gồm cha mẹ của người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hai; người chưa thành niên từ đủ mười năm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi; cá nhân, tổ chức giám hộ trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại Đối với thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì bị đơn là người có trách nhiệm trong quan hệ bồi thường Người bị
Trang 2618
khởi kiện được xác định là bị đơn trong VADS do nguồn nguy hiểm cao độ gây
ra có thể là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ, người được chủ sợ hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao chiêm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật; người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại
1.3.2.3 Việc xác định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015 quy định: “Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong VADS là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết VADS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được
tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa
họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng độc lập hoặc đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn Một chủ thể được coi là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họ tự mình đề nghị được tham gia tố tụng, được các đương sự khác đề nghị Tòa án chấp nhận đưa họ tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc họ sẽ tham gia tố tụng theo ý chí của Tòa án
Như vậy, để xác định tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS, trước hết ta căn cứ vào việc xác định tư cách của các đương sự trước đó của Tòa án Việc xác định tư cách tham gia tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phụ thuộc vào việc thực hiện quyền khởi kiện của nguyên đơn và việc thụ lý VADS của Tòa án
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có hai loại: “Có thể có yêu cầu độc
lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn”
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Là người
tham gia vào hoạt động tố tụng của vụ án có yêu cầu độc lập trước Tòa án Yêu cầu này là đối tượng mà Tòa án phải xem xét giải quyết cùng với yêu cầu của nguyên đơn Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cho rằng đối tượng, phần đối tượng tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là thuộc về họ
Trang 2719
chứ không phải thuộc về nguyên đơn hay bị đơn Do đó, yêu cầu của họ có thể chống lại nguyên đơn, bị đơn hoặc chống lại cả hai
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng đứng về phía
nguyên đơn hoặc bị đơn: Là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có
yêu cầu độc lập, tham gia vào vụ án đã xảy ra giữa nguyên đơn, bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, việc tham gia tố tụng của họ luôn phụ thuộc vào việc tham gia tố tụng của nguyên đơn hoặc bị đơn
1.3.3 Quy định về tài liệu, chứng cứ trong VADS
Chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định để Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự Hiện nay chứng cứ trong tố tụng dân sự được quy định, hướng dẫn tại BLTTDS
1.3.3.1 Nguồn chứng cứ:
1 Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;
2 Vật chứng;
3 Lời khai của đương sự;
4 Lời khai của người làm chứng;
5 Kết luận giám định;
6 Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7 Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
8 Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;
2 Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho
Trang 284 Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc
5 Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng
cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa
6 Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
7 Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
8 Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
9 Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp
lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
10 Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định
11 Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định
1.3.3.3 Giao nộp tài liệu, chứng cứ:
Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ được thực hiện theo qui định tại Điều 96 BLTTDS, cụ thể như sau:
1 Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền
và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Trường hợp tài liệu, chứng
cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán
Trang 292 Việc đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án phải được lập biên bản Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của tài liệu, chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự và một bản giao cho đương sự nộp chứng cứ
3 Đương sự giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp
4 Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS 2015
Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự
5 Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của
Trang 3022
đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác
đ) Yêu cầu UBND cấp xã chứng thực chữ ký của người làm chứng;
e) Yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản; h) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện công việc khác theo quy định của pháp luật
2 Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
Trang 3123
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự;
h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư trú;
i) Các biện pháp khác theo quy định của BLTTDS 2015
3 Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản
2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa
án
4 Trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm, Thẩm tra viên có thể tiến hành các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ quy định tại các điểm a, g và h khoản 2 Điều này
Khi Thẩm tra viên tiến hành biện pháp quy định tại điểm g khoản 2 Điều này, Tòa án phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án
5 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ, Tòa án phải thông báo về tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự để
họ thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình
6 Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
1.3.4 Quy định về thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của đương sự
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những nguyên tắc cơ bản được quy định Điều 5 của BLTTDS, trong đó cũng quy định đương sự có quyền thay đổi, bổ sung cầu khởi kiện trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án
1.3.4.1 Về thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự trong quá trình Tòa án giải
quyết vụ án
Theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của BLTTS thì đương sự có quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự được thực hiện trước khi Tòa án
mở phiên tòa và tại phiên tòa Tuy nhiên không phải trường hợp nào việc thay
Trang 3224
đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự cũng được Tòa án chấp nhận Tại mục 7, Phần IV Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 của TANDTC giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ của Tòa án có giải đáp như sau: “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếu việc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”
Tại khoản 1 Điều 244 của BLTTDS năm 2015 cũng có quy định như sau:
“Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu” Như vậy, nếu đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì sẽ được Tòa án chấp nhận Còn nếu đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hoặc tại phiên tòa thì Tòa án chỉ chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm
vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu ghi trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập
Vậy thế nào là thay đổi yêu cầu, thế nào là bổ sung yêu cầu và thế nào là không vượt quá phạm vi khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu thì hiện nay không có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể nên thực tiễn vẫn còn cách hiểu khác nhau Theo tác giả đương sự thay đổi yêu cầu là việc đương sự đưa ra một yêu cầu khác với yêu cầu ban đầu của họ để Tòa án xem xét giải quyết trong cùng vụ án Việc thay đổi này không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mà chỉ là thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấp này sang quan hệ pháp luật tranh chấp khác
Còn đương sự bổ sung yêu cầu là việc đương sự bổ sung thêm yêu cầu ngoài yêu cầu ban đầu của họ và việc bổ sung yêu cầu này làm phát sinh thêm
Trang 3325
quan hệ pháp luật tranh chấp hoặc làm tăng giá trị yêu cầu hoặc vừa tăng thêm quan hệ pháp luật tranh chấp vừa tăng thêm giá trị yêu cầu Phần giá trị yêu cầu tăng thêm là có thể đo đếm được như tăng về số tiền, diện tích…
Đối với vấn đề thế nào không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu thì hiện nay cũng có cách hiểu khác nhau Tuy nhiên tác giả đồng quan điểm với cách hiểu sau: Thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu là việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp khác ngoài một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà Tòa án đang xem xét giải quyết trong cùng một vụ án hoặc không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùng quan hệ pháp luật tranh chấp mà Tòa án đang xem xét giải quyết
Một điều cần phải lưu ý là, Tòa án chỉ xem xét yêu cầu của đương sự có vượt quá phạm vi khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu hay không là trong trường hợp đương sự có thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên họp hoặc sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hoặc tại phiên tòa Do đó, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cần giải thích rõ ràng và trước khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho tất cả đương sự trong vụ án biết quy định của pháp luật về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu cũng như hậu quả pháp lý của việc thay đổi, bổ sung yêu cầu Từ đó sẽ hạn chế được trường hợp đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được Tòa án chấp nhận dẫn đến việc đương sự phải khởi kiện một vụ án khác gây mất thời gian, công sức, chi phí cho đương sự và cả cơ quan tiến hành tố tụng
1.3.4.2 Yêu cầu phản tố của đương sự
Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
a Về yêu cầu phản tố của bị đơn
Trang 3426
Quyền được đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn được quy định tại khoản 1
Điều 200 của BLTTDS năm 2015 như sau: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án
văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.” Nghĩa là sau khi nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án
của Tòa án hoặc sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu độc lập của Tòa án, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn hoặc đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay vẫn còn có sự nhầm lẫn giữa yêu cầu phản tố của bị đơn với ý kiến của bị đơn dẫn đến trường hợp Tòa án không xem xét yêu cầu phản tố của
bị đơn hoặc chỉ là ý kiến của bị đơn nhưng Tòa án lại xem xét giải quyết như yêu cầu phản tố của bị đơn Những sai sót như vậy, dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong
vụ án hoặc là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Trước đây, việc phân biệt yêu cầu phản tố và ý kiến của bị đơn được hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC như sau:
- Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết
- Chỉ coi là ý kiến của bị đơn mà không phải là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nếu bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập)
Trang 3527
Theo quy định tại khoản 2 Điều 200 của BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Đây là trường hợp bị đơn
có nghĩa vụ đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Đây là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập vì không có căn cứ
- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn Tức là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn
b Về thời điểm bị đơn được đưa ra yêu cầu phản tố:
Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải” Quy định bị đơn chỉ có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải là một quy định hoàn toàn mới của BLTTDS năm 2015 Bởi vì thực tiễn giải quyết các VADS nói chung trước đây
Trang 3628
theo BLTTDS năm 2004 thì nhiều trường hợp bị đơn không đưa ra yêu cầu phản
tố ngay từ đầu mà có khi đưa ra yêu cầu phản tố trong thời gian chuẩn bị xét xử,
có khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên tòa làm cho thời gian giải quyết
vụ án kéo dài và làm tăng tính phức tạp của vụ án Tuy nhiên, điểm hạn chế của BLTTDS năm 2015 là không quy định rõ bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản
tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ mấy Vì một vụ án có thể mở nhiều phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải khác nhau Điều này dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không không nhất giữa các Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, đôi khi là sự “lách luật” để có thể xem xét thụ
lý yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải lần thứ nhất
1.3.4.3 Thủ tục yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
a Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết VADS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trường hợp việc giải quyết VADS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với
tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể chia làm hai loại là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan không có yêu cầu độc lập
b Quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Theo quy định tại Điều 201 BLTTDS 2015:
Trang 3729
1 Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:
a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết; c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn
2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Theo Điều 73 BLTTDS 2015, nếu yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được Tòa án chấp thuận thì đương sự sẽ có quyền, nghĩa
vụ của nguyên đơn quy định tại Điều 71 của BLTTDS 2015 Trường hợp yêu cầu độc lập không được Tòa án chấp nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khởi kiện trong vụ án khác
Kết luận chương 1
Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số khái niệm, các quy định cụ thể của pháp luât về xây dựng hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm Xây dựng hồ sơ vụ án là nhiệm vụ hết sức quan trọng của thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án Hồ sơ vụ án dân sự giúp Toà án có các thông tin cập nhật về tiến trình thụ lí và giải quyết vụ án, nhất là về các quyết định đã được đưa ra và các biện pháp đã được thực hiện trong quá trình tố tụng, đồng thời, dựng lại diễn biến của việc thụ lí và xét xử vụ án qua các giai đoạn tố tụng Qua
hồ sơ, có thể biết được nội dung của vụ án; đặc biệt, trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp trên có thể dựa vào hồ sơ để có thể hình dung toàn
bộ lịch sử của vụ án Từ nhận thức đó, học viên đi sâu vào việc đánh giá thực tiễn xây dựng hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm tại Tòa án ở Chương 2 và đề ra giải pháp, kiến nghị ở Chương 3 nhằm góp phần nâng cao chất lượng của Thẩm phán trong việc xây dựng hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn
Trang 3830
CHƯƠNG 2
KỸ NĂNG CỦA THẨM PHÁN TRONG VIỆC XÂY DỰNG HỒ SƠ
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
TRONG THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN 2.1 Các kỹ năng của thẩm phán trong hoạt động xây dựng HSVADS để chuẩn bị xét xử sơ thẩm
2.1.1 Kỹ năng kiểm tra hồ sơ khởi kiện VADS
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải kiểm tra lại hồ sơ khởi kiện một lần nữa về các điều kiện thụ lý vụ án dân sự Kiểm tra hồ sơ khởi kiện được tiến hành tương tự kỹ năng kiểm tra đơn khởi kiện; tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn và kiểm tra các điều kiện thụ lý vụ án dân sự
Trong quá trình kiểm tra hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự mà phát hiện vụ án
đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án cần phải nắm vững quy định tại khoản 1 Điều
41 BLTTDS Trong trường hợp này Tòa án đã thụ lý vụ án đó ra quyết định
chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý vụ án Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân, có liên quan Khi chuyển hồ sơ vụ án Toà án phải liệt kê
danh mục tài liệu và đánh số thứ tự các bút lục có trong hồ sơ vụ án Đối với Tòa án sau khi nhận được quyết định chuyển vụ việc dân sự và hồ sơ vụ việc dân sự phải kiểm tra lại các điều kiện thụ lý vụ án để xem xét việc có thụ lý vụ
án hay không?
Ngoài ra Thẩm phán cũng cần phân biệt các trường hợp được quy định tại khoản 1; điểm a, khoản 2 Điều 217 BLTTDS thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện
và các tài liệu chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu Còn trong trường hợp Tòa án ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý vụ án thì Thẩm phán không ra quyết định đình chỉ
Trang 3931
giải quyết vụ án Do vậy, thực hiện tốt việc kiểm tra hồ sơ khởi kiện sẽ tạo tiền
đề tốt cho quá trình xây dựng hồ sơ vụ án dân sự của Thẩm phán
2.1.2 Kỹ năng thông báo về việc thụ lý VADS
Theo quy định tại Điều 196 BLTTDS trong thời hạn ba ngày làm việc, kể
từ ngày thụ lý vụ việc dân sự, Toà án thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn,
bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ việc dân sự Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án Văn bản thông báo phải có đầy đủ các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 196 BLTTDS Việc gửi thông báo thụ lý
có đảm bảo về thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 196 BLTTDS
Như vậy, đối tượng được nhận thông báo thụ lý vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 196 BLTTDS năm 2015 có sự bổ sung so với quy định tại khoản 1 Điều 174 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 đó là Tòa án phải thông báo việc thụ lý vụ án cho cả nguyên đơn là người khởi kiện, đồng thời đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý
vụ án nhằm đảm bảo tốt nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động giải quyết vụ án Trong nội dung thông báo thụ lý vụ án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 196 BLTTDS, quy định về thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện
và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) và hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện
Về mẫu thông báo về việc thụ lý vụ án soạn theo mẫu số 30-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
Trường hợp nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án hỗ trợ trong việc gửi tài liệu, chứng cứ thì kèm theo thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án gửi cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bản sao tài liệu, chứng cứ do
Trang 4032
nguyên đơn cung cấp Đây là quy định mới của BLTTDS năm 2015, xuất phát
từ quy định nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử tại Điều 24 BLTTDS, đương sự có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp
Thẩm phán cần căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện để xác định các đối tượng cần thông báo thụ lý vụ án và gửi đến địa chỉ của họ và lưu ý các vướng mắc có thể phát sinh trong thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như cách thức giải quyết
2.1.3 Kỹ năng yêu cầu và tiếp nhận ý kiến của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án
Theo quy định tại Điều 199 BLTTDS 2015 thì trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được thông báo thụ lý vụ án, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Toà án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Toà án phải gia hạn, nhưng không quá 15 ngày Văn bản ghi ý kiến, đơn đề nghị gia hạn và tài liệu, chứng cứ, kèm theo cũng có thể nộp trực tiếp hoặc gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính hoặc thông qua phương tiện điện tử bằng Cổng thông tin điện tử (nếu có)
Việc giao nhận tài liệu, chứng cứ kèm theo văn bản ghi ý kiến hoặc đơn
đề nghị gia hạn của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 96 BLTTDS Khi người được thông báo có yêu cầu cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Thẩm phán phải giải quyết và bảo đảm cho họ thực hiện quyền này trừ trường hợp tài liệu, chứng cứ
có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai (khoản 2 Điều 109) và những người tiến hành
tố tụng, người tham gia tố tụng có nghĩa vụ bảo mật tài liệu, chứng cứ này