1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của tòa án nhân dân thành phố vinh, tỉnh nghệ an

116 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng áp dụng pháp luật như trên, bản thân tác giả cũng là một công chức hiện đang công tác tại Toà án nhân dân thành phố Vinh, mong muốn được đóng góp nghiên cứu của mình vào vi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ THỊ HOA

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH,

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP Vinh - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGÔ THỊ HOA

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH,

TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60.38.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG

TP Vinh - 2017

Trang 3

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi

đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân

đây tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành của mình

Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương,

cô giáo đã nhiệt tình hướng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian qua

Tôi xin bày tỏ cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại Học Vinh phòng đào tạo Sau Đại học, Khoa Luật đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới TAND Tỉnh Nghệ An, TAND TP.Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã cỗ vũ, động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khóa học này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Vinh, ngày 05 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Thị Hoa

Trang 4

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa

vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Vinh, tỉnh Nghệ An

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày 05 tháng 8 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Thị Hoa

Trang 5

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự BLHS : Bộ luật Hình sự

BLDS : Bộ luật Dân sự BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự BTP : Bộ Tư pháp

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng CQĐT : Cơ quan điều tra

NTHTT : Người tiến hành tố tụng ĐTV : Điều tra viên

KSV : Kiểm sát viên HĐXX : Hội đồng xét xử

TAND : Tòa án nhân dân HTND : Hội thẩm nhân dân HTQN : Hội thẩm quân nhân NĐDHP : Người đại diện hợp pháp NBC : Người bào chữa

QBC : Quyền bào chữa XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

6 Những điểm mới của luận văn 7

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

8 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân 9

1.2 Nội dung và thủ tục áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân 27

1.3 Yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 46

Trang 7

hình xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại Tòa án nhân dân thành phố

Vinh, tỉnh Nghệ An 46

2.2.Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 53

2.3 Một số vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự từ hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 81

CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 83

3.1 Quan điểm đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 83

3.2 Giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 84

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xét xử là một trong những chức năng không thể thiếu của Nhà nước

Xã hội càng phát triển, vai trò duy trì, đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm của hoạt động xét xử càng lớn Hiệu quả của hoạt động xét xử phản ánh hiệu lực của bộ máy nhà nước và tính chất, mức độ dân chủ của Nhà nước và xã hội đó Hoạt động xét xử của Tòa án là sự thể hiện chất lượng, uy tín của hệ thống các cơ quan tư pháp nói riêng và quyền lực Nhà nước nói chung Ở nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử Điều 2 - Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định: “ Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác”

Hoạt động xét xử của Toà án thực chất là hoạt động áp dụng pháp luật Các quyết định và bản án của Toà án đều phải dựa vào Hiến pháp và Luật của Quốc hội Áp dụng pháp luật (ADPL) trong hoạt động giải quyết án hình

sự là hoạt động thường xuyên của TAND trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do Hiến pháp và pháp luật quy định ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án mang những đặc điểm chung của hoạt động ADPL, bên cạnh đó, nó còn có những đặc điểm riêng Quy trình ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhưng luật nội dung giải quyết vụ án hình sự phải là Bộ luật Hình sự Hoạt động áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của ngành Toà án nói riêng là

Trang 9

nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của ngành Toà án, là mối quan tâm của xã hội, đặc biệt là khi chúng ta đang tiến hành cải cách tư pháp nhằm thực hiện tốt nhất công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Hoạt động xét xử

có hiệu quả và đúng pháp luật vừa là nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm, vừa là đạo đức của người cán bộ Toà án, của người Thẩm phán

Thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua công tác giải quyết án hình sự của các Tòa án nhân dân trong tỉnh Nghệ

An nói chung, Tòa án nhân dân thành phố Vinh nói riêng đã góp phần quan trọng vào việc phân hoá tội phạm với một chính sách nhất quán và rõ ràng: nghiêm trị đối với những đối tượng chủ mưu, cầm đầu, ngoan cố chống đối; khoan hồng đối với những đối tượng thật thà khai báo, ăn năn hối cải, người

bị lôi kéo, dụ dỗ Những bản án, quyết định của Toà án đúng pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá kết quả hoạt động của ngành

Số vụ án hình sự sơ thẩm của toàn ngành Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ

An đã thụ lý và giải quyết từ năm 2010 đến tháng 9/2016 là 4093 vụ/6488 bị cáo Trong đó: cấp tỉnh là 602 vụ/1248 bị cáo; cấp huyện là 3491vụ/5240 bị cáo, riêng số lượng án hình sự do Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã giải quyết là 987/1896 bị cáo chiếm tỷ lệ 35,84% so với toàn tỉnh

Qua số liệu thống kê trên cho thấy thời gian qua Tòa án nhân dân thành phố Vinh giải quyết các vụ án hình sự nhiều nhất trong toàn tỉnh về số lượng giải quyết án: hầu hết số vụ án hình sự của năm sau đều tăng so với năm trước Trong đó, bình quân số vụ án thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người tăng 12,1%; nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu tăng 14,5%; nhóm tội về ma tuý tăng 32,6%; nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng tăng 3,6%; nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính tăng 6,3%; các nhóm tội khác tăng 8,2% Chính vì vậy, nhiệm vụ càng nặng nề hơn, đòi hỏi cần có sự đổi mới mạnh mẽ về mọi lĩnh vực mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác của ngành đề ra Mặc

Trang 10

dù việc chấp hành pháp luật trong hoạt động giải quyết án hình sự của TAND thành phố Vinh cơ bản đạt kết quả tốt, kịp thời, chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án ngày càng đảm bảo, không có oan sai, không bỏ lọt tội phạm Tỷ lệ

án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan trong nhiều năm được hạn chế ở mức thấp và theo xu hướng giảm dần Song, thông qua việc nghiên cứu, xem xét một số vụ

án bị hủy, sửa cho thấy thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân thành phố Vinh vẫn còn có những hạn chế nhất định Tình trạng các bản án, quyết định của Toà án nhân dân thành phố Vinh vẫn còn có những sai sót bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm sửa án, huỷ án, đã phần nào ảnh hưởng đến uy tín của ngành Toà án, ảnh hưởng đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Trước tình hình đó đã đặt ra những yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét xử trong quá trình thực hiện cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Từ thực trạng áp dụng pháp luật như trên, bản thân tác giả cũng là một công chức hiện đang công tác tại Toà án nhân dân thành phố Vinh, mong muốn được đóng góp nghiên cứu của mình vào việc tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những sai sót trong các bản

