1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới

764 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỷ Yếu Hội Thảo Khoa Học Quốc Gia Kinh Tế - Xã Hội Việt Nam Năm 2015, Cơ Hội Và Thách Thức Trước Thềm Hội Nhập Mới
Tác giả Gs.Ts. Trần Thọ Đạt, Ts. Nguyễn Ngọc Bảo, Pgs.Ts. Trần Thị Vân Hoa, Pgs.Ts. Phạm Hồng Chương, Pgs.Ts. Bùi Đức Thọ, Gs.Ts. Ngô Thắng Lợi, Pgs.Ts. Trần Kim Chung, Cn. Đào Xuân Tùng Anh, Gs.Ts. Trần Minh Đạo, Pgs.Ts. Đặng Ngọc Đức, Ts. Lê Thanh Tâm
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế - xã hội
Thể loại kỷ yếu
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 764
Dung lượng 8,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới trình bày các nội dung chính sau: Kinh tế Việt Nam năm 2015 và triển vọng phát triển; Cơ hội và thách thức cho kinh tế - xã hội Việt Nam trước thềm hội nhập mới; Cơ hội và thách thức cho các ngành và doanh nghiệp Việt Nam trước thềm hội nhập mới.

Trang 1

BAN KINH TẾ TRUNG ƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA

KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM NĂM 2015,

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRƯỚC THỀM

HỘI NHẬP MỚI

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 3

BAN CHỈ ĐẠO HỘI THẢO

1 GS.TS Trần Thọ Đạt Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

2 TS Nguyễn Ngọc Bảo Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương

3 PGS.TS Trần Thị Vân Hoa Phó Hiệu trưởng

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

4 PGS.TS Phạm Hồng Chương Phó Hiệu trưởng

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

5 PGS.TS Bùi Đức Thọ Trưởng phòng Quản lý Khoa học

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1: KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2015

VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN

1

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2015

GS.TS Trần Thọ Đạt PGS.TS Tô Trung Thành

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3

2

CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

NĂM 2015 VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ CẢI THIỆN

CHO GIAI ĐOẠN 2016-2020

GS.TS Ngô Thắng Lợi PGS.TS Trần Thị Vân Hoa

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

CN Đào Xuân Tùng Anh

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

63

4

THÀNH TỰU KINH TẾ VIỆT NAM 2015 VÀ NHỮNG

THÁCH THỨC TRONG GIAI ĐOẠN 2016-2020

TS Lê Thanh Tâm

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

85

Trang 6

6

LỰA CHỌN NÀO CHO CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA

VIỆT NAM TRONG NĂM 2016?

TS Bạch Ngọc Thắng PGS.TS Nguyễn Văn Thắng PGS.TS Lê Quanh Cảnh

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

113

8

BÀN VỀ THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH

TÍN DỤNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN TẠI VIỆT NAM

ThS Lại Thị Thanh Loan

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

ThS Vũ Thị Thúy Vân

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

125

9

CƠ CHẾ HÌNH THÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI GIỮA

NHÂN DÂN TỆ VÀ CÁC ĐỒNG TIỀN CỦA CÁC

QUỐC GIA ASEAN

TS Lương Thái Bảo

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

135

10

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THƯƠNG MẠI Ở NƯỚC TA

GIAI ĐOẠN 1986-2016: TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP

PHÁT TRIỂN

PGS.TS Trần Văn Bão PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hương

TS Đặng Thị Thúy Hồng

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

ThS Nguyễn Lương Nam

Sở Công thương Hải Phòng

147

Trang 7

11

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ XU HƯỚNG PHÁT

TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI

ThS Lê Thùy Dương PGS.TS Phan Tố Uyên

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

159

12

ĐỔI MỚI CÁCH TIẾP CẬN VÀ CHIẾN LƯỢC

TĂNG TRƯỞNG ĐỂ GIẢI QUYẾT BẤT BÌNH ĐẲNG

VỀ THU NHẬP Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016-2020

PGS.TS Nguyễn Thanh Hà PGS.TS Lưu Bích Ngọc

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

185

13

PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN TRONG XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2015 VÀ

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN

Phạm Chí Thành

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

207

PHẦN 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO KINH TẾ - XÃ HỘI

VIỆT NAM TRƯỚC THỀM HỘI NHẬP MỚI

Trang 8

16

CÁC DẤU ẤN TRONG 20 NĂM QUAN HỆ VIỆT - MỸ

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA TPP ĐẾN MỐI QUAN HỆ CỦA

HAI NƯỚC TRONG TƯƠNG LAI

TS Hoàng Thị Thúy Nga

TS Đồng Thị Hà

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

249

17

CÁC QUY ĐỊNH VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ CƠ HỘI

THÁCH THỨC KHI THỰC THI CAM KẾT MÔI

TRƯỜNG TRONG HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI

NHỮNG ĐIỀU CHỈNH TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI

VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH HIỆP ĐỊNH

ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) HÌNH THÀNH

ThS Nguyễn Bích Ngọc

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

271

19

HIỆP ĐỊNH TPP: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS Phan Tố Uyên ThS Lê Thùy Dương

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

NỘI DUNG QUAN TRỌNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP VÀ

CÁC QUAN ĐIỂM NẮM BẮT CƠ HỘI TỪ TPP CỦA

Trang 9

22

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC, TRÁCH NHIỆM CỦA

DOANH NGHIỆP TRƯỚC THỀM HỘI NHẬP MỚI

ThS.NCS Lê Huỳnh Mai

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NẮM BẮT CƠ HỘI

TỪ VIỆC THỰC THI CÁC CAM KẾT TPP Ở VIỆT NAM

ThS Nguyễn Văn Diệu

Liên hiệp KHKT tỉnh Quảng Nam

381

27

NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC MÀ HIỆP ĐỊNH

ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

(TPP) ĐEM LẠI CHO LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Lê Thị Thùy Dung

Học viện Chính trị khu vực II

385

28

LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA

HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)

ThS Hoàng Thị Huệ

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

393

Trang 10

29

HIỆP ĐỊNH TPP - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

NGƯỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Lê Thanh Hải

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam

409

30

XU HƯỚNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG

NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

QUỐC TẾ VÀ THỰC HIỆN TPP

ThS Lê Thị Hoài Thu

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

417

31

XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH

ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

TS Dương Nguyệt Nga

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

431

32

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VÀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG

KHI THAM GIA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN

HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP)

VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ

VÀ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM

PGS.TS Nguyễn Vũ Hoàng

Học viện Chính trị khu vực I

461

Trang 11

PHẦN 3: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC NGÀNH

VÀ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRƯỚC THỀM HỘI NHẬP MỚI

36

TÁC ĐỘNG CỦA TPP TỚI THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA

CỦA VIỆT NAM

TS Đinh Lê Hải Hà

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

501

38

HIỆP ĐỊNH TPP – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM

HIỆP ĐỊNH TPP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN LOGISTICS

TẠI VIỆT NAM

TS Trần Thăng Long

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

525

40

THAM GIA TPP: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM

TS Nguyễn Thái Sơn

Trường Đại học Hải Phòng

533

Trang 12

41

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI NGÂN HÀNG

VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH NGÂN HÀNG

VIỆT NAM THÍCH ỨNG VỚI CÁC QUI ĐỊNH CỦA TPP

TS Nguyễn Kim Hoàng

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

553

43

NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỆ THỐNG

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG

QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS Phan Hồng Mai

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

563

44

HIỆP ĐỊNH TPP VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

HOẠT ĐỘNG CỦA DỊCH VỤ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

SAU NĂM 2015

TS Ngô Tuấn Anh

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

581

45

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI M&A NGÂN HÀNG

TẠI VIỆT NAM KHI HIỆP ĐỊNH TPP CHÍNH THỨC

TĂNG CƯỜNG TÍNH MINH BẠCH CỦA HỆ THỐNG

NGÂN HÀNG VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TPP

TS Trương Thị Hoài Linh

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

601

Trang 13

47

THAM GIA TPP - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI

NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

TS Trần Thị Minh Hương

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

613

48

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VÀ NHỮNG

CƠ HỘI, THÁCH THỨC TỪ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC

XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG

CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG

CỦA NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHI GIA NHẬP TPP

TS Nguyễn Ngọc Tiến

CN Nguyễn Thị Thùy Giang

Trường Đại học Quy Nhơn

645

51

THAM GIA TPP - CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP

THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA

VIỆT NAM

PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

655

52

NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH

HỘI NHẬP: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NGÀNH

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CÓ THỂ LÀM GÌ

KHI TPP ĐI VÀO CUỘC SỐNG

ThS Lê Quốc Anh

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

679

Trang 14

54

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO CÁC DOANH NGHIỆP

VIỆT NAM KHI VIỆT NAM THAM GIA TPP

TS Phan Thế Công ThS Vương Thị Huệ

Trường Đại học Thương mại

695

55

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CẦN PHẢI CHUẨN BỊ

NHƯ THẾ NÀO KHI VIỆT NAM THAM GIA TPP

ThS.NCS Nguyễn Nam Anh

Ban Kinh tế Trung ương

711

56

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP

NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

ThS Nguyễn Thị Minh Quế

Trang 15

PHẦN 1 KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2015

VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN

Trang 17

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2015

GS.TS Trần Thọ Đạt PGS.TS Tô Trung Thành

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Tóm tắt

Bài viết đánh giá kết quả của nền kinh tế trong năm 2015, tìm hiểu những điểm nghẽn quan trọng của nền kinh tế, nghiên cứu từ các biến số kinh tế quan trọng như tăng trưởng, lạm phát, khu vực đối ngoại, khu vực tiền tệ tỷ giá và khu vực ngân sách Phần kết luận đề xuất một số khuyến nghị chính sách cơ bản cho năm 2016 và những năm tiếp theo

1 Tăng trưởng

Bộ tác động tiêu cực từ những vấn đề nội tại của nền kinh tế, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam sau khi suy giảm mạnh từ năm 2011 đã tìm được dấu hiệu hồi phục rõ nét hơn Trong khi tăng trưởng 2014 vẫn ở mức dưới 6% thì tăng trưởng năm 2015 đã ở mức 6.68%, cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây, đưa quy mô nền kinh tế lên 204 tỷ USD, theo đó, GDP bình quân đầu người đạt 2109 USD/người1 (theo giá hiện hành) và 1140 USD/người (theo giá so sánh 2005)

Hình 1 Tăng trưởng GDP và GDP bình quân đầu người

Nguồn: GSO, WDI

1

Trang 18

1.1 Sản xuất công nghiệp và tiêu dùng cuối cùng hỗ trợ cho hồi phục

Trong cơ cấu ngành sản xuất, tỷ trọng nông nghiệp đã giảm từ năm 2011, đầu 2015 còn 17% GDP, hệ quả từ tốc độ tăng trưởng nông nghiệp giảm còn 2.41% so với 3.44% năm 2014 Trong khi tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ không thay đổi đáng kể (khoảng 6%), thì tăng trưởng ngành công nghiệp và xây dựng tăng mạnh (từ 6.42% năm 2014 lên 9.64% năm 2015)

Hình 2 Cơ cấu ngành trong GDP và tốc độ tăng trưởng của ngành

Nguồn: GSO Ghi chú: Từ năm 2010, Tổng cục Thống kê đã tiến hành tách thuế giá trị gia tăng hàng

hóa và dịch vụ khỏi VA các ngành công nghiệp và dịch vụ

Bảng 1 cũng cho thấy công nghiệp và xây dựng đóng góp chính vào tăng trưởng Trong khi nông nghiệp chỉ đóng góp 0.40 điểm phần trăm tăng trưởng (so với 0.61 điểm phần trăm năm 2014), dịch vụ đóng góp 2.43 điểm phần trăm (so với 2.62 điểm phần trăm năm 2014) thì công nghiệp và xây dựng đóng góp tới 3.20 điểm phần trăm vào tăng trưởng (so với 2.75 điểm phần trăm năm 2014)

Bảng 1 Đóng góp của các ngành vào tăng trưởng GDP (%)

Trang 19

Hình 3 Tốc độ tăng chỉ số phát triển công nghiệp (%)

Nguồn: GSO

Trong ngành công nghiệp và xây dựng, sản xuất công nghiệp đã có mức tăng nhanh liên tục từ năm 2012 Chỉ số sản xuất công nghiệp đã tăng 9.8%, với đóng góp quan trọng của sản xuất công nghiệp chế biến chế tạo với mức tăng 10.6% (so với 8.74% năm 2014), kết quả của tăng tiêu dùng loại hàng này (chỉ số tiêu thụ hàng công nghiệp chế tạo chế biến 11 tháng đầu năm tăng 12.6%), trong khi các chi phí đầu tư sản xuất như giá nguyên vật liệu, giá xăng, đều có xu hướng giảm

Bảng 2 Tốc độ tăng các thành tố chi tiêu GDP

Trang 20

Hình 4 Tỷ trọng đầu tư của các thành phần kinh tế

Nguồn: GSO

Về phía các thành tố chi tiêu của GDP, tỷ trọng của tiêu dùng cuối cùng vẫn đóng vai trò lớn nhất (duy trì mức trên 70% trong các năm), trong khi tốc độ tăng tiêu dùng cuối cùng lên đến 9.12% (so với 6.2% năm 2014), mức tăng cao nhất kể

từ năm 2008, trở thành động lực chính cho tăng trưởng, đóng góp tới 10.66 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế

Trong khi đó, tổng tích lũy tài sản vẫn duy trì ở mức cao 9.04% (gần tương đương năm 2014, so với mức tăng 5.45% năm 2013), theo đó, đóng góp 4.64 điểm phần trăm vào tăng trưởng Vốn đầu tư toàn xã hội cũng đã tăng đến 12% so với năm 2014, tương đương 32.6% GDP, xác lập đà tăng trở lại của tỷ trọng đầu

tư trên GDP từ năm 2013, sau khi đã giảm sâu từ thời điểm bắt đầu tái cơ cấu nền kinh tế năm 2011 Đóng góp lớn vào mức tăng tổng đầu tư là từ khu vực FDI (tăng gần 20% và tỷ trọng trong tổng đầu tư tăng lên 23.3% từ 21.74% năm 2014) Bên cạnh đó, khu vực tư nhân tăng 12%, chiếm 38.7% tổng vốn đầu tư xã hội, trong khi vốn đầu tư khu vực Nhà nước tăng 6.7% và chiếm 38% tổng vốn đầu tư

Với sự phục hồi kinh tế, đặc biệt từ tiêu dùng và đầu tư, trong khi cấu trúc sản xuất và xuất nhập khẩu không có cải thiện đáng kể, nên nhập siêu đã quay trở lại sau khi nền kinh tế thặng dư 3 năm liên tiếp Trong năm 2015, nhập siêu ở mức 3.2 tỷ USD, tương đương 1.57% GDP, và làm giảm 8.62 điểm phần trăm mức tăng trưởng của nền kinh tế

1.2 Thiếu động lực vượt qua vùng trũng suy giảm

Như vậy, tăng trưởng năm 2015 phục hồi chủ yếu từ sản xuất công nghiệp, đặc biệt là từ sản xuất công nghiệp chế tạo và chế biến; cùng với gia tăng mạnh

Trang 21

của tiêu dùng cuối cùng Tuy nhiên, nếu tính trung bình cho 5 năm (2011-2015), tốc độ tăng trưởng là 5.8%, so với 6.99% trung bình giai đoạn 5 năm 2006-2010,

và kém xa giai đoạn trước khủng hoảng 2000-2006 là 7.51% Có thể nói, nền kinh tế vẫn ở trong vùng trũng suy giảm, tuy gần đây đã có những dấu hiệu phục hồi, nhưng chưa bền vững Nền kinh tế vẫn còn thiếu một số động lực cơ bản để vượt qua vùng trũng này

1.3 Mô hình tăng trưởng chưa có cải thiện nhiều về chất lượng tăng trưởng

Hình 5 Tăng trưởng, đầu tư/GDP, tăng trưởng tín dụng,

hệ số ICOR Việt Nam

Nguồn: Tính toán từ số liệu của GSO, SBV

Trước năm 2011, mô hình tăng trưởng Việt Nam được nhận định là theo chiều rộng (dựa chủ yếu vào đầu tư) nhưng thiếu hiệu quả, đi kèm với các chính sách thích ứng chưa bài bản và bị hạn chế hiệu lực bởi chính mô hình tăng trưởng, đây cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến những bất ổn kinh tế vĩ mô Vì thế, con đường duy nhất là phải đổi mới mô hình tăng trưởng, đi kèm với tái cơ cấu nền kinh tế để tăng chất lượng tăng trưởng, hướng đến tăng trưởng nhanh và bền vững (xem Tô Trung Thành và Nguyễn Trí Dũng, 2012) Tuy nhiên, trong giai đoạn tái cơ cấu, mặc dù tỷ trọng đầu tư đã giảm mạnh so với giai đoạn trước năm 2011, nhưng đà tăng trưởng đã lại xác lập từ năm 2014 Tỷ trọng đầu tư/GDP ở mức trên 30% hiện nay cũng là mức cao so với các nước trong khu vực (Hình 6) Bên cạnh đó, mặc dù chất lượng đầu tư được cải thiện hơn so với giai đoạn trước (chỉ số ICOR giảm), nhưng vẫn ở mức cao hơn nhiều so với các nước khác ở những giai đoạn phát triển tương đương2 Hình 5 đặt ra câu hỏi là liệu việc

2

Con số này cao hơn rất nhiều so với con số tương ứng của các nước công nghiệp mới (NICs) trong thời kì chuyển đổi 1961-1980 Ví dụ, trong giai đoạn này hệ số ICOR của Đài Loan là 2.7 và của Hàn Quốc là 3 Hay gần hơn là ICOR của Thái Lan trong giai đoạn 1981-1995 là 4.1 và của Trung Quốc

Trang 22

tăng trưởng phục hồi dần (kể từ năm 2013) vẫn xuất phát từ mô hình tăng trưởng

cũ (được hỗ trợ bởi gia tăng tỷ lệ đầu tư và chính sách tiền tệ nới lỏng đi kèm),

mà chưa có những cải thiện đáng kể về chất lượng tăng trưởng

Hình 6 So sánh tỷ lệ đầu tư/GDP giữa Việt Nam

và một số nước trong khu vực (%)

Nguồn: IFS, GSO

Một chỉ tiêu khác thể hiện chất lượng tăng trưởng là năng suất lao động (chất lượng của đầu vào lao động) đang ở mức tụt hậu khá xa so với các nước trong khu vực Hình 7 và Hình 8 cho thấy giá trị gia tăng công nghiệp tính trên một lao động hay GDP trên một lao động của Việt Nam ở mức rất thấp so với các nước, hiện chỉ hơn một nửa so với Phillippines, ¼ so với Trung Quốc, và không thấy dấu hiệu của sự cải thiện rõ nét theo thời gian

Hình 7 Giá trị gia tăng công nghiệp trên một lao động (USD, giá hiện hành)

Nguồn: WDI

Trang 23

Hình 8 GDP bình quân trên 1 lao động (USD, giá cố định 2005)

Nguồn: WDI

1.4 Tư duy kinh tế chưa có cải cách mạnh mẽ

Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng và thiếu hiệu quả có nguyên nhân lớn bởi những tư duy và quan điểm kinh tế chậm được đổi mới Có thể nói, tư duy

“kinh tế nhà nước là chủ đạo” sẽ cản trở quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, bởi các nguồn lực của nền kinh tế khó có thể hướng vào những nơi có hiệu quả nhất Tư duy

“kinh tế nhà nước là chủ đạo” rõ ràng tạo lập môi trường kinh doanh thiếu sự cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch và lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, khiến khu vực tư nhân khó có cơ hội tiếp cận các nguồn đầu vào và cơ hội kinh doanh một cách bình đẳng Trong khi sự bình đẳng về cơ hội tiếp cận và quyền sử dụng các nguồn lực quốc gia cũng như về quyền tự do kinh doanh giữa các thành phần kinh tế, theo lý thuyết, lại là cơ sở quan trọng để các nguồn lực phân bổ hợp lý, cơ cấu kinh tế có hiệu quả và nâng cao được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ

Tư duy này thường được diễn giải là sử dụng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) - đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty lớn là “công cụ ổn định kinh tế

vĩ mô”, “công cụ định hướng và điều tiết vĩ mô” Tuy nhiên, đây lại là tư duy thiếu cơ sở, bởi bản chất DNNN là một thành viên của nền kinh tế, giống như mọi doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp nước ngoài khác, chứ không phải là một thành tố của công cụ hay chính sách kinh tế vĩ mô Việc trao trọng trách công cụ điều tiết hay bình ổn kinh tế vĩ mô cho DNNN đã biến một thành viên kinh tế (đáng lẽ phải được bình đẳng như các doanh nghiệp khác) có được ưu thế tuyệt đối so với các thành viên kinh tế còn lại, theo đó, các nguồn lực nghiễm nhiên bị phân bổ méo mó về một phía Một số hệ lụy có thể kể đến như: (i) vấn đề bất

Trang 24

bình đẳng trong môi trường kinh doanh, trong tiếp cận các nguồn lực của nền kinh tế; (ii) tình trạng độc quyền và kém hiệu quả của các DNNN; (iii) tình trạng giá cả được điều tiết (như giá điện, giá xăng) bị bóp méo, không phản ánh đúng tín hiệu thị trường và dẫn đến những cú sốc giá đến nền kinh tế, ; (iv) sự chèn ép khu vực tư nhân trong nước, trong khi khu vực này cần mau chóng mạnh lên để cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đang xâm nhập vào nền kinh tế theo các cam kết hội nhập,

Tư duy “kinh tế nhà nước là chủ đạo” cũng đang bị các nhóm lợi ích tận dụng triệt để cho lợi ích của một số cá nhân có liên quan Đây là miếng đất màu

mỡ để tạo ra các mối “quan hệ” vây quanh các tập đoàn và tổng công ty nhà nước nảy nở và phát triển Thực trạng này đã dẫn đến sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của một số doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam phất lên nhanh chóng không phải từ tiến bộ khoa học - công nghệ, tăng năng suất lao động, bảo vệ môi trường

mà chủ yếu do khai thác các tài nguyên đất đai, gỗ, mỏ, biển Những ông chủ doanh nghiệp này mặc nhiên tự cho mình có những đặc quyền riêng, trong không

ít trường hợp thiếu tôn trọng pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Sự phát triển lệch lạc này khiến khu vực kinh tế tư nhân phát triển không bền vững, không phù hợp với tăng trưởng xanh và phát triển hài hòa các lợi ích của xã hội

Vì vậy, muốn tái cơ cấu thành công nền kinh tế, muốn các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả nhất cho tăng trưởng nhanh và bền vững, không thể không thay đổi tư duy về kinh tế nhà nước, theo hướng: (i) khu vực kinh tế nhà nước chỉ tập trung khắc phục những khuyết tật chủ yếu của kinh tế thị trường nhằm điều tiết hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường; Nhà nước chỉ tham gia vào những lĩnh vực kinh tế mà khu vực tư nhân không muốn tham gia hoặc không thể tham gia; (ii) tăng cường cung cấp và nâng cao chất lượng dịch vụ công; (iii) đẩy nhanh sự thoái lui của Nhà nước trong vai trò chủ đầu tư và chủ sở hữu doanh nghiệp, cũng như giảm dần tiến tới xóa bỏ bao cấp, lợi thế về quyền và cơ hội kinh doanh dành riêng cho các DNNN; và (iv) nâng cao vai trò định hướng, kiến tạo hỗ trợ phát triển và nâng cao năng lực quản

lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thân thiện đối với mọi thành phần kinh tế khác nhau

Tuy nhiên, thực tế quá trình tái cơ cấu nền kinh tế cho thấy tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã giảm xuống dưới 40% từ năm 2007-2012 song lại quay về mức trên dưới 40% năm 2013-

Trang 25

2015 Quan trọng hơn, cơ cấu đầu tư công theo ngành chưa có sự cải thiện đáng

kể Nếu phân loại đầu tư công theo nhóm ngành: (i) cung cấp dịch vụ công (bao gồm quản lý nhà nước (QLNN), an ninh quốc phòng (ANQP), giáo dục đào tạo, y

tế, khoa học - công nghệ (KHCN); (ii) cơ sở hạ tầng (CSHT) công (điện nước, vận tải kho bãi, thông tin truyền thông); (iii) trực tiếp sản xuất kinh doanh (SXKD) (nông lâm ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng); và (iv) còn lại, có thể thấy đầu tư vào CSHT công đang giảm dần, trong khi vẫn duy trì tỷ lệ đầu tư cao

và gia tăng vào lĩnh vực SXKD trực tiếp (đáng lẽ cần chuyển sang cho khu vực tư nhân) và xuất hiện cả xu thế phân tán đầu tư công sang nhiều lĩnh vực khác Chuyển dịch cơ cấu đầu tư công không phản ánh sự thay đổi nào thật sự về vai trò của Nhà nước nói chung và đầu tư công nói riêng trong phát triển và chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, chiến lược phát triển con người và tháo gỡ nút thắt về CSHT cũng như thể chế

Hình 9 Cơ cấu đầu tư công theo nhóm ngành

Nguồn: GSO

1.5 Khu vực FDI thiếu đóng góp bền vững

Đóng góp của khu vực FDI vào GDP gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, hiện chiếm tỷ trọng 18% sản lượng của cả nền kinh tế Doanh nghiệp FDI cũng đang đóng góp lớn nhất vào cán cân thương mại của nền kinh

tế Trong khi đó, khu vực sản xuất trong nước đang gặp khó khăn rất lớn (hệ quả của các chính sách thắt chặt mạnh và tổng cầu suy giảm nhanh trước đây)

Có thể nói một động lực quan trọng cho tăng trưởng nền kinh tế hiện nay là từ khu vực FDI

Trang 26

Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI vẫn chủ yếu tập trung vào ngành gia công, tạo giá trị gia tăng thấp cho nền kinh tế, không đóng góp tích cực cho cải thiện tiến bộ khoa học công nghệ (trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình, 14% thấp và lạc hậu, chỉ có 5-6% sử dụng công nghệ cao3) Các doanh nghiệp FDI có công nghệ cao thì ít tạo được hiệu ứng lan tỏa về công nghệ đối với các doanh nghiệp trong nước do khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài làm giảm khả năng tiếp thu những tiến bộ công nghệ, đồng thời, sự thiếu vắng lực lượng lao động có trình độ cao cũng là nguyên nhân khiến hiệu ứng lan tỏa công nghệ không cao

Hình 10 Đóng góp của các thành phần kinh tế vào GDP

Trang 27

GDP có thể cao, nhưng cái thực chất của một quốc gia có được chính là chỉ tiêu tổng thu nhập quốc gia (GNI), thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và tiết kiệm (saving) Nếu phần chênh lệch giữa GNI và GDP dương, có nghĩa Việt Nam có thu nhập sở hữu thuần với nước ngoài Ngược lại, nếu phần chênh lệch này là âm

có nghĩa Việt Nam phải chi trả sở hữu cho nước ngoài nhiều hơn phần thu được

từ sở hữu của mình

Bảng 3 cho thấy tỷ lệ GNI/GDP đã giảm xuống từ năm 2006 đến nay Nếu như tỷ lệ này năm 2006 là 97.9% thì đến năm 2014 chỉ còn 95.1% Phần chênh lệch gia tăng giữa hai biến số chính là từ khu vực FDI (chi trả sở hữu thuần) Nếu quy theo USD thì năm 2013 luồng tiền chảy ra nước ngoài là 8.6 tỷ USD và năm

2014 là 9 tỷ USD4 và riêng 2 quý đầu năm đã là 4.2 tỷ USD (Bảng 5) Tình hình này vẫn không có dấu hiệu thay đổi và luồng tiền chảy ra nước ngoài hàng năm vẫn không có dấu hiệu đổi chiều khi các chính sách đối với các thành phần kinh tế không có thay đổi đáng kể Điều này phản ánh sức khỏe nền kinh tế là đáng ngại cả

về quá trình tạo thành thu nhập từ sản xuất và phân phối lại thu nhập từ sở hữu

Bảng 3 Tỷ lệ GNI trên GDP của Việt Nam

GNI (nghìn tỷ đồng)

GDP (nghìn tỷ đồng)

Tỷ lệ (%)

Trang 28

thâm hụt thương mại ngày càng trầm trọng đối với khu vực kinh tế trong nước Khi xuất khẩu hoàn toàn do khu vực FDI chiếm lĩnh và vay nợ ngày một nhiều thì nguy cơ luồng tiền chi trả sở hữu ra nước ngoài sẽ ngày càng gia tăng Do tiết kiệm của nền kinh tế bằng GDP + Chi trả sở hữu thuần + Chuyển nhượng hiện hành thuần + Thuế trực thu - Tiêu dùng của dân cư - Tiêu dùng của Chính phủ nên chi trả sở hữu thuần ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ tiết kiệm, trong khi tiết kiệm là nguồn lực cơ bản cho đầu tư trong tương lai Nếu coi tài nguyên là nguồn lực của nền kinh tế thì việc tận khai tài nguyên góp phần làm giảm GNI, để dành của nền kinh tế nhỏ đi và luồng tiền chi trả sở hữu ra nước ngoài tăng mạnh Như vậy, có thể nói, mặc dù FDI đang có đóng góp và là động lực cho hồi phục tăng trưởng của nền kinh tế, nhưng về dài hạn, khu vực này khó tạo được tăng trưởng cao và bền vững cho nền kinh tế

Hình 12 Lạm phát và mức tăng giá dầu và giá lương thực thế giới

Nguồn: GSO, SBV, IFS

Trang 29

Hình 13 Lạm phát, lạm phát cơ bản và chính sách tiền tệ

Nguồn: GSO, SBV

Tuy nhiên, nếu loại các nhóm hàng có biến động mạnh như lương thực và năng lượng, lạm phát cơ bản năm 2015 chỉ còn 1.69%, so với 3.31% năm 2014 Hình 13 cho thấy chính sách tiền tệ đã nới lỏng hơn từ năm 2012 nhưng lạm phát

cơ bản vẫn giảm, thậm chí giảm sâu như năm 2015, đã phản ánh hiệu lực chính sách tiền tệ chưa có cải thiện Điều này xuất phát từ những rào cản của hệ thống tài chính ngân hàng (đang xử lý vấn đề nợ xấu cùng những rủi ro hệ thống khác),

và từ phản ứng còn yếu của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực doanh

nghiệp tư nhân

Rủi ro về lạm phát vẫn còn trong năm 2016 và những năm tiếp theo do các nguyên nhân như: i) giá các mặt hàng thiết yếu có thể gia tăng theo lộ trình như giá điện, giá nước, giá dịch vụ y tế, cũng như lộ trình tăng lương cơ bản, ii) trong khi chính sách tiền tệ đang trở nên nới lỏng hơn, vượt quá mức tăng GDP danh nghĩa, thì khi kinh tế hồi phục, khu vực ngân hàng có những cải thiện nhất định thì phản ứng chính sách tốt hơn, gây nên sức ép đến lạm phát cơ bản, iii) nợ công gia tăng nhanh chóng có thể khiến kỷ luật vay nợ từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bị buông lỏng

3 Khu vực đối ngoại

3.1 Nhập siêu quay trở lại khi kinh tế phục hồi

Từ năm 2012, cán cân vãng lai (CCVL) đã được cải thiện và xuất hiện thặng dư Nguyên nhân chủ yếu là cầu nhập khẩu thấp do suy thoái kinh tế, tăng trưởng xuất khẩu ổn định với vai trò chủ chốt là khu vực FDI và dòng kiều hối bền vững Với tỷ trọng lớn trong cán cân vãng lai, cán cân thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thặng dư CCVL trong những năm gần đây

Trang 30

Nếu như năm 2011, nhập siêu vẫn ở mức 9.8 tỷ USD (gần 8% GDP) thì đến sau

2012, Việt Nam đã đạt thặng dư thương mại (2012: 750 triệu USD, 2013: 0.3 triệu USD và 2014: 2.4 tỷ USD) Tuy nhiên, thặng dư thương mại còn rất thấp và chưa bền vững do cấu trúc sản xuất và xuất khẩu chưa có cải thiện đáng kể Điều này có thể thấy trong năm 2015, khi kinh tế bắt đầu hồi phục, nhập siêu đã lại quay trở lại với quy mô gia tăng

Hình 14 Cán cân thương mại, cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối

Nguồn: GSO, IFS Ghi chú: Dự trữ ngoại hối tính ở thời điểm tháng 9/2015

Hình 15 Xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại

Nguồn: GSO

Giá trị xuất khẩu năm 2015 đạt 162.4 tỷ USD, tăng 8.1% so với năm 2014,

và là mức tăng thấp nhất trong 5 năm gần đây Lý do chủ yếu là chỉ số giá xuất khẩu giảm, mức giảm là 3.8% với một số mặt hàng chủ lực giảm mạnh như dầu thô giảm 52.98%, xăng dầu giảm 49.83%, than đá giảm 10.04%, sắt, thép giảm

Trang 31

7.55%, cao su giảm 24.1%, gạo giảm 8.1%, cà phê giảm 6.4% Nếu loại trừ yếu

tố giá, xuất khẩu thực tăng khoảng 12%, tương đương năm 2014

Tuy nhiên, với đà phục hồi tốt hơn của nền kinh tế, do giá các mặt hàng nhập khẩu rẻ hơn do xu thế thế giới cũng như do tỷ giá tăng trong năm, giá trị nhập khẩu đạt 165.6 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước, và nếu loại trừ yếu tố giá (chỉ số giá nhập khẩu giảm 5.8%), thì nhập khẩu thực đã tăng lên đến 18.9%, so với mức tăng 13.2% của năm 2014 Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa đã quay trở lại nhập siêu ở mức 3.2 tỷ USD

Đóng vai trò quan trọng trong cả xuất khẩu và nhập khẩu trong 10 năm gần đây là khu vực FDI Trong năm 2015, khu vực này xuất khẩu 115.1 tỷ USD, chiếm gần 71% tỷ trọng xuất khẩu chung; trong khi nhập khẩu của khu vực này đạt 98 tỷ USD, chiếm 59% tỷ trọng nhập khẩu chung Theo đó, đây là khu vực đóng góp quan trọng vào cán cân thương mại khi tạo ra thặng dư thương mại lớn,

bù đắp cho mức thâm hụt thương mại ngày càng cao của khu vực trong nước

Hình 16 Xuất khẩu và nhập khẩu của các thành phần kinh tế

Nguồn: GSO

Hình 17 Tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu

Nguồn: GSO

Trang 32

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có những chuyển biến rõ nét với hàng nông lâm thủy sản chỉ chiếm 14.6% xuất khẩu (do giá và lượng đều giảm mạnh) Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm khoảng 45.5%, lớn nhất trong tổng giá trị xuất khẩu, với sự đóng góp của một số mặt hàng hiện nay đã là các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam như điện thoại các loại và linh kiện đạt 30.6 tỷ USD, chiếm gần 19% tổng kim ngạch xