1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của toàn án nhân dân thành phố vinh, tỉnh nghệ an

94 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ, cán bộ công chức ngành tòa án về hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án h

Trang 1

NGUYỄN THỊ THỦY

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ

Ý GÂY THƯƠNG TÍCH TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN

NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Vinh – 2018

Trang 2

NGUYỄN THỊ THỦY

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ

Ý GÂY THƯƠNG TÍCH TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN

NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 8.38.01.06

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN MẠNH

Vinh – 2018

Trang 3

Để hoàn thành Luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy giáo, cô giáo thuộc Trường Đại Học Vinh - Phòng đào tạo Sau Đại học, Khoa Luật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và có những góp ý quý báu, giúp tôi hoàn thiện Luận văn của mình

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi cũng chân thành cảm ơn tất cả bạn bè trong tập thể lớp Cao học Luật khóa 24 khoa Luật - Trường Đại học Vinh đã đoàn kết, yêu thương, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong học tập và nghiên cứu

Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An; Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến những người thân yêu trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi chuyên tâm nghiên cứu và hoàn thành Luận văn của mình

Do giới hạn về mặt thời gian và trình độ nghiên cứu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày 05 tháng 08 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi Các

số liệu và trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi

đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Vinh, tỉnh Nghệ An.

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét cho tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày 05 tháng 08 năm 2018

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thủy

Trang 5

XHCN: Xã hội chủ nghĩa BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự LTTHS: Luật tố tụng hình sự BLHS: Bộ luật Hình sự BLDS : Bộ luật Dân sự BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự TTHS : Tố tụng hình sự

BTP: Bộ Tư pháp TAND: Tòa án nhân dân CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng CQĐT: Cơ quan điều tra

NTHTT: Người tiến hành tố tụng CTV: Công tố viên

ĐTV: Điều tra viên KSV: Kiểm sát viên HĐXX: Hội đồng xét xử TP: Thẩm phán HTND: Hội thẩm nhân dân HTQN: Hội thẩm quân nhân NĐDHP: Người đại diện hợp pháp NBC: Người bào chữa

QBC: Quyền bào chữa

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN 1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 9 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của toà án nhân dân cấp huyện 9 1.2 Các giai đoạn và thủ tục áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ

án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện 22 1.3 Các điều kiện đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án

cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện 27 Tiểu kết chương 1 33 Chương 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 34 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân thành phố Vinh 34 2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An 40 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN 67 3.1 Quan điểm bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố

Trang 7

3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án

cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố

Vinh, tỉnh Nghệ An 68

Tiểu kết chương 3 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Con người là chủ thể sáng tạo nên các giá trị vật chất, giá trị tinh thần của xã hội Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa con người được phát triển toàn diện cả về thể lực

và trí lực, sức khỏe là vốn quý của con người, là tiền đề cơ bản để con người vươn tới những mục tiêu cao cả để cải tạo và phát triển xã hội Quyền con người trong đó

có quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chính sách xã hội - pháp luật của mọi quốc gia Tại khoản

1, Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy

định: "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm"

Để đảm bảo và thực hiện các quyền con người, quyền công dân cơ bản được Hiến pháp năm 2013 thừa nhận, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã giành hẳn một chương riêng – Chương XIV (Từ Điều 123 đến Điều 156) quy định các tội phạm xâm phạm đến quyền sống, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người và quy định trách nhiệm hình sự đối với những người thực hiện hành vi phạm tội này Đây là cơ sở quan trọng để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và toàn xã hội bảo vệ tốt quyền con người, quyền cơ bản của công dân

Tuy nhiên, dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, hội nhập

kinh tế quốc tế bên cạnh những yếu tố tích cực còn phát sinh những vấn đề tiêu cực

đã tác động đáng kể đến mọi mặt của đời sống xã hội, là nguồn gốc phát sinh hoặc tạo điều kiện cho tội phạm phát triển, trong đó có tội phạm cố ý gây thương tích Hầu hết các vụ án cố ý gây thương tích cho người khác đều phát sinh từ mâu thuẫn giữa con người và con người trong cạnh tranh làm ăn, trong sinh hoạt đời thường, dẫn đến xảy ra xung đột, bạo lực

Theo số liệu thống kê do Vụ Thống kê - Tổng hợp, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) trong thời gian gần đây số lượng các vụ án hình sự ngày càng gia tăng, đặc biệt là tội phạm liên quan đến tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người có

Trang 9

chiều hướng gia tăng Đáng chú ý là tội phạm cố ý gây thương tích đang có diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi và liều lĩnh, xuất hiện các ổ nhóm đối tượng có biểu hiện hoạt động theo kiểu “xã hội đen” và tình trạng một số thanh niên đi chơi thường mang theo hung khí nguy hiểm như: dao, mã tấu, kiếm,… để sử dụng khi có mâu thuẫn xẩy ra Các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người có tính chất côn đồ, “man rợ” xuất hiện ngày càng nhiều gây dư luận phẫn nộ, tâm lý hoang mang, lo sợ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự và đời sống

xã hội

Trước tình hình nói trên, việc áp dụng pháp luật để điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội cố ý gây thương tích vẫn còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của quần chúng nhân dân Trong cùng một vụ án,

có những quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tố tụng và giữa những người tiến hành tố tụng, vẫn còn nhầm lẫn giữa tội phạm cố ý gây thương tích với một số tội khác như tội vô ý gây thương tích, cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người Nguyên nhân của sự nhầm lẫn này là do trong quá trình xét xử đã đánh giá không đúng về ý thức chủ quan của người phạm tội, do hiểu không chính xác các mặt cấu thành tội cố ý gây thương tích dẫn đến tình trạng xét xử oan, sai, bỏ lọt tội phạm xâm hại đến quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp Để góp phần bảo vệ quyền được sống, quyền được bảo vệ sức khỏe của công dân trong bất kỳ hoàn cảnh xã hội nào, yêu cầu người cán bộ Tòa án ngoài việc phải nắm vững kỹ năng xét xử chung , đòi hỏi phải

có những kỹ năng mang tính chất đặc thù trong khi nghiên cứu, giải quyết các vụ án

cụ thể Giải quyết tốt vấn đề kỹ năng xét xử các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe con người sẽ góp phần bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, việc nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật (ADPL) trong xét xử sơ thẩm các vụ án

cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân (TAND) là đòi hỏi cấp thiết và lâu dài

Nhận thức đúng tầm quan trọng này tác giả mạnh dạn chọn đề tài "Áp dụng pháp

Trang 10

luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An" để làm luận văn thạc sỹ của

mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có nhiều công trình nghiên cứu có quy mô và hình thức ấn phẩm khác nhau được công bố đề cập đến việc áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án liên quan đến các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người nói chung Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như: Công trình nghiên

cứu của GS.TSKH Lê Cảm: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), tập 1 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Nxb thành phố Hồ Chí Minh; ThS Đinh Văn Quế: Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người, Nxb Công an nhân dân, 1994), Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Nxb Chính trị quốc gia, 1997 (tái bản 1999)

Ngoài ra, có các bài trên tạp chí Tòa án nhân dân, cụ thể như sau:

- Bài viết của tác giả An Văn Khoái, "N phạm tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng", Tạp chí TAND, số 3, năm 2011;

- Bài viết của tác giả Phan Văn Quân: "Lê Hữu N phạm tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng theo khoản 1 Điều 106 Bộ luật Hình sự", Tạp chí TAND, số 3, năm 2011;

- Bài viết của tác giả Lê Văn Sua: "Lê Hữu N phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Bộ luật Hình sự", Tạp chí TAND, số 7, năm 2011

- Bài viết của tác giả Vũ Thành Long về: Áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp Tạp chí Toà án nhân dân số 20 tháng 10/2006

- Bài viết của tác giả Chu Thị Vân Trang về: Vai trò sáng tạo của Tòa án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự Tạp chí Lập pháp số 27 tháng 9/2007

- Bài viết của Nguyễn Đăng Khuê về: Thực tiễn áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và những vướng mắc Tạp chí Toà án nhân dân số 22 tháng 11 năm 2008

Trang 11

- Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Huề về: Áp dụng tình tiết tăng nặng định khung giết trẻ em theo điểm c khoản 1 điều 93 Bộ luật hình sự Tạp chí Toà án nhân dân số 13 tháng 7 năm 2008

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Giàng Thị Bình: Áp dụng pháp luật trong xét

xử án hình sự ở Tòa án nhân dân tình Lào Cai, luận văn thạc sĩ luật học,Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2009

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Đàm Cảnh Long: Áp dụng pháp luật hình sự của Tòa án nhân dân - Qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Hải Yến: Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2013

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Thu Hà: Vai trò của áp dụng pháp luật về xét xử các vụ án hình sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền – Qua thực tiễn Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2015

- Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Đình Tĩnh: Các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác trong luật hình sự Việt Nam, luận án Tiến sỹ, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

Những công trình khoa học và bài viết trên là tài liệu vô cùng quý giá, là những căn cứ giúp tác giả có thêm nhiều thông tin bổ ích để phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn của mình Các bài viết đã nghiên cứu một cách có hệ thống vấn

đề áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án liên quan đến các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người nói chung và đề xuất những giải pháp khoa học nhằm bảo đảm chất lượng áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ về

cố ý gây thương tích ngày càng được nâng cao Tuy nhiên do các bài viết trên được nghiên cứu trước thời điểm Hiến pháp sửa đổi năm 2013 được thông qua, Bộ luật hình sự 2015 và Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chưa được ban hành nên có một số nội dung đã được nghiên cứu không còn phù hợp với tinh thần sửa đổi của pháp luật hình sự Hơn nữa, chưa có công trình nào nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý

Trang 12

luận về áp dụng pháp luật trong xét xử tội cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện ở cấp độ một luận văn Thạc sĩ luật học Do đó, kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu nêu trên, tác giả mạnh dạn tiếp cận vấn đề

áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét

xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An với mong muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ

An từ đó đề xuất, kiến nghị các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện nói chung, Tòa án nhân dân thành phố Vinh nói riêng trong công tác xét xử các vụ án cố ý gây thương tích

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, qua phân tích thực trạng ADPL trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, luận văn nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng, của Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn cả nước nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa các quan điểm khoa học và tiếp tục làm sáng tỏ thêm khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật, các giai đoạn áp dụng pháp luật và các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự

- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Làm rõ những kết quả đạt được và đưa ra những tồn tại hạn chế và những nguyên nhân của tồn tại trong áp dụng pháp luật xét xử sơ thẩm các vụ án

cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong thời gian vừa qua

Trang 13

- Đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng, các Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn cả nước nói chung, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các quan điểm khoa học về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ

án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân

- Các quy định pháp luật về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ

án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân

- Quá trình hình thành, phát triển, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung liên quan đến vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân

- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích tại Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong khoảng thời gian năm từ 2012 đến năm 2017

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 14

về Nhà nước và Pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về tăng cường pháp chế trong công tác đấu tranh phòng và chống các tội phạm về hình sự, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08NQ/TW ngày 02/1/2002 và Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện nói chung, của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:

- Phương pháp nghiên cứu luật học;

- Phương pháp tổng kết thực tiễn và phương pháp xã hội học;

- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích số liệu;

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp kết hợp với phương pháp trao đổi, tham khảo ý kiến chuyên gia

6 Những điểm mới của luận văn

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ các đặc điểm của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

- Luận văn đưa ra một số ý kiến đánh giá về thực tiễn áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2012 đến 2017

- Luận văn bổ sung thêm một số giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 15

- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng

tỏ lý luận về áp dụng pháp luật, làm phong phú thêm các luận giải khoa học về áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử đối với loại tội phạm xâm hại tính mạng sức khỏe con người trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ, cán bộ công chức ngành tòa án về hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói chung và hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích nói riêng; Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định trong nghiên cứu, giảng dạy môn Lý luận chung

về Nhà nước và Pháp luật tại các cơ sở đào luật; Luận văn có thể được tham khảo trong hoạt động xét xử của các Tòa án nhân dân cấp huyện ở Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật trong

xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố

ý gây thương tích của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử

sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ

SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH CỦA TÒA ÁN NHÂN

không có điều luật nào định nghĩa cụ thể về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn

hại cho sức khỏe của người khác Hiện nay, trong khoa học pháp lý có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này dẫn việc áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền để xét xử đối với loại tội phạm này vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất Trong phạm vi luận văn tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện ở giai đoạn sơ thẩm

Đối với khái niệm tội cố ý gây thương tích hiện có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể như sau:

Cách định nghĩa thứ nhất cho rằng: "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người

khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác." [1] Phạm Văn Beo (2009), Luật hình sự Việt Nam - Quyển 1 (Phần chung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Cách định nghĩa thứ hai cho rằng: "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị

thương hoặc tổn hại đến sức khỏe" [33, tr 137] Đinh Văn Quế (2002), Bình luận

Trang 17

khoa học Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), tập 1 Các tội xâm phạm tính mạng,

sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, (Bình luận chuyên sâu), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh

Dù nhìn nhận khái niệm này ở góc độ nào thì theo quan điểm của tác giả các cách định nghĩa trên vẫn còn những điểm chưa thực sự phù hợp bởi lẽ các định

nghĩa đã không đề cập đến năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS), dấu hiệu độ tuổi

chịu TNHS, cũng như tính trái pháp luật của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cho nên sẽ gây nhiều khó khăn cho các chủ thể tiến hành tố tụng khi xác định hành vi gây thương tích cho người khác đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay chưa để áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự ra phán quyết cuối cùng phù hợp với mức độ của hành vi phạm tội

Trên cở sở khoa học phân tích, đánh giá các định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích và cơ sở pháp lý được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS tác giả

mạnh dạn đưa ra khái niệm về tội cố ý gây thương tích như sau: Tội cố ý gây

thương tích là hành vi cố ý gây ra thương tích cho người khác một cách trái pháp luật, xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khoẻ của con người do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của

Bộ luật hình sự

Áp dụng pháp luật thực chất là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để ra các quyết định làm thay đổi, phát sinh hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể [38]

Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện là cấp (thủ tục) xét xử đầu tiên trong toàn bộ quá trình giải quyết một vụ án hình sự, là giai đoạn chuyển tiếp sau khi vụ án đã được điều tra, truy tố Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội, nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác mà pháp luật hình sự quy định Tòa

án nhân dân khi tiếp nhận hồ sơ sẽ xác định vụ án đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp mình hay không để thụ lý giải quyết Đây là hoạt động đặc trưng, thể

Trang 18

hiện chức năng riêng của Tòa án nhân dân, được diễn ra thường xuyên, liên tục thông qua các hoạt động áp dụng pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ và kết thúc khi Tòa án có thẩm quyền ra bản án hình sự sơ thẩm kết tội bị cáo hoặc tuyên không phạm tội Việc tuyên bố một người là có tội và phải chịu hình phạt nhất thiết phải được thực hiện thông qua hoạt động xét xử mà cụ thể là ở các giai đoạn diễn ra phiên tòa Hội đồng xét xử sẽ tiến hành các trình tự thủ tục theo luật định để xác định sự thật khách quan của vụ án, căn cứ vào các quy phạm pháp luật nhân danh Nhà nước để ra phán quyết (bản án, quyết định) đối với hành vi phạm tội Hoạt động áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm này sẽ dừng tại giai đoạn này nếu như bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị So với các giai đoạn (thủ tục) xét xử khác, ở giai đoạn xét

xử sơ thẩm hầu hết những người tham gia tố tụng đều được triệu tập để tham gia phiên tòa và tất cả các nguyên tắc của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đều được

áp dụng.

Như vậy, qua các phân tích ở trên có thể hiểu áp dụng pháp luật trong xét xử

sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện là một hình thức thực hiện pháp luật do TAND sơ cấp tiến hành thông qua hoạt động nhân danh Nhà nước của HĐXX (gồm Thẩm phán và các HTND) nhằm xác định sự thật khách quan về vụ án và ra phán quyết (bản án, quyết định) về hành vi cố ý gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, do người

có năng lực TNHS thực hiện và đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS đồng

thời áp dụng hình phạt đối với người phạm tội và các trách nhiệm pháp lý khác (nếu có) đối với chủ thể pháp luật có liên quan hoặc tuyên bố không phạm tội để minh oan cho người vô tội

1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

1.1.2.1 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện do Tòa án nhân dân cấp huyện tiến hành thông qua hoạt động nhân danh Nhà nước của Hội đồng xét xử

Trang 19

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được quy định cụ thể tại các điều

từ Điều 268 đến Điều 275 thuộc mục I Chương XXI Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 và các văn bản pháp luật có liên quan Theo đó, thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện được xác định dựa vào các yếu tố như: Vụ việc, đối tượng, lãnh thổ

Nếu thẩm quyền xét xử đối với các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện được xác định theo vụ việc thì căn cứ vào Điều 9, Điều 134, Điều 268 BLTTHS năm 2015 Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử đối với tội cố ý gây thương tích có khung hình phạt cao nhất đến 15 năm tù Quy định

đã thể hiện tinh thần cải cách trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự của Tòa án

là tập trung xét xử sơ thẩm ở Tòa án cấp huyện; xét xử phúc thẩm ở Tòa án cấp tỉnh ; công tác tổng kết xét xử, hướng dẫn các Tòa án áp dụng pháp luật thống nhất

và làm tốt chức năng giám đốc xét xử thuộc TAND Tối cao Việc mở rộng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện là một thay đổi phù hợp tình hình khách quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng cũng như giảm số lượng đáng kể vụ án tồn đọng tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu

Trong trường hợp thẩm quyền xét xử các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa

án nhân dân cấp huyện được xác định theo đối tượng thì việc phân định thẩm quyền được căn cứ vào các Điều 272, Điều 273 BLTTHS 2015 Đối chiếu với các quy định trên cho thấy Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án

cố ý gây thương tích đối với bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều

272, 273 BLTTHS 2015 Nếu bị cáo hoặc tội phạm vừa thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa

án nhân dân thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử đối với loại tội này khi các bị cáo hoặc tội phạm không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 272 BLTTHS 2015 và khung hình phạt cao nhất đến 15 năm tù BLTTHS

2015 quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự là hợp lý, thuận lợi cho những người tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án

Trang 20

Khi xét xử các vụ án cố ý gây thương tích để xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ thì phải căn cứ vào Điều 269 BLTTHS 2015 Ngoài ra, việc phân định thẩm quyền xét xử có liên quan tới dấu hiệu lãnh thổ đó là trường hợp của những vụ án xảy

ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam Trong trường hợp này thẩm quyền xét xử được quy định tại Điều 270 BLTTHS năm 2015 Những vụ án này luôn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam Tòa án nơi có sân bay, bến cảng mà tàu bay, tàu biển đó trở về đầu tiên trên lãnh thổ Việt Nam hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng kí có thẩm quyền xét xử

1.1.2.2 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của Tòa

án nhân dân cấp huyện phải dựa trên kết quả của hoạt động điều tra, truy tố của

Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng cấp

Kết quả điều tra, truy tố của các giai đoạn trước thường được phản ánh thông qua các quyết định ADPL của Tòa án Do đó, quá trình nghiên cứu hồ sơ đối với các tội phạm cố ý gây thương tích Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét việc điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân

đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật hay chưa dựa vào một số yếu tố sau:

Thứ nhất, căn cứ vào tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị xâm phạm về sức

khỏe Theo Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định thì tỷ lệ tổn thương sức

khỏe là yếu tố đầu tiên được xem xét để xác định có khởi tố hay không khởi tố tội

cố ý gây thương tích Tỷ lệ tổn thương sức khỏe từ 11% trở lên đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích Trường hợp tỷ lệ tổn thương sức khỏe dưới 11%, người thực hiện hành vi phải thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm như súng, dao….; Có tích chất côn đồ, có tổ chức… Trong trường hợp này nếu người bị xâm phạm sức khỏe gửi đơn trình báo tới cơ quan công an đồng thời yêu cầu cơ quan công an giám định tỷ lệ tổn thương sức khỏe thì đây là một trong những căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác

Thứ hai, căn cứ vào yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại

Trang 21

Căn cứ Khoản 1, Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Đối với trường hợp bị xâm phạm sức khỏe mà tỷ lệ tổn thương sức khỏe từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, dùng hung khí nguy hiểm…ác.Cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể ra quyết định khởi tố vụ án khi có yêu cầu của người bị hại Người bị hại mặc dù được giám định tổn thương sức khỏe, mức tổn thương đủ điều kiện để khởi tố về tội cố ý gây thương tích nhưng người bị hại không có đơn yêu cầu khởi tố hoặc rút đơn yêu cầu khởi tố, cơ quan có thẩm quyền không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó

Thứ ba, căn cứ vào độ tuổi của người thực hiện hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác

Đây cũng là một căn cứ quan trọng làm cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với tội cố ý gây thương tích Tuổi của người thực hiện hành vi này được tính dựa trên ngày sinh được ghi trên giấy khai sinh , chứng minh nhân dân…Theo đó người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm Từ 14-16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm được quy định tại khoản 4,5,6 Điều 134 Bộ luật hình sự Trường hợp người phạm tội dưới 14 tuổi thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố

ý gây thương tích dù tỷ lệ thương tật trên 11% hoặc thuộc nhóm tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

Từ các căn cứ nêu trên, quá trình nghiên cứu hồ sơ Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nếu xét thấy việc xác định tội danh là thiếu căn cứ, không chính xác hoặc cần làm sáng tỏ một số vấn đề về nội dung của vụ án liên quan đến việc xác định có hay không hành vi phạm tội thì Thẩm phán có thẩm quyền ra một trong những văn bản áp dụng pháp luật sau: Quyết định chuyển vụ án nếu xét thấy

vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp mình, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Đối với các trường hợp

đủ điều kiện xét xử thì Toà án phải ra quyết định ADPL sau: Lệnh tạm giam, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo được tại ngoại, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định tạm giam…

Trang 22

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa khi xét xử Tòa án có thể xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo theo tội danh mà VKS cùng cấp truy tố hoặc có thể Tòa án áp dụng khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh như đã truy tố thì Tòa án

có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn Điều 298 BLTTHS 2015 quy định giới hạn của việc xét xử của Tòa án là một trong những quy định quan trọng nhằm tránh sự lạm quyền của Tòa án, đề cao vai trò của cơ quan công tố cũng như tôn trọng các quyết định sơ thẩm nhằm đảm bảo sự độc lập của Tòa án trong xét xử, bảo đảm phán quyết của Tòa án phải dựa trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và những tài liệu chứng cứ đã được công bố công khai tại phiên tòa

1.1.2.3 Quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện phải căn cứ vào các chứng cứ khách quan, mọi phán quyết của Tòa án đều phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa

Căn cứ để ra quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của TAND cấp huyện là cơ sở thực tế và cơ sở pháp lý, đây là hai điều kiện đảm bảo cho việc xét xử đạt được mục đích đặt ra của tố tụng hình sự, đảm bảo

công bằng xã hội, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Cơ sở thực tế để quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của TAND cấp huyện là sự thật khách quan của vụ án được tái hiện lại thông qua hệ thống các chứng cứ (vật chứng, lời khai, kết luận giám định, các biên bản về hoạt động điều tra và các tài liệu chứng cứ khác) về vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và được xem xét và đánh giá công khai tại phiên toà Chứng cứ là phương tiện duy nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án để chứng minh tội phạm [57]

Trang 23

Cơ sở pháp lý để quyết định áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án

cố ý gây thương tích của TAND cấp huyện là các quy định pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung (BLTTHS, BLHS, BLDS ) mà Toà án căn cứ vào đó để ra các phán quyết về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (tội danh, điều khoản BLHS,

hình phạt, biện pháp tư pháp, án phí, )

Chẳng hạn, trong thực tiễn, có những vụ án rất khó phân biệt rõ ràng giữa hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người với hành vi giết người Nếu xem xét, đánh giá chứng cứ không chính xác sẽ dẫn đến việc định tội danh không đúng

Để định tội danh được chính xác, phản ánh đúng tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội thì về phương diện lý luận, cần xác định được các tiêu chí để phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người

Thông qua việc xét hỏi và kết quả tranh tụng tại phiên tòa HĐXX đã kiểm chứng lại được toàn bộ nội dung vụ án như xem xét, đánh giá tình tiết vụ án để tìm

ra sự thật khách quan từ đó mới ra các phán quyết xác định bị cáo có phạm tội cố ý gây thương tích hay không? Nếu bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích thì tội phạm

và hình phạt được quy định tại điều khoản nào của BLHS? Xác định nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đối với bị cáo và trách nhiệm pháp lý khác (nếu có) đối với các chủ thể có liên quan Trong trường hợp không đủ chứng

cứ họăc các chứng cứ không rõ ràng cần phải tiếp tục điều tra làm rõ, thì HĐXX ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung

1.1.2.4 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây tương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện là hoạt động nhân danh Nhà nước do Hội đồng xét xử gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành để ra quyết định áp dụng pháp luật bằng bản án (quyết định) hình sự sơ thẩm và có tính cưỡng chế thi hành khi có hiệu lực

Theo quy định của pháp luật, việc xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện thành phần HĐXX gồm: một Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa và hai Hội thẩm nhân dân (HTND), (trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba HTND)

Trang 24

Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là những người phải đáp ứng theo các điều kiện, tiêu chuẩn được quy định tại Điều 45, Điều 46 BLTTHS 2015 Đây là những chủ thể duy nhất được pháp luật giao quyền áp dụng pháp luật trong xét xử

Hoạt động nhân danh Nhà nước trong quá trình xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây tương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện được thể hiện ở chỗ: Trong khi thực hiện hoạt động xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là những người được Nhà nước trao quyền nhân danh Nhà nước xét xử đối với hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác Các phán quyết (bản án, quyết định) của HĐXX nhân danh Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Nội dung và hình thức của bản án phải được thể hiện theo mẫu bản án hình sự sơ thẩm được ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Bản án, quyết định của HĐXX có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân,trong đó có những quyền chỉ Tòa án mới phán quyết được như là quyền sống, quyền tự do của con người

1.1.2.5 Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Toà án nhân dân cấp huyện phải tuân thủ chặt chẽ về trình tự thủ tục do BLTTHS quy định

Việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự có tính chất quan trọng và phức tạp bởi vì chủ thể bị áp dụng pháp luật có thể được hưởng những lợi ích rất lớn nhưng cũng có thể phải chịu những hậu quả bất lợi rất nghiêm trọng nên pháp luật có sự xác định rõ ràng cơ sở, điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình áp dụng pháp luật Việc xét xử các vụ án hình sự nói chung, và xét xử các vụ án cố ý gây thương tích nói riêng đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của BLTTHS về trình tự thủ tục tố tụng nhằm đảm bảo tính chặt chẽ trong hoạt động ADPL Tính chặt chẽ về mặt hình thức trong quá trình

áp dụng pháp luật để xét xử các vụ án cố ý gây thương tích được biểu hiện thông qua các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng ở mọi giai đoạn xét xử trong đó

rõ nét nhất là tại phiên tòa Ở giai đoạn này Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải điều

Trang 25

khiển việc xét xử vụ án theo đúng trình tự thủ tục đã được quy định tại các Mục IV,

V, VI từ Điều 300 đến Điều 329 BLTTHS 2015 Quá trình xét xử được thực hiện theo nguyên tắc xét xử trực tiếp bằng lời nói và liên tục, chỉ xét xử những bị cáo, những hành vi theo tội danh mà viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã có quyết định

đưa ra xét xử

Tính chặt chẽ về nội dung được thể hiện ở mỗi điều luật áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo là chính xác về điểm khoản, phù hợp với nội dung phải giải quyết, không có sự áp dụng tương tự cũng như suy diễn sự việc để ADPL tương

tự nhằm mục đích xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh xét xử oan sai

1.1.2.5 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của Toà án nhân dân cấp huyện là quá trình cá biệt hoá những quy phạm pháp luật hình sự đối với mỗi bị cáo

Cá thể hóa hình phạt trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích là làm

cho hình phạt được tuyên phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, phù hợp với nhân thân cũng như hoàn cảnh phạm tội của người phạm tội Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt bảo đảm việc xét xử công bằng, đúng người, đúng tội Đây là nguyên tắc của việc lượng hình trong xét xử hình sự, đòi hỏi phải quyết định hình phạt riêng biệt đối với từng tội phạm cụ thể của từng bị cáo đích danh; hay một vụ phạm tội có nhiều bị cáo thì mỗi bị cáo bị hình phạt theo hành vi phạm tội mà người ấy tham gia; bị cáo phạm nhiều tội bị xét xử cùng một lần thì mỗi tội bị xử theo một hình phạt, sau đó quyết định hình phạt chung cho các

tội mà người ấy phải chịu

Mục đích cuối cùng của ADPL trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích là xác định có hay không có hành vi phạm tội của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội để quyết định trách nhiệm hình sự đối với chủ thể đó, là quá trình cá thể hoá quy phạm pháp luật với một hay nhiều bị cáo trong một vụ án cụ thể, khi đã xác định bị cáo có tội và quyết định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và trách nhiệm dân sự (nếu có) Tính cá biệt này được thể hiện ở hai phạm trù là: văn bản cá biệt và

cá thể hoá quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động này cũng là cá thể hoá Hoạt động cá thể hoá quy phạm pháp luật đối

Trang 26

với chủ thể vi phạm chỉ được áp dụng đối với chủ thể đó khi đủ yếu tố cấu thành tội

cố ý gây thương tích Đối với các quyết định chuyển vụ án, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án chỉ được cá biệt một cách chính xác sau khi đã đáp ứng được yêu cầu của các quyết định trên hoặc khắc phục được những

nguyên nhân để ra các quyết định đó

Để đi đến ADPL cuối cùng Toà án phải trải qua quá trình xác định tính khách quan đối với bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, cáo trạng của VKSND thông qua các QPPL của BLHS và BLTTHS đồng thời căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để làm cơ sở cá biệt hoá quy phạm pháp luật Trong vụ án cố ý gây thương tích quá trình từ khi thụ lý hồ sơ cho đến các giai đoạn xét xử sơ thẩm Toà án phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật hình

sự để xác định xem bị cáo bị truy tố có đúng thẩm quyền, có tội hay không có tội, tính chất mức độ, điều kiện hoàn cảnh phạm tội như thế nào; tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình ra sao, có xuất trình được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi của mình là vô tội hay không?… căn cứ vào những quy phạm pháp luật hình sự và quy pháp pháp luật dân sự để xác định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với người bị hại để từ đó HĐXX ra phán quyết bằng một bản án hoặc quyết định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra

1.1.3 Vai trò của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Toà án nhân dân cấp huyện

1.1.3.1 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương

tích của Toà án nhân dân cấp huyện có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân

Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động xét xử sơ thẩm các

vụ án cố ý gây thương tích chính là bảo vệ quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe trước nguy cơ xâm hại của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như của các chủ thể khác bởi lẽ đối với con người tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quý giá nhất Sức khỏe con người không chỉ là tài sản cá nhân mà còn là tài sản chung,

là nhân tố trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự là

Trang 27

quyền cơ bản của công dân Quyền này gắn liền với mỗi con người, là quyền quan trọng nhất, đáng quý nhất đối với mỗi công dân Do đó, đối với mỗi hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, gây tổn hại, thương tích cho người khác đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì đều bị trừng trị nghiêm khắc Thông qua hoạt động xét xử, chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước lựa chọn, áp dụng các quy phạm pháp luật để ra phán quyết (bản án, quyết định) đối với các hành vi cố ý gây thương tích cho người khác được pháp luật hình sự quy định tội phạm Bằng những bản án nghiêm minh, Tòa án đã góp phần vào việc duy trì trật tự an toàn xã hội, đảm bảo tính công bằng và bảo vệ tính mạng sức khỏe của mỗi công dân

1.1.3.2 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương

tích của Toà án nhân dân cấp huyện có vai trò to lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định nói chung và pháp luật hình sự nói riêng

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án đã chứng minh rằng, các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp nói riêng đều được kiểm nghiệm qua công tác xét xử của Tòa án về tính phù hợp hay chưa phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội; về tính đầy đủ, toàn diện hay chưa đầy đủ, còn phiến diện, còn "lỗ hổng" của quy phạm pháp luật so với yêu cầu cần điều chỉnh bằng pháp luật của các mối quan hệ xã hội Tội cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác được quy định song hành với sự ra đời của BLHS năm 1985 Theo thời gian các quy định đối với tội phạm này không còn phù hợp với thực tiễn xét xử nên đã được sửa đổi, bổ sung ở những BLHS 1999, BLHS 2009, BLHS 2015 Nếu so sánh các nội dung liên quan đến tội này được quy định trong BLHS 1985 với các quy định của các BLHS kế tiếp sau này mới thấy được tầm quan trọng của hoạt động áp dụng pháp luật trong xét

xử, có thể nói đây là nơi các quy phạm pháp luật được kiểm nghiệm chân thực nhất,

là nơi bộc lộ tính hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định nói chung và pháp luật hình sự nói riêng rõ nét nhất Thông qua áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử, Tòa án nhân dân phát hiện ra những dạng hành vi mới, những quan hệ xã hội cần phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh và cả những quy phạm pháp luật lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội từ đó đưa ra các kiến nghị xây

Trang 28

dựng, hoàn thiện các quy phạm pháp luật đối với loại tội phạm này phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội

1.1.3.3 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương

tích của Toà án nhân dân cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức pháp luật đối với nhân dân

Thực tế cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật là trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, sự tôn trọng pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hết sức hạn chế Trong thời gian qua, cùng với những tác động mạnh mẽ của mặt trái trong quá trình chuyển đổi kinh tế đất nước sang nền kinh tế thị trường và sự phát triển chóng mặt của khoa học –công nghệ thông tin, mạng xã hội đã kéo theo nhiều hệ lụy, vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng trong

đó đáng kể đến là tội phạm cố ý gây thương tích cho người khác Hầu hết nguyên nhân phát sinh loại tội này là do nợ nần, mâu thuẫn trong việc cạnh tranh làm ăn kinh doanh, mâu thuẫn xảy ra trong lúc ăn nhậu, mẫu thuẫn từ xung đột cá nhân hoặc xung đột nhóm, mâu thuẫn ghen tuông tình ái, mâu thuẫn xảy ra khi va chạm giao thông thậm chí là mâu thuẫn từ mạng xã hội Facebook các đối tượng phạm tội sẵn sàng sử dụng các công cụ như dao, kiếm, mã tấu để thanh trừ lẫn nhau Điều này cho thấy đạo đức của con người ngày càng đi xuống, đứng trước mẫu thuẫn các đối tượng manh động chỉ nghĩ đến việc gây án để giải tỏa cơn bực tức

mà không lường trước được hậu quả sẽ xảy ra

Do đó, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét

xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích có ý nghĩa rất quan trọng Bằng hoạt động của mình, Tòa án nhân danh Nhà nước ra bản án hoặc quyết định đối với các hành vi gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho người khác được pháp luật hình

sự bảo vệ nhờ đó các quy phạm pháp luật đến với cộng đồng dân cư một cách cụ thể, dễ hiểu; qua đó nhận thức, hiểu biết về pháp luật của người dân được nâng lên, tạo sự chuyển biến cơ bản về ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật trong quần chúng nhân dân, nên đây là hình thức tuyên truyền có ý nghĩa thiết thực

và dễ dàng đi vào đời sống nhân dân Những người tham dự phiên tòa được chứng kiến toàn bộ diễn biến quá trình Tòa án giải quyết, xét xử một vụ việc cụ thể, họ sẽ

Trang 29

hiểu rõ hơn pháp luật quy định đối với từng trường hợp như thế nào và bị xử lý ra sao, từ đó sẽ có ứng xử phù hợp với quy định của pháp luật qua đó góp phần giáo dục công dân ý thức nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức tôn trọng và bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người khác

1.1.3.4 Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của Toà án nhân dân cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa các chính sách của Nhà nước và đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật

Mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quyền của con người được pháp luật hình sự bảo vệ sẽ bị xử lý, trừng trị nghiêm khắc, tuy nhiên, bên

cạnh đó trong chính sách hình sự của nước ta vẫn có chính sách nhân đạo của Đảng

và Nhà nước trong việc xử lý người phạm tội đã được đề cao, thể hiện trên nhiều khía cạnh Chẳng hạn như trong nhiều trường hợp người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích là người dưới 18 tuổi, đối với độ tuổi này khi phát sinh mâu thuẫn rất

dễ bị kích động về tâm lý, thiếu suy nghĩ, hành động bột phát nên dễ dẫn đến phạm tội nên để cho bị cáo là người chưa thành niên phạm tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại về sức khỏe cho người khác có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời BLHS đã dành hẳn một chương (Chương XII) để áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Do vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động thường xuyên của các

cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình để góp phần thực hiện thành công chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.2 Các giai đoạn và thủ tục áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ

án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

1.2.1 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

Căn cứ vào BLTTHS có thể thấy quy trình áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện được phải trải qua các giai đoạn sau đây:

Trang 30

1.2.1.1 Nghiên cứu hồ sơ, đánh giá các tình tiết, chứng cứ, tài liệu về vụ án

Đây là hoạt động thường xuyên và quan trọng trong quá trình giải quyết vụ

án của Thẩm phán, Hội thẩmnhằm tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo của quá trình áp dụng pháp luật của Tòa án Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án cố ý gây thương tích cần tập trung làm rõ các vấn đề như: Việc xác định vụ án có thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp mình hay không? Việc tách, nhập vụ án có cần thiết và đúng pháp luật hay không? Các thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố có bảo đảm đầy đủ và đúng pháp luật không? Có hành vi phạm tội xảy ra hay không? Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội? Đối với tội phạm

cố ý gây thương tích thường xảy ra vào ban đêm, ngày nghỉ do các đối tượng gây án thường uống rượu vào thời điểm này nên khi phát sinh mâu thuẫn dẫn đến gây thương tích Ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội? Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội? Thông thường đối tượng phạm tội cố ý gây thương tích vụ việc thường có đông người tham gia, đa số là nam giới, tuổi đời là thanh niên và trung niên và hầu hết là người ngoài địa phương Hành vi được thực hiện ở mức độ nào? Người phạm tội có sử dụng công cụ, phương tiện gì không? Đối với tội phạm cố ý gây thương tích thường sử dụng hung khí nguy hiểm như: mã tấu, dao tự chế, vật sắc nhọn, vật cứng nhằm gây thương tích cho nạn nhân [58]

Bằng những hoạt động nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phát hiện những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc chứng cứ còn thiếu để cân nhắc giữa việc đưa vụ án ra xét xử với việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung Việc đánh giá chứng cứ của HĐXX không chỉ diễn ra trong quá trình nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị cho hoạt động xét

xử sơ thẩm mà còn diễn ra trong hoạt động xét xử tại phiên tòa Đặc biệt theo yêu cầu của cải cách tư pháp đang đặt ra hiện nay thì việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, mọi phán quyết của HĐXX phải căn cứ vào kết quả điều tra công khai và tranh tụng tại phiên toà với sự tham gia của các chủ thể tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng

1.2.2 Xác định các quy phạm pháp luật cần áp dụng để định tội danh, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp đối với hành vi cố ý gây thương tích

Định tội danh là một vấn đề hết sức quan trọng, là giai đoạn cơ bản trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự bao gồm nhiều vấn đề, trong đó định tội danh đối

Trang 31

với các trường hợp xâm phạm sức khỏe của người khác có vai trò rất quan trọng Khi định tội danh trong trường hợp này, ngoài việc áp dụng các nguyên tắc chung của lý luận định tội danh đối với hành vi phạm tội thông thường, chủ thể định tội danh còn phải áp dụng một số nguyên tắc mang tính đặc thù Về mặt khoa học để định tội danh đối với tội cố ý gây thương tích, không thể không dựa vào cấu thành tội phạm của tội này Xét về mặt cấu trúc, tội cố ý gây thương tích được cấu thành bởi bốn yếu tố: Mặt khách thể của tội phạm; mặt khách quan của tội phạm; mặt chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm Như vậy, bằng việc xác định đúng các loại khách thể của tội cố ý gây thương tích, người định tội danh sẽ biết được là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có phải là tội phạm hay không; nếu là tội phạm thì có thuộc một trong các điều khoản được quy định cụ thể tại Điều 134 BLHS 2015 hay không để từ đó tìm ra điều luật tương ứng áp dụng đối với người phạm tội Việc xác định tội danh, hình phạt và điều khoản cần áp dụng và trách nhiệm pháp lý khác đối với bị cáo được thực hiện chính thức khi HĐXX nghị án Các thành viên HĐXX khi nghị án có trách nhiệm thảo luận và biểu quyết để xác định sự đồng nhất giữa cơ sở thực tế (sự thật khách quan của vụ án) với cơ sở pháp

lý là các những quy định cụ thể của BLHS về tội phạm, hình phạt, dựa vào các yếu tố của cấu thành tội phạm (khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm) Về mặt lôgíc, việc định tội danh bao giờ cũng diễn ra trước việc quyết định hình phạt và áp dụng các biện pháp tư pháp, vì vậy, việc xác định đúng

tội danh là tiền đề cho việc quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp khác

1.2.3 Ra quyết định áp dụng pháp luật thể hiện bằng bản án, quyết định hình sự

sơ thẩm

Sau khi đã xem xét, nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, khách quan

về thủ tục tố tụng và các chứng cứ trong vụ án hình sự, đồng thời lựa chọn được

QPPL hình sự để áp dụng HĐXX sẽ ban hành quyết định ADPL để xác định rõ trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể bị ADPL Bản án hoặc quyết định của HĐXX

là văn bản áp dụng pháp luật của Tòa án, nó không phải là sản phẩm của cá nhân

mà là của nhà nước, là một văn bản tố tụng pháp lý, trong đó thể hiện vai trò của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên bố bị cáo phạm tội và quyết định hình phạt cùng

Trang 32

các biện pháp tư pháp khác (nếu có) hoặc xác định bị cáo không phạm tội và minh oan cho họ Bản án hình sự sẽ chính thức hóa việc bị cáo có tội hay không có tội bằng việc nêu rõ những căn cứ pháp lý và lập luận chặt chẽ Nếu bị cáo không phạm tội, bản án phải tuyên bố rõ và nêu căn cứ pháp lý áp dụng để tuyên bố bị cáo không phạm tội, đồng thời là việc ra quyết định khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo như công dân bình thường khác Còn trường hợp nếu bị cáo có tội HĐXX phải tuyên bố và nêu rõ tội danh, căn cứ áp dụng để quyết định TNHS và trách nhiệm pháp lý khác đối với bị cáo Tuy nhiên ở giai đoạn này không phải bao giờ cũng đi đến bản án hình sự Ngoài bản án HĐXX cũng có thể đi đến quyết định TNHS dưới hình thức văn bản ADPL là quyết định đình chỉ vụ án So với các văn bản tố tụng tư pháp của các Cơ quan điều tra, VKSND thì việc ban hành bản án của Tòa án nhân dân là loại văn bản có đặc trưng riêng, quan trọng nhất của Tòa án Chỉ

có Tòa án mới có thẩm quyền ban hành văn bản này theo trình tự tố tụng chặt chẽ được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Đối với bản án yêu cầu về mặt bố cục, hình thức, nội dung và văn phong đều phải đảm bảo theo quy định của Bộ luật TTHS Việc ra bản án, quyết định được HĐXX tiến hành trong phòng nghị án theo nguyên tắc bí mật; biểu quyết theo đa số; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và phải được ban hành theo một thể thức thống nhất, bao gồm đầy đủ các nội dung theo quy định tại BLTTHS và được tuyên công khai tại phiên tòa Tuy nhiên ở giai đoạn nghị án này không phải bao giờ cũng đi đến bản án hình

sự, ngoài bản án HĐXX cũng có thể đi đến quyết định TNHS dưới hình thức văn bản ADPL là quyết định đình chỉ vụ án trong trường hợp người bị hại rút yêu cầu khởi tố theo quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS), việc HĐXX ra quyết định đình chỉ vụ án được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản Theo tố tụng hình sự, thủ tục xét xử sơ thẩm kết thúc sau khi HĐXX

ra phán quyết (bản án, quyết định) và tuyên đọc công khai tại phiên tòa

1.2.4 Nội dung áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

Vấn đề tội phạm, xử lý tội phạm khi xét xử tội cố ý gây thương tích được BLHS và BLTTHS quy định rất chặt chẽ Do đó khi áp dụng pháp luật trong xét xử

Trang 33

sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện phải áp dụng pháp luật hình thức (pháp luật tố tụng hình sự) và áp dụng pháp luật nội dung (pháp luật hình sự) Đây là hai mặt có liên quan chặt chẽ và tác động lại lẫn nhau của một quá trình áp dụng pháp luật thống nhất và biện chứng Việc áp dụng pháp luật hình thức để xử lý hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác là điều kiện bảo đảm tính hợp pháp, khách quan của việc áp dụng pháp luật nội dung Và ngược lại việc áp dụng pháp luật nội dung để ra phán quyết (bản án, quyết định) về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về tội danh, trách nhiệm hình sự, hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo, ) sẽ bảo đảm cho phán quyết của HĐXX

có căn cứ, chính xác, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Sự coi trọng nội dung này hay coi nhẹ nội dung kia đều có thể dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật của HĐXX

Trong hệ thống pháp luật nước ta hiện nay, các vấn đề về tội cố ý gây thương tích và các hình thức trách nhiệm pháp lý (chủ yếu là hình phạt) chỉ được quy định duy nhất trong BLHS Do đó việc xác định tội danh, quyết định hình phạt và các biện pháp tư pháp phải căn cứ vào các quy định của BLHS Điều đó có nghĩa là BLHS là cơ sở pháp lý để Tòa án ra các phán quyết khi xét xử các vụ án hình sự Việc xác định tội danh và hình phạt đối với bị cáo dựa vào các căn cứ pháp lý khác ngoài quy định của BLHS đều là không hợp pháp Để đạt được mục đích xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt người và hành vi phạm tội, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm thì đòi hỏi Thẩm phán, hội thẩm nhân dân phải nắm vững các yếu tố cấu thành các tội phạm cụ thể của các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người mà BLHS đã quy định khi tiến hành giải quyết vụ án Bên cạnh đó, do đặc điểm của loại tội phạm này thường gây ra hậu quả

là thương tích cho nạn nhân nên khi quyết định hình phạt, HĐXX phải giải quyết cả vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tổn thất tinh thần, sức khỏe cho bị hại, vì vậy ngoài việc áp dụng BLHS thì BLDS cũng được áp dụng để giải quyết về vấn đề này

Trang 34

1.3 Các điều kiện đảm bảo áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án

cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện

Chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện chịu sự tác động và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ADPL của TAND cấp huyện trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích một mặt đan xen ảnh hưởng lẫn nhau, mặt khác mỗi yếu tố có vai trò, tác dụng nhất định tương đối nhưng tập trung lại có thể xác định những yếu tố sau:

1.3.1 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Có thể nói đây là một yếu tố rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện Ở lĩnh vực xét xử các vụ án hình sự, văn bản quy phạm pháp luật mà Tòa án áp dụng là BLHS, BLTTHS, BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật khác

có liên quan Vì vậy, chất lượng và hiệu quả của hoạt động áp dụng pháp luật phụ thuộc rất nhiều vào sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật Nếu hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất, không chồng chéo, không mâu thuẫn và hoạt động hướng dẫn, giải thích đầy đủ, kịp thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật một cách chính xác, đầy đủ, đúng pháp luật Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật không thống nhất, mâu thuẫn, hoạt động hướng dẫn không đầy đủ, kịp thời, chậm trễ, không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau sẽ rất khó khăn cho Hội đồng xét xử khi lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng dẫn đến vướng mắc trong thực tiễn xét xử, áp dụng pháp luật không thống nhất, chính xác và không kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm

1.3.2 Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử

Để đảm bảo áp dụng pháp luật đúng đắn, có hiệu quả, ngoài hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ của những người tiến hành tố tụng là yếu tố quyết định đến chất lượng xét xử Trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện thì chủ thể áp dụng pháp luật chính là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nên đòi hỏi họ phải: Nắm

Trang 35

vững các qui định pháp luật thuộc lĩnh vực được phân công đảm nhiệm một cách chuyên sâu; thu nhận và xử lý thông tin để phục vụ việc thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Có khả năng phân tích, đánh giá một cách chính xác, toàn diện những tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ cho việc ra các quyết định, bản án phù hợp với thực tiễn; Có khả năng lập luận, tranh luận, lấy lời khai với những người tham gia tố tụng; kịp thời xử lý các tình huống phát sinh tại phiên tòa theo đúng qui định của pháp luật để đưa ra được những đánh giá về mặt pháp lý của từng sự kiện, từng vấn đề cụ thể trong vụ án và đảm bảo phán quyết của Tòa án được ban hành chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Bên cạnh đó đạo đức nghề nghiệp của cán bộ công chức đặc biệt là Thẩm phán

là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong ” bộ quy tắc đạo đức thẩm phán”, bởi vì hoạt động nghề nghiệp của họ mang tính đặc thù, có tác động trực tiếp đến đến danh dự, quyền tự do, tài sản,… của con người Vì vậy, trong hoạt động nghề nghiệp, họ phải đảm bảo được yếu tố công bằng, vô tư, khách quan; lương tâm; nhân đạo; không vụ lợi cá nhân

1.3.3 Cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ, chính sách tiền lương

Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ Tòa án có ảnh hưởng lớn đến chất lượng ADPL Chế độ đãi ngộ tốt sẽ khuyến khích cho cán bộ hăng hái làm việc, chống lại

sự tha hóa, biến chất, mua chuộc; ngược lại nếu chế độ đãi ngộ không hợp lý sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lơ là công việc, làm giảm sự hăng say phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ Tòa án

Hiện nay, chế độ chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ Tòa án vẫn còn nhiều điều bất hợp lý, các chế độ được hưởng không cân xứng so với sự cống hiến của họ; đặc biệt ở các quận, huyện đồng bằng thường phải tham gia xét xử rất vất vả nhưng lại có mức thu nhập quá thấp so với mặt bằng của địa phương nên chưa thể động viên, khích lệ họ hoàn thành tốt nhiệm vụ Một số cán bộ ngoài công việc chính thường ngày họ vẫn phải làm thêm để đảm bảo yêu cầu của cuộc sống, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công việc Một trong những điều kiện để

Trang 36

nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án không thể không tính đến điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị làm việc Mặc dù những năm gần đây Thủ tướng Chính phủ đã đầu tư xây dựng các trụ sở làm việc cho Tòa án và cấp trang thiết bị phục

vụ cho công tác xét xử, song so với yêu cầu thực tế hiện nay cơ sở vật chất vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ

1.3.4 Tính độc lập trong hoạt động áp dụng pháp luật để xét xử các vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án và của Thẩm phán

Trong xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng, là kim chỉ nam xuyên suốt trong mọi hoạt động của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Nội dung này được được biểu hiện ở chỗ: Trong hoạt động xét xử, Thẩm phán không phụ thuộc vào bất

kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định đánh giá và phán quyết Khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm phải tự mình nghiên cứu, đánh giá các chứng cứ của

vụ án để có kết luận riêng của mình đối với từng vấn đề Cá nhân Thẩm phán và Hội thẩm độc lập trong suy nghĩ, xét xử tập thể và quyết định theo đa số Tuy nhiên, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không có nghĩa là tách rời đường lối chính sách của Đảng Độc lập xét xử cũng không có nghĩa là không có sự kiểm tra và giám sát, xét xử tùy tiện mà phải tuân theo pháp luật “Độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Độc lập là điều kiện cần thiết để Hội thẩm và Thẩm phán khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật Tuân theo pháp luật là cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán và Hội thẩm độc lập khi xét xử Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật thì dễ dẫn đến tình trạng xét xử tùy tiện, độc đoán.Việc duy trì tính độc lập của Thẩm phán là cần thiết để đạt được mục đích của xét xử và để thực hiện đúng chức năng của nó trong xã hội có tự do và tuân thủ các quy định của pháp luật

1.3.5 Tác động từ dư luận xã hội

Trong thời đại thông tin hiện nay, công luận và dư luận xã hội đã và đang phát huy vai trò quan trọng và to lớn của mình vào quá trình quản lý và phát triển đất nước, sự khen chê của công luận và dư luận xã hội có một sức mạnh không nhỏ

Trang 37

tác động vào tâm tư, suy nghĩ, hành động của từng cá nhân Đối với hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án cố ý gây thương tích thường là những vụ án lớn, có nhiều đối tượng tham gia, gây án tại những nơi tập trung đông dân cư nên lại càng được công luận và dư luận xã hội quan tâm đặc biệt Các phương tiện thông tin đại chúng là địa chỉ tin cậy để bị hại, bị can, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và mọi công dân cung cấp thông tin và nhờ lên tiếng bảo vệ lợi ích của mình Những bài báo, những loạt phóng sự điều tra về những hành vi tiêu cực, để lọt tội phạm hoặc truy cứu, xét xử không nghiêm minh của báo chí, công luật xã hội đã giúp ích rất nhiều cho các cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện tốt việc điều

tra, truy tố, xét xử Nếu công luận và dư luận xã hội phản ánh đúng đắn các tình tiết

của vụ án, nhận định và bình luận một cách khách quan, không thiên vị để chờ phán quyết của cơ quan tiến hành tố tụng sẽ là điều hết sức thuận lợi cho Thẩm phán trong quá trình tố tụng Khi đó, tính giáo dục, thuyết phục của hoạt động tố tụng sẽ được nhân lên gấp nhiều lần trong đời sống xã hội Trường hợp truy tố, xét xử không trên cơ sở pháp luật, thiên lệch không công bằng, không nghiêm minh thì công luận và dư luận xã hội lại là người trọng tài nghiêm khắc lên tiếng, phát hiện

và đòi hỏi công lý phải được thực thi Ngược lại nếu công luận và dư luận xã hội

phản ánh các tình tiết, sự việc một cách phiếm diện, hòi hợt và chủ quan bình luận, bàn tán, nhận định một cách quá đà (khen hoặc chê; lên án hoặc bảo vệ quá mức) thì khi xét xử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải chịu một áp lực không nhỏ từ công luận và dư luận xã hội Trong trường hợp như vậy, đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có bản lĩnh để không ra những quyết định, bản án chiều theo dư luận

và công luận xã hội

1.3.6 Tác động từ những tiêu cực xã hội

Hiện nay, những tiêu cực xã hội (đặc biệt là nạn hối lộ) đã và đang tấn công vào hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan tư pháp nói riêng, gây ra những tác hại không nhỏ, giảm sút lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ Đối với ngành Tòa án, các đường dây chạy án, mối giới hối lộ, dẫn dắt vào con đường

cờ bạc, rượu chè, mại dâm đã và đang tấn công vào đội ngũ cán bộ của ngành Khi những người tiến hành tố tụng đã chấp nhận “bán linh hồn cho quỷ dữ”, tự

Trang 38

nguyện làm nô lệ của các tiêu cực xã hội; coi hoạt động xét xử như là sự ban ơn cho

bị cáo để vòi vĩnh, ngã giá thì chắc chắn quyết định áp dụng pháp luật của HĐXX

sẽ bị biến dạng, méo mó Các quyết định được ban hành trong trường hợp này thực chất chỉ là hình thức, sáo rỗng để biện minh cho một nội dung đã được biết trước và

đã bị làm sai lệch Nếu tác hại của nạn hối lộ và tiêu cực trong xã hội đối với đời sống xã hội là rất nghiêm trọng thì tác hại của nó đối với hoạt động xét xử còn nghiêm trọng hơn rất nhiều, vì nó không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quyền

và lợi ích hợp pháp của người dân lương thiện, không chỉ làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào cơ quan tư pháp, mà còn làm công lý không được thực thi; trật tự và công bằng xã hội bị đảo lộn Một thực tế mà chúng ta phải thẳn thắn thừa nhận là bên cạnh một lực lượng đông đảo đội ngũ Thẩm phán, cán bộ ngành Tòa án liêm khiết, công tâm và có trách nhiệm trong khi thực thi nhiệm vụ, thì vẫn còn một số ít người đã bị sa ngã, bị cám dỗ, trở thành nạn nhân của tệ nạn hối lộ và tiêu cực xã hội Điều này có thể thấy qua một số trường hợp đã xảy ra tại Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An Chúng ta có thể nhận thấy rằng, để cho hoạt động xét xử được chính xác, hiệu quả, đúng căn cứ theo quy định của pháp luật, cần có các giải pháp

cụ thể để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ngành Tòa án trong sạch, vững mạnh, liêm khiết, có lương tâm và đạo đức nghề nghiệp

1.3.7 Sự tác động của người có chức vụ, quyền hạn và những người thân quen

Cũng như những cán bộ công chức khác, Thẩm phán Tòa án ngoài quan hệ công tác còn có các mối quan hệ xã hội bình thường như những người bình thường khác như các quan hệ gia đình, bạn bè, họ hàng, làng xóm Tư tưởng nhờ vả vào người thân, hàng xóm láng giềng của mình quan tâm giải quyết những vụ án có lợi cho mình vẫn còn tồn tại khá phổ biến, đặc biệt là ở những nước có trình độ dân trí,

ý thức chấp hành pháp luật chưa cao như nước ta hiện nay Tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ”, “nhất thân, nhì quen” đã ăn sâu vào trong suy nghĩ, hành động của đá số người dân Việt Nam và đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động xét

xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Nếu Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân không vững vàng; không kiên quyết bảo vệ pháp luật và sự công bằng; không thực hiện

Trang 39

được tư tưởng “công pháp bất vị thân” thì chắc chắn các quyết định áp dụng pháp luật của họ khó đạt được các chuẩn mực cần thiết

Ngoài những người thân, bạn bè, làng xóm ra thì cũng khó tránh khỏi sự nhờ

vả của những người có chức, có quyền Đặc biệt với cơ chế bổ nhiệm Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ hiện nay thì sự phụ thuộc của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân vào những người có chức có quyền, thủ trưởng đơn vị là điều khó tránh khỏi Do đó, cần phải có hình thức tuyển chọn bổ nhiệm Thẩm phán, Hội

thẩm nhân dân cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới

Trên đây là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự nói chung và xét xử vụ án cố ý gây thương tích nói riêng Bên cạnh những yếu tố cơ bản nêu trên thì yếu tố về hoạt động bổ trợ tư pháp của Luật sư, người bào chữa; yếu tố về sự giám sát của cơ quan quyền lực… cũng có tác động không nhỏ đến việc bảo đảm áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của Tòa án nhân dân cấp huyện Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này cho chúng ta hiểu rõ hơn những khó khăn, phức tạp của Thẩm phán để từ đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo đảm

và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử nói chung và xét xử vụ án cố ý gây thương tích nói riêng ở chương 3

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của TAND cấp huyện là nhiệm vụ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nhằm thực hiện chức năng xét xử - một trong những chức năng quan trọng của Tòa án Áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của TAND cấp huyện vừa mang những đặc điểm chung của ADPL trong xét xử các vụ án hình sự của TAND cấp huyện vừa mang những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ các đặc điểm cấu thành của loại tội phạm này Với việc trình bày khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân tích các nội dung, thủ tục ADPL cũng như các điều kiện ảnh hưởng đến quá trình ADPL trong xét xử sơ thẩm vụ án cố ý gây thương tích của TAND cấp huyện là cơ sở lý luận quan trọng cho việc đánh giá thực trạng ở chương 2 và đề ra giải pháp ở chương 3

Ngày đăng: 01/08/2021, 13:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w