án, quyết định, đề xuất những giải pháp dưới góc độ lý luận chung góp phần hạn chế những sai sót về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự của Toà án nhân dân nói chung và của Tòa án nhân dân thành phố Vinh nói

riêng Với những lý do nêu trên tác giả chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An" làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu có quy mô và hình thức ấn phẩm khác nhau được công bố đề cập chủ đề áp dụng pháp luật trong hoạt động xét

xử vụ án hình sự Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như:

- Bài viết của tác giả Vũ Thành Long: Về áp dụng tình tiết phạm tội có

Trang 11

tính chất chuyên nghiệp Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2006

- Bài viết của tác giả Chu Thị Trang Vân về: Vai trò sáng tạo của Tòa

án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Tạp chí Lập pháp số 27 tháng

9/2007

- Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Huề về: Áp dụng tình tiết tăng nặng định khung giết trẻ em theo điểm c khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự Tạp chí

Toà án nhân dân số 13 tháng 7 năm 2008

- Bài viết của Nguyễn Đăng Khuê về: Thực tiễn áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và những vướng mắc Tạp chí Toà án nhân dân số 22 tháng 11

năm 2008

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Giàng Thị Bình: Áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự ở Tòa án nhân dân tình Lào Cai, luận văn thạc sĩ luật học,Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2009

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Đàm Cảnh Long: Áp dụng pháp luật hình

sự của Tòa án nhân dân - Qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Hải Yến: Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Thu Hà: Vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền – Qua thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2015

- Luận án tiến sỹ của tác giả Võ Quốc Tuấn: Đảm bảo quyền của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay, luận án Tiến sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017

Những công trình và bài viết trên tuy đã nghiên cứu đề tài áp dụng

Trang 12

pháp luật trong xét xử nói chung và đề xuất những giải pháp khoa học nhằm đảm bảo chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự nói riêng Một

số tỉnh như Thái Nguyên, Ninh Bình, Lào Cai đã đưa ra một số giải pháp đảm bảo chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử án hình sự, tuy nhiên mỗi địa phương có những đặc thù khác nhau, mặt khác nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của Tòa

án nhân dân cấp huyện thì chưa có công trình nào nghiên cứu Do đó ngoài những giải pháp chung, Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vẫn cần có những giải pháp riêng để đảm bảo chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử của ngành Toà án ngày càng được nâng cao Kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu nêu trên, tác giả mạnh dạn tiếp cận vấn đề áp dụng pháp luật dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật để nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, với mong muốn tìm ra giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong công tác xét xử các vụ án nói chung và trong xét xử án hình sự nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng, của Tòa án nhân dân trên địa bàn cả nước nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa các quan điểm khoa học và tiếp tục làm sáng tỏ thêm khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật, các giai đoạn áp dụng pháp luật và các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án

Trang 13

- Đề xuất quan điểm, giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng, các tòa án nhân dân trên địa bàn cả nước nói chung, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các quan điểm khoa học về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

- Các quy định pháp luật về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các

vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

- Quá trình hình thành, phát triển, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Vinh và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong xét

xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật

Trang 14

trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về Nhà nước và Pháp luật, về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; các quan điểm của Đảng và nhà nước về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng và chống các tội phạm về hình sự, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08NQ/TW ngày 02/1/2002 và Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của

Bộ Chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp;

- Phương pháp lịch sử - cụ thể;

- Phương pháp tổng kết thực tiễn và phương pháp xã hội học;

- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích số liệu;

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp với phương pháp trao đổi, tham khảo ý kiến chuyên gia

6 Những điểm mới của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ các đặc điểm của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

- Luận văn đưa ra các ý kiến đánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2010 đến 2016

Trang 15

- Luận văn bổ sung thêm một số giải pháp nhằm đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng

tỏ lý luận về áp dụng pháp luật, làm phong phú thêm các luận giải khoa học

về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử án hình sự trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao

nhận thức của đội ngũ, cán bộ công chức ngành tòa án về hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; Luận văn là tài liệu tham khảo

có giá trị nhất định trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật tại các cơ sở đào luật; Luận văn có thể được tham khảo trong hoạt động xét xử của các tòa án nhân dân cấp huyện ở Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ

án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

CHƯƠNG 1

Trang 16

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật trong xét

xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

1.1.1.1 Khái quát về áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật hình sự có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có những đặc điểm chung như các dạng ADPL khác, vừa có những đặc điểm riêng xuất phát từ phạm vi lĩnh vực của mình Do vậy, trước khi nghiên cứu về ADPL hình sự, chúng ta cần tìm hiểu về ADPL trong hệ thống các hình thức thực hiện pháp luật nói chung

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực

tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thực hiện pháp luật thành những hình thức cụ thể như: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật và ADPL

- Tuân thủ pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật phải kiềm chế không thực hiện các hành vi mà pháp luật nghiêm cấm

- Thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó có các chủ thể pháp luật thực hiện các nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực

- Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật tích cực, chủ động thực hiện các quyền năng pháp lý của mình theo quy định của pháp luật

- Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó thông

Trang 17

qua các cơ quan nhà nước hoặc những người có thẩm quyền, Nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc căn cứ vào các quy định của pháp luật để ra các quyết định nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể

Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất, luôn luôn có sự hiện diện của nhà nước thông qua các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền Do đó, rất cần hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc

cá nhân có thẩm quyền để tạo điều kiện cho các chủ thể khác thực hiện đầy

đủ các quy phạm pháp luật Tuy vậy, áp dụng pháp luật cũng chỉ được tiến hành trong các trường hợp sau đây:

- Khi phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế bằng một chế tài Nhà nước để xử lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Điều này thể hiện rõ nhất trong luật hình sự: khi một chủ thể của quan hệ pháp luật thực hiện hành vi phạm tội, không phải ngay sau đó trách nhiệm hình

sự tự động phát sinh và người vi phạm tự giác chấp hành các biện pháp chế tài tương ứng Vì vậy, cần có hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật

và những người có thẩm quyền nhằm điều tra, truy tố, xét xử và đối chiếu với qui định của pháp luật để quyết định trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi vi phạm và buộc người này phải chấp hành quyết định đó

- Áp dụng biện pháp tác động nhà nước nhưng không liên quan đến trách nhiệm pháp lí Khi cần áp dụng các biện pháp tác động nhà nước nhưng không liên quan đến trách nhiệm pháp lí thì nhà nước cũng tiến hành áp dụng pháp luật

- Khi quyền và nghĩa vụ pháp lí của các tổ chức, cá nhân không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước

Trang 18

Trường hợp này pháp luật đã quy định cho tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa

vụ pháp lí nhất định nhưng các quyền và nghĩa vụ đó không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hay chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của cơ quan hay nhà chức trách có thẩm quyền

- Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lí giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được Trong trường hợp này, quan hệ pháp luật đã xuất hiện nhưng do có sự tranh chấp giữa các bên về các quyền và nghĩa vụ pháp lí cho nên các bên không thể thực hiện được các quyền, nghĩa vụ pháp lí của mình

Như vậy, áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đặc thù, do

cơ quan nhà nước, công chức nhà nước được trao quyền tiến hành theo một thủ tục do pháp luật quy định; nhằm thực hiện các biện pháp cưỡng chế khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội; khi phải giải quyết các tranh chấp về quyền chủ thể và các nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể trong một quan hệ pháp luật nhất định; hoặc khi Nhà nước thấy cần phải can thiệp, cần phải tham gia để đảm bảo việc thực thi trên thực tế của các chủ thể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật

Các trường hợp ADPL nêu trên luôn luôn tồn tại trong hiện thực của đời sống xã hội, tuy nhiên trong các trường hợp trên chỉ có trường hợp thứ nhất là chứa đựng nội dung hoạt động giải quyết án hình sự của TAND mà luận văn này đề cập và nghiên cứu

Từ định nghĩa về áp dụng pháp luật như trên có thể rút ra một số đặc điểm của áp dụng pháp luật như sau:

- Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước Tính chất này thể hiện ở chỗ hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan,

tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật Chẳng hạn, trong hệ thống các cơ quan, tổ

Trang 19

chức nhà nước thì chỉ toà án mới có quyền xét xử để định tội và định hình phạt cho người phạm tội cũng như để giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình…

Trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành

ra những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể là đối tượng áp dụng

- Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh mang tính chất cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội hay còn được hiểu là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể Đối tượng của hoạt động áp dụng pháp luật là các quan hệ xã hội cần có sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở các quy phạm pháp luật chung

- Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi có tính sáng tạo, bởi vì trong hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng, các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế lại rất đa dạng, phong phú nên đòi hỏi chủ thể áp dụng pháp luật (các cơ quan và những người tiến hành tố tụng) phải thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ để xác định sự kiện thực tế đã xảy ra, đánh giá chính xác về mặt pháp lý đối với vụ việc đó và lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp đối với trường hợp cụ thể đang giải quyết

1.1.1.2 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án,

ghi nhận "Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét

xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,

Trang 20

lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ khách quan toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân” Tại Điều 9 BLTTHS 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chỉ hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”

Theo các quy định trên, thì xét xử là một hoạt động đặc thù của Nhà nước, là chức năng được Nhà nước giao cho một chủ thể duy nhất thực hiện

đó là Tòa án Việc tuyên bố một người là có tội và phải chịu hình phạt nhất thiết phải được thực hiện thông qua hoạt động xét xử và quyết định bằng một bản án Như vậy, xét xử là hoạt động của Tòa án nhân danh Nhà nước để xem xét và ra phán quyết đối với các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, hành chính

Nếu căn cứ vào nội dung các vụ án thì hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nước ta hiện nay có thể chia ra thành các loại: xét xử án hình sự; xét

xử án dân sự (bao gồm cả xét xử án dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, kinh tế) và xét xử án hành chính Nếu căn cứ vào cấp độ xét xử thì xét xử có thể chia thành xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm, trong đó nguyên tắc hai cấp xét xử (xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm) được thực hiện một cách triệt để và thống nhất Nếu căn cứ vào thời hạn và các bước tiến hành tố tụng thì xét xử có thể chia thành hai loại: xét xử theo thủ tục đầy đủ và xét xử theo thủ tục rút gọn Trong quá trình xét xử một

vụ án hình sự, việc tuyên bố một người là có tội và phải chịu hình phạt nhất thiết phải thông qua hoạt động xét xử của Tòa án Một người được coi là có tội khi người đó đã bị Tòa án xét xử và kết án theo các quy định của pháp luật bằng một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Việc xét xử của Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng và phải trải qua

Trang 21

các giai đoạn cụ thể như chuẩn bị xét xử, nghiên cứu hồ sơ, tổ chức phiên tòa xét hỏi, tổ chức và điều khiển việc tranh luận, việc nghị án và ban hành bản

án, quyết định của Tòa án Việc xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số v.v chỉ có thông qua hoạt động xét xử, Tòa án mới được phép ban hành các bản

án, quyết định về hình sự, dân sự, hành chính để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và các tổ chức đúng theo quy định của pháp luật

Như vậy, xét về bản chất thì nội dung của hoạt động xét xử của Tòa án theo chức năng được Nhà nước giao cho chính là hoạt động áp dụng pháp luật

Để đảm bảo cho việc xét xử được khách quan, công bằng, nghiêm minh và đúng pháp luật thì hoạt động xét xử của Tòa án phải được tiến hành theo các thủ tục: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là cấp (thủ tục) xét xử đầu tiên cũng được ghi nhận là giai đoạn đầu tiên của hoạt động xét xử, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật Đây cũng là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự và được bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án và kết thúc khi Tòa án ra bản án hình sự sơ thẩm kết tội bị cáo hoặc tuyên không phạm tội Hoạt động xét xử sẽ dừng tại giai đoạn này nếu như bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị

BLTTHS 2003 quy định, việc xét xử vụ án hình sự theo trình tự sơ thẩm do HĐXX gồm Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân tiến hành (trong trường hợp cần thiết hoặc pháp luật quy định thì HĐXX có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân ) Trong quá trình xét xử HĐXX căn cứ vào các quy định của pháp luật nội dung tiến hành xác định sự thật khách quan

Trang 22

của vụ án để nhân danh nhà nước ra phán quyết bằng một bản án về hành vi

bị coi là tội phạm và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội hoặc tuyên bố không phạm tội để minh oan cho người vô tội

Từ những phân tích trên, có thể rút ra kết luận: Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của TAND là một hình thức thực hiện pháp luật do TAND cấp huyện và TAND cấp tỉnh tiến hành thông qua hoạt động nhân danh Nhà nước của HĐXX (gồm Thẩm phán và các HTND) nhằm xác định sự thật khách quan về vụ án và ra phán quyết (bản án, quyết định) về hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm đồng thời áp dụng hình phạt đối với người phạm tội và các trách nhiệm pháp lý khác (nếu có) đối với chủ thể pháp luật có liên quan hoặc tuyên bố không phạm tội

để minh oan cho người vô tội

1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ

án hình sự của Tòa án nhân dân

1.1.2.1 Áp dụng pháp luật trong xét xử hình sự sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân do Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân

dân cấp tỉnh tiến hành

Mặc dù BLTTHS 2015 đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực nên theo pháp luật Việt Nam hiện hành, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định cụ thể tại các điều từ 170 đến 175 thuộc Chương XVI Bộ luật

Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản pháp luật có liên quan

* Thẩm quyền xét xử theo vụ việc

Có thể căn cứ vào tính chất quan trọng của khách thể bị tội phạm xâm hại, mức độ nghiêm trọng hoặc phức tạp của tội phạm, điều kiện cơ sở vật chất, năng lực của cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới,… để phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương Theo quy định tại Điều 170 BLTTHS năm 2003 thì thẩm quyền xét xử

Trang 23

sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự quân khu bao gồm hai trường hợp sau đây:

+ Những vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực (các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và các tội phạm thuộc các trường hợp tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003)

+ Những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án cấp dưới mà mình lấy lên

để xét xử

Đối với trường hợp thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định cụ thể những vụ án nào thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh sẽ lấy lên để xét xử Điều này còn phụ thuộc vào sự đánh giá năng lực thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp huyện đối với từng vụ án Thông thường đó là những vụ án phức tạp, có nhiều tình tiết khó đánh giá thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người Ngoài ra, trường hợp bị cáo phạm nhiều tội trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án để đảm bảo thống nhất trong hoạt động tố tụng (Điều 173 BLTTHS năm 2003)

Cũng theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003 thì phần lớn số lượng các vụ án hình sự xét xử sơ thẩm sẽ được thực hiện tại toà án nhân dân cấp huyện và Toà án quân sự khu vực Quy định đã thể hiện hướng cải cách trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án là tập trung việc xét xử sơ thẩm ở cấp huyện; tòa án cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm; TAND cấp cao chủ yếu xét xử phúc thẩm của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND

Trang 24

cấp tỉnh, cấp huyện; TAND tối cao tập trung vào công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn các Tòa án áp dụng pháp luật thống nhất và làm tốt chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm xét xử Theo hướng này, Tòa án cấp huyện sẽ xét xử

sơ thẩm tất cả các vụ án hình sự với tội danh mà khung hình phạt từ mười lăm năm tù trở xuống, trừ những tội quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003

* Thẩm quyền xét xử theo đối tượng

Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự căn cứ vào đối tượng phạm tội Vấn

đề này được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002

Việc phân định thẩm quyền xét xử theo đối tượng giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn trong công tác điều tra, truy tố, xét xử Việc giải quyết các vụ án liên quan đến quân đội nếu do Toà án nhân dân xét xử sẽ

có thể gặp khó khăn vì sẽ liên quan đến những lĩnh vực chuyên môn trong quân sự, cũng như liên quan đến bí mật quân sự…

Trường hợp thứ nhất: tội phạm được thực hiện trong lãnh thổ Việt

Nam, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án sẽ được xác định dựa trên các căn cứ:

+ Nơi tội phạm được thực hiện: Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện Nơi tội phạm được thực hiện

là nơi người phạm tội đã thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm để xâm phạm tới quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Có trường hợp nơi tội phạm được thực hiện và nơi phát hiện tội phạm là đồng nhất

Trang 25

nhưng đối với những trường hợp phạm tội tinh vi, người phạm tội cố tình che dấu việc phạm tội của mình thì nơi tội phạm được thực hiện và nơi phát hiện tội phạm là không đồng nhất

+ Nơi kết thúc điều tra: Trong thực tế có nhiều vụ án phức tạp, tội phạm xảy ra tại nhiều nơi khác nhau hoặc không thể xác định được nơi thực hiện tội phạm thì thẩm quyền xét xử sẽ thuộc về Tòa án nơi kết thúc việc điều tra

Quy định ở khoản 1 Điều 171 BLTTHS năm 2003 là khá hợp lý, bao quát được phần lớn các trường hợp xảy ra trong thực tế và góp phần hạn chế tình trạng tranh chấp thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án

Trường hợp thứ hai: bị cáo phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng

vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam, trong trường hợp này nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước có thẩm quyền xét xử Nhưng cũng có một thực tế là có thể

bị cáo không có nơi cư trú ổn định hoặc cơ quan tiến hành tố tụng không thể xác định được nơi cư trú cuối cùng của bị cáo Khi đó thẩm quyền xét xử vụ

án sẽ theo quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét

xử Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự Trung ương Như vậy, đối với những vụ án hình sự xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam thì thẩm quyền xét xử sơ thẩm chỉ thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu Đối với những vụ án mà tội phạm được thực hiện tại nước ngoài thì việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ gặp phải một

số trở ngại mà có thể Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự cấp khu vực không đủ điều kiện thực hiện xét xử Vì vậy quy định chỉ trao thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu đối với những vụ án như vậy là hoàn toàn hợp lý Riêng đối với Tòa án quân sự, Phần

II Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT/TANDTC - VKSNDTC - BQP - BCA

Trang 26

ngày 18/4/2005 về hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự có quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo lãnh thổ Nhìn chung, quy định này thống nhất với Điều 171 BLTTHS năm 2003, được vận dụng để phù hợp với đặc thù riêng của đối tượng xét xử của Tòa án quân sự

Một trường hợp đặc biệt khác mà việc phân định thẩm quyền xét xử có liên quan tới dấu hiệu lãnh thổ đó là trường hợp của những vụ án xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam Trong trường hợp này thẩm quyền xét xử được quy định tại Điều 172 BLTTHS năm 2003 Những vụ án này luôn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam Tòa án nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng kí có thẩm quyền xét xử

1.1.2.2 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân là hoạt động nhân danh Nhà nước do Hội đồng xét xử gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành để ra quyết định áp dụng pháp luật bằng bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm và có tính cưỡng chế thi hành khi có hiệu lực

Xuất phát từ nguyên tắc Hiến định “Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số”, chức năng xét xử của Tòa án được thực hiện thông qua hoạt động

áp dụng pháp luật của HĐXX Theo quy định của pháp luật, thành phần HĐXX sơ thẩm của các TAND bao gồm một Thẩm phán và hai HTND (trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba HTND) Thẩm phán và HTND là những chủ thể duy nhất được pháp luật giao quyền áp dụng pháp luật trong xét xử Đây là một trong những đặc điểm khác biệt của thủ tục xét xử sơ thẩm so với các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Ở thủ tục xét xử phúc thẩm, thành phần HĐXX gồm ba Thẩm phán (chỉ trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai HTND) Còn trong Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không có Hội

Trang 27

thẩm tham gia

Thẩm phán là người được tuyển chọn bổ nhiệm theo trình tự chặt chẽ với những tiêu chuẩn nghiêm ngặt để thực hiện nhiệm vụ thường xuyên là giải quyết, xét xử các loại án theo thẩm quyền của Toà án Hội thẩm là người được

cử hoặc bầu để đại diện cho nhân dân tham gia xét xử cùng Thẩm phán Trong quá trình xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình được quy định cụ thể tại Điều 39, Điều 40 BLTTHS 2003

Tính chất nhân danh Nhà nước thể hiện ở chỗ, trong khi thực hiện hoạt động xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những người được Nhà nước trao quyền nhân danh Nhà nước xét xử các vụ án để xử phạt đối với các hành

vi bị coi là tội phạm nhằm bảo vệ pháp luật và công lý Các phán quyết (bản án, quyết định) của HĐXX không nhân danh cá nhân hoặc nhân danh Tòa án mà nhân danh Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Điều 224 BLTTHS) Bản án, quyết định của HĐXX có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của

cơ quan tổ chức và công dân Trong đó có những quyền chỉ Tòa án mới phán quyết được như là quyền sống, quyền tự do của con người Tính quyền lực này được thể hiện ngay phần mở đầu của bản án, quyết định, đó là “Nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Ngoài ra, nó còn được thể hiện trong các quy định của pháp luật buộc “bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được mọi công dân, cơ quan tổ chức tôn trọng Cá nhân, cơ quan tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án” Với đặc điểm này, bản án không đơn thuần chỉ là văn bản áp dụng pháp luật như của các cơ quan nhà nước khác mà thể hiện tính nhân đạo, dân chủ, nền công lý và pháp chế của một quốc gia

1.1.2.3 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân phải dựa trên kết quả của hoạt động điều tra, truy tố của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

Trên cơ sở thẩm quyền được Hiến pháp quy định và được BLTTHS cụ

Trang 28

thể hóa thì Toà án là cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ truy tố từ VKSND

để thực hiện thẩm quyền theo quy định của BLTTHS, có quyền độc lập để ra các quyết định trên cơ sở tài liệu tiếp nhận và thông qua hoạt động chuyên biệt của mình Kết quả điều tra, truy tố của các giai đoạn trước thường được phản ánh thông qua các quyết định ADPL của Tòa án Quá trình nghiên cứu

hồ sơ nếu xét thấy việc buộc tội bị can là thiếu căn cứ, không chính xác hoặc cần làm sáng tỏ một số vấn đề về nội dung của vụ án liên quan đến việc xác định có hay không hành vi phạm tội thì Thẩm phán được phân công giải quyết

vụ án có thẩm quyền ra một trong những văn bản áp dụng pháp luật sau: Quyết định chuyển vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định trả

hồ sơ để điều tra bổ sung Đối với các trường hợp đủ điều kiện xét xử thì Toà

án phải ra quyết định ADPL sau: Lệnh tạm giam, quyết định đưa vụ án ra xét

xử, quyết định tạm giam…

Theo quy định tại Điều 196 BLTTHS năm 2003, Tòa án không được xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố Quy định này chưa thể hiện được đề cao kết quả tranh tụng tại phiên tòa như yêu cầu đã được xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW (3) và Nghị quyết số 49 – NQ/TW (1) Đổi mới quy định về giới hạn của việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm được quy định tại Điều 298 BLTTHS 2015 bổ sung thêm quy định “ Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để VKS truy tố lại…nếu VKS vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó”, đây là một quy định quan trọng nhằm tránh sự lạm quyền của Tòa án, đề cao vai trò của cơ quan công tố cũng như tôn trọng các quyết định sơ thẩm nhằm đảm bảo sự độc lập của Tòa án trong xét xử, đảm bảo phán quyết của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa

1.1.2.4 Quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử hình sự sơ thẩm của

Trang 29

Tòa án nhân dân phải căn cứ vào các chứng cứ khách quan, mọi phán quyết của Tòa án đều phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa

Việc ra quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử của Tòa án trên cơ sở các chứng cứ khách quan là điều kiện đảm bảo cho việc xét xử đạt được mục đích đặt ra của tố tụng hình sự, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đây là một trong những đặc điểm khác biệt cơ bản giữa hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự so với hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác Hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác chủ yếu được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc quyền uy, phục tùng Việc ra quyết định

áp dụng pháp luật không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bị áp dụng và ý kiến của đối tượng bị áp dụng chỉ có ý nghĩa tham khảo đối với cơ quan áp dụng pháp luật Căn cứ để quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự sơ thẩm ở TAND là cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý

Cơ sở thực tế của quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm là

sự thật khách quan của vụ án được tái hiện lại thông qua hệ thống các chứng cứ (vật chứng, lời khai, kết luận giám định, các biên bản về hoạt động điều tra và các tài liệu khác) về vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và được kiểm tra, xem xét và đánh giá công khai tại phiên toà Chứng cứ là phương tiện duy nhất

để xác định sự thật khách quan của vụ án [9, tr.322] (chứng minh tội phạm)

Thông qua hoạt động xét hỏi, kết quả tranh tụng tại phiên tòa HĐXX sẽ

có điều kiện kiểm chứng lại toàn bộ nội dung vụ án, xem xét, kiểm tra và đánh giá tình tiết vụ án để tìm ra sự thật khách quan HĐXX nhân danh Nhà nước ra các phán quyết xác định bị cáo có tội hay không có tội? Nếu có tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS? Xác định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và trách nhiệm pháp lý khác (nếu có) đối với các chủ thể có liên quan Trong trường hợp không đủ chứng cứ họăc các chứng cứ không rõ ràng

Trang 30

cần phải tiếp tục điều tra làm rõ, thì HĐXX ra quyết định trả hồ sơ để điều tra

bổ sung

Cơ sở pháp lý của quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm là các quy định pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung (BLHS, BLDS, ) mà Toà án căn cứ vào đó để ra các phán quyết về các vấn đề cần giải quyết trong

vụ án (tội danh, điều khoản BLHS, hình phạt, biện pháp tư pháp, án phí, )

Như vậy, việc HĐXX ra phán quyết trên cơ sở các quy định pháp luật, các chứng cứ khách quan về vụ án được kiểm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy phương pháp áp dụng pháp luật trong xét xử của Tòa án là phương pháp tranh tụng công khai, bình đẳng tại phiên tòa giữa các bên buộc tội

và bào chữa Vì vậy, đảm bảo cho hoạt động tranh tụng một cách dân chủ, công khai, bình đẳng giữa các bên tham gia tranh tụng; nghiêm chỉnh tuân thủ các nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo có ý nghĩa rất quan trọng

và quyết định đối với chất lượng các phán quyết của HĐXX

1.1.2.5 Áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án được tuân thủ chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTHS quy định

ADPL trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đòi hỏi những yêu cầu nghiêm ngặt, đảm bảo tính chặt chẽ hơn các hoạt động ADPL khác do tính chất hình sự của nó và do BLTTHS quy định Tính chặt chẽ của hoạt động ADPL này được biểu hiện ở hai khía cạnh: đó là chặt chẽ về hình thức áp dụng, hay nói cách khác là chặt chẽ về trình tự thủ tục, thẩm quyền; tiếp đến

là chặt chẽ về nội dung áp dụng bao gồm áp dụng nội dung BLTTHS và nội dung BLHS

Tính chặt chẽ về hình thức được thể hiện ở mọi hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng phải tuân thủ theo quy định của BLTTHS ở mọi giai đoạn của hoạt động xét xử, chẳng hạn: Khi được phân công giải quyết vụ án Thẩm phán phải xem xét hồ sơ có thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân

Trang 31

dân cấp mình hay không nếu không thuộc thẩm quyền thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện hoạt động ADPL bằng cách ra quyết định chuyển vụ án Nếu vụ án đủ điều kiện để đưa ra xét xử thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa Tại phiên tòa nếu xét thấy việc rút truy tố của Kiểm sát viên là không có căn cứ thì Thẩm phán

ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp Nội dung của các quyết định nêu trên phải được thực hiện theo quy định của BLTTHS 2003

Tính chặt chẽ về nội dung được thể hiện ở mỗi điều luật áp dụng đòi hỏi sự chính xác về điểm khoản phù hợp với nội dung phải giải quyết, không

có sự áp dụng tương tự cũng như suy diễn sự việc để ADPL tương tự

Tính chặt chẽ của ADPL trong hoạt động tố tụng hình sự nói chung, hoạt động xét xử của TAND nói riêng nhằm mực đích đảm bảo quyền của người tham gia tố tụng, tránh sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời đảm bảo sự khách quan, là cơ sở pháp lý cho cơ quan, tổ chức, công dân giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng thông qua các quyền khiếu nại tố cáo được quy định tại chương XXXV BLTTHS 2003

1.1.2.6 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là quá trình cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự đối với mỗi bị cáo

Mục đích cuối cùng của ADPL trong xét xử sơ thẩm án hình sự của TAND là xác định có hay không có hành vi phạm tội của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội để quyết định trách nhiệm hình sự đối với chủ thể đó Đây là quá trình cá thể hoá quy phạm pháp luật với một hay nhiều bị cáo trong một

vụ án cụ thể khi đã xác định bị cáo có tội và quyết định trách nhiệm hình sự đối với họ và trách nhiệm dân sự nếu có Tính cá biệt này được thể hiện ở hai phạm trù là văn bản cá biệt và cá thể hoá quy phạm pháp luật đối với chủ thể

vi phạm Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động này cũng là cá thể hoá Hoạt động cá thể hoá quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm chỉ được áp

Trang 32

dụng đối với chủ thể đó khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm Do đó, đối với các quyết định chuyển vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án chỉ được cá biệt một cách chính xác sau khi đã đáp ứng được yêu cầu của các quyết định trên hoặc khắc phục được những nguyên nhân

để ra các quyết định đó

Để đi đến ADPL cuối cùng Toà án phải trải qua quá trình xác định tính khách quan đối với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, cáo trạng của VKSND thông qua các QPPL của BLHS và BLTTHS đồng thời căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để làm cơ sở cá biệt hoá quy phạm pháp luật Chẳng hạn, trong một vụ án cụ thể Toà án phải xuất phát

từ quy phạm pháp luật hình sự để xem bị cáo bị truy tố có đúng thẩm quyền,

có tội hay không, phạm tội gì, tính chất mức độ, điều kiện hoàn cảnh phạm tội như thế nào Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi ra sao, bị cáo có xuất trình được các tài liệu chứng cứ để chứng minh hành vi của mình là không có tội hay không… để từ đó HĐXX ra phán quyết đối với hành vi phạm tội của bị cáo Bản thân văn bản ADPL đã là văn bản cá biệt nên bản án hay quyết định của Toà án cũng mang những đặc điểm chung nhất của loại văn bản này Vì vậy, khi áp dụng Toà án phải căn cứ vào những quy phạm pháp luật hình sự

và quy pháp pháp luật dân sự để xác định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự Trong đó, áp dụng quy phạm pháp luật hình sự được xác định là nội dung chính của quá trình ADPL trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Toà án

1.1.3.Vai trò của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

Thứ nhất, trước hết ADPL hình sự của Tòa án có vai trò bảo vệ các

quyền con người, quyền công dân trước nguy cơ xâm hại của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các chủ thể khác Bằng những bản án nghiêm minh, Tòa án đã góp phần vào việc duy trì trật tự xã hội, đảm bảo an ninh chính trị,

Trang 33

trật tự an toàn xã hội, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể tại BLHS

Thứ hai, ADPL hình sự của Tòa án có vai trò to lớn trong việc hoàn

thiện hệ thống pháp luật thực định nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Trước tiên, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật những

tư duy pháp lý mới Thật vậy, thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét

xử của Tòa án đã chứng minh rằng, các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp nói riêng đều được kiểm nghiệm qua công tác xét xử của Tòa án về tính phù hợp hay chưa phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội; về tính đầy đủ, toàn diện hay chưa đầy đủ, còn phiến diện, còn "lỗ hổng" của quy phạm pháp luật so với yêu cầu cần điều chỉnh bằng pháp luật của các mối quan hệ xã hội

Thứ ba, ADPL hình sự của Tòa án có vai trò quan trọng trong việc

nâng cao ý thức pháp đối với nhân dân Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò khắc phục và chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, khôi phục lại trật tự pháp luật trong các lĩnh vực bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm, truy cứu trách nhiệm pháp lý các chủ thể đã có hành vi vi phạm theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng Ngoài ra, áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án còn có vai trò rất quan trọng trong việc góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân bằng những vụ việc cụ thể, đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử công khai

Thứ tư, ADPL của TAND có vai trò quan trọng trong việc thực hiện

các chính sách của Nhà nước và đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam Áp dụng pháp luật là hoạt động thường xuyên của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình

để góp phần thực hiện thành công chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 34

1.2 Nội dung và thủ tục áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

1.2.1 Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

Nội dung hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử hình sự sơ thẩm của TAND bao gồm áp dụng pháp luật hình thức (pháp luật tố tụng hình sự) và áp dụng pháp luật nội dung (pháp luật hình sự) Hai nội dung này là hai mặt có liên quan chặt chẽ và tác động lại lẫn nhau của một quá trình áp dụng pháp luật thống nhất và biện chứng Việc áp dụng pháp luật hình thức là điều kiện đảm bảo tính hợp pháp, khách quan của việc áp dụng pháp luật nội dung Và ngược lại việc áp dụng pháp luật nội dung đảm bảo cho phán quyết của HĐXX có căn cứ, chính xác, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người

vô tội Sự coi trọng nội dung này hay coi nhẹ nội dung kia đều có thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật của HĐXX

Việc ra quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử hình sự sơ thẩm của TAND chính là việc HĐXX nhân danh Nhà nước ra phán quyết (bản án, quyết định) về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về tội danh, trách nhiệm hình sự, hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo, ) Bản chất pháp lý của các quyết định của HĐXX về tội danh và hình phạt chính là kết quả của quá trình giải quyết hai nội dung cơ bản của pháp luật hình sự là tội phạm và hình phạt

Định tội danh là việc xem xét sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa hành vi đã xảy ra trên thực tế với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm

cụ thể được quy định trong BLHS [9, tr.299] Quyết định hình phạt là việc lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS tương ứng với một cấu thành tội phạm cụ thể, tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để áp dụng đối với người phạm tội

Trong hệ thống pháp luật nước ta hiện nay, vấn đề tội phạm và các hình

Trang 35

thức trách nhiệm pháp lý (chủ yếu là hình phạt) chỉ được quy định duy nhất trong BLHS Do đó việc xác định tội danh, quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp phải căn cứ vào các quy định của BLHS Điều đó có nghĩa là BLHS là cơ sở pháp lý để Tòa án ra các phán quyết khi xét xử các vụ án hình

sự Việc xác định tội danh và hình phạt đối với bị cáo dựa vào các căn cứ pháp lý khác ngoài quy định của BLHS đều là không hợp pháp Trong thực tế,

có một số văn bản đơn ngành của các cơ quan tư pháp đề cập đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt nhưng đó chỉ là những văn bản mang tính chất hướng dẫn của cơ quan nghiệp vụ cấp trên áp dụng các quy định của BLHS về tội phạm và hình phạt nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn chưa được cơ quan có thẩm quyền kịp thời hướng dẫn hoặc hướng dẫn chưa đầy đủ, cụ thể để kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng giai đoạn cụ thể

1.2.2 Thủ tục áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình

sự của Tòa án nhân dân

Áp dụng pháp luật là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn tiếp theo Về mặt lý luận, như

đã phân tích ở trên, quy trình áp dụng pháp luật được phân thành bốn giai đoạn: 1/phân tích, đánh giá những tình tiết thực tế khách quan của vụ việc và các đặc trưng pháp lý của nó; 2/lựa chọn quy phạm pháp luật cần áp dụng, làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của quy phạm pháp luật đó; 3/ra văn bản áp dụng pháp luật; 4/tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật

Việc nghiên cứu quy trình áp dụng pháp luật trong xét xử của Tòa án cũng phải được tiến hành trên cơ sở những quan điểm lý luận chung nêu trên Tuy nhiên, hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và xét xử hình sự sơ thẩm của TAND nói riêng là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều công đoạn và các thủ tục tố tụng rất chặt chẽ Đặc điểm này xuất phát từ mục đích của hoạt động xét xử là bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý, các quyền và lợi ích hợp

Trang 36

pháp của công dân Trên cơ sở quyết định truy tố (cáo trạng) của Viện kiểm sát, HĐXX có trách nhiệm xác định sự thật khách quan của vụ án một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện để làm cơ sở cho việc áp dụng pháp luật và

ra các phán quyết về vụ án nhân danh Nhà nước Xuất phát từ đặc điểm này,

có thể phân quy trình áp dụng pháp luật trong xét xử hình sự sơ thẩm của TAND thành các giai đoạn sau đây:

Thứ nhất, nghiên cứu hồ sơ, đánh giá các tình tiết, chứng cứ, tài liệu về

vụ án: Đây là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo tiền

đề cho các giai đoạn tiếp theo của quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án Về mặt lý luận, đây là giai đoạn phân tích, đánh giá những tình tiết khách quan của vụ án và các dấu hiệu đặc trưng pháp lý của nó Công việc này được tiến hành trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa

Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án cần tập trung làm rõ các vấn đề sau:

- Xác định vụ án có thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp mình hay không? Việc tách, nhập vụ án có cần thiết và đúng pháp luật hay không?

- Các thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố có đảm bảo đầy đủ

Trang 37

nghiên cứu hồ sơ cần chú ý làm sáng tỏ các yếu tố thuộc đối tượng chứng minh để là cơ sở cho việc áp dụng pháp luật sau này, cụ thể là cần xác định:

- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không? Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội?

- Ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội? Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội?

- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo?

- Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và các tình tiết khác cần thiết để giải quyết đúng đắn vụ án? [59, tr.49]

Về nguyên tắc, phán quyết của HĐXX phải căn cứ vào các chứng cứ khách quan đã được kiểm tra, xác minh tại phiên toà và kết quả tranh tụng Vì vậy, HĐXX không được phép đánh giá các tình tiết, các chứng cứ về vụ án chỉ dựa trên cơ sở hồ sơ vụ án mà phải căn cứ vào kết quả điều tra công khai

và tranh tụng tại phiên toà với sự tham gia của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng

Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tiến hành xét hỏi bị cáo, người làm chứng, các đương sự, người giám định, và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan để xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như các tình tiết khác liên quan

Trong phần tranh luận các chủ thể của bên buộc tội và bào chữa trình bày các lập luận, đưa ra lý lẽ, chứng cứ và viện dẫn các quy phạm pháp luật cần thiết để đối đáp với nhau nhằm bảo vệ quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án Thực tiễn xét xử cho thấy trong nhiều trường hợp thông qua tranh luận, HĐXX hoặc các bên đã phát hiện những vấn đề, tình tiết của vụ án chưa được xác minh đầy đủ cần thiết quay lại phần xét hỏi để xem xét thêm chứng cứ Kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án, điều tra công khai và tranh tụng tại phiên toà là cơ sở thực tế để HĐXX có kết luận đúng đắn và ra các phán

Trang 38

quyết chính xác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án

Những phân tích trên cho thấy ở giai đoạn đầu tiên của quá trình áp dụng pháp luật trong xét xử, ngoài HĐXX còn có sự tham gia của các chủ thể khác - những người tham gia phiên toà như: kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, các đương sự, Đây là đặc thù của hoạt động áp dụng pháp luật trong xét

xử so với việc áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác

Thứ hai, xác định các quy phạm pháp luật cần áp dụng để định tội

danh, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp: Đây là giai đoạn quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật trong xét xử Hoạt động của HĐXX ở giai đoạn này là áp dụng những quy định của pháp luật nội dung (về tội phạm, hình phạt và các biện pháp tư pháp) để quy định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật liên quan Xét về bản chất pháp lý, đây là hoạt động mang tính chất vừa là định tính vừa là định lượng của HĐXX nhằm xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra có phải là tội phạm hay không và trách nhiệm pháp lý của bị cáo và các chủ thể pháp luật khác có liên quan trong vụ án

Về nguyên tắc, việc xác định tội danh, điều khoản BLHS, hình phạt cần

áp dụng và trách nhiệm pháp lý khác đối với bị cáo được thực hiện chính thức khi HĐXX nghị án Các thành viên HĐXX có trách nhiệm thảo luận và biểu quyết để xác định sự đồng nhất giữa cơ sở thực tế (sự thật khách quan của vụ án) với cơ sở pháp lý là các những quy định cụ thể của BLHS về tội phạm, hình phạt, dựa vào các yếu tố của cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm) Về mặt lôgíc, việc định tội danh bao giờ cũng diễn ra trước việc quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp Vì vậy, việc xác định đúng tội danh là tiền đề cho việc quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp khác

Thứ ba, ra quyết định áp dụng pháp luật thể hiện bằng bản án, quyết

định hình sự sơ thẩm: Bản án hoặc quyết định về vụ án của HĐXX là văn bản

Trang 39

áp dụng pháp luật của Tòa án, trong đó nhân danh Nhà nước, Toà án kết luận

bị cáo phạm tội và quyết định hình phạt cùng các biện pháp tư pháp khác (nếu có) hoặc xác định bị cáo không phạm tội và minh oan cho họ

Việc ra bản án, quyết định được HĐXX tiến hành trong phòng nghị án theo nguyên tắc bí mật; thiểu số phục tùng đa số; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Bản án là một văn bản áp dụng pháp luật ghi nhận chính thức kết quả áp dụng pháp luật của HĐXX đối với vụ án và là hình thức thể hiện tập trung rõ nét nhất chức năng xét xử của Tòa án Bản án phải được ban hành theo một thể thức thống nhất, bao gồm đầy đủ các nội dung theo quy định tại BLTTHS và được tuyên công khai tại phiên tòa

Theo tố tụng hình sự, thủ tục xét xử sơ thẩm kết thúc sau khi HĐXX ra phán quyết (bản án, quyết định) và tuyên đọc công khai nhưng theo quy trình

áp dụng pháp luật thì việc ra phán quyết (bản án, quyết định) chỉ là kết thúc giai đoạn thứ ba của quy trình áp dụng pháp luật nói chung

1.3 Yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

1.3.1 Yêu cầu của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ nhiệm vụ của cải cách tư pháp là đảm bảo để Toà án (TA) là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm Do đó, trong quá trình xét xử đòi hỏi Thẩm phán và HTND phải độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, HTND không thể bị chi phối bởi ý chí, đường lối giải quyết vụ án theo Thẩm phán Mọi phán quyết của HĐXX phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp đề ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định Vì vậy,

Trang 40

hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân nói chung và của TAND có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau đây:

1.3.1.1 Tính hợp pháp

Đây là yêu cầu đầu tiên đối với hoạt động áp dụng pháp luật của TAND

có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Tính hợp pháp của hoạt động này được thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Việc ban hành bản án, quyết định phải đúng thẩm quyền, theo đúng quy định của pháp luật tố tụng

- Bản án, quyết định được ban hành đúng trình tự, thủ tục và trong thời hạn luật định Theo quy định của pháp luật thì bản án, quyết định được ban hành khi xét xử đều phải tuân thủ theo nguyên tắc: xét xử tập thể, quyết định theo đa số và phải trải qua các thủ tục tố tụng chặt chẽ và trong một thời gian luật định Các thủ tục tố tụng, đặc biệt là các thủ tục tố tụng tại phiên tòa công khai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ

án Các hành vi vi phạm quy định pháp luật tố tụng khi tiến hành xem xét giải quyết một vụ án, dù là nhỏ, cũng đều có ảnh hưởng không tốt đến chất lượng xét xử

- Thời hạn tiến hành các thao tác tố tụng cũng được pháp luật quy định chặt chẽ Người áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân phải tôn trọng các quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn ban hành và tống đạt các quyết định đưa vụ án ra xét xử; thời hạn tạm giam; thời hạn kháng cáo v.v Có những thời hạn càng ngắn càng tốt (như thời hạn tạm giam; thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án ) nhưng cũng có những thời hạn không được phép rút ngắn (như thời gian tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến lúc mở một phiên tòa hình sự ) hoặc những thời hạn không được phép kéo dài (như thời hạn giải quyết một vụ án) Mọi biểu hiện vi phạm thủ tục và thời hạn ban hành bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đều ảnh hưởng

Ngày đăng: 25/08/2021, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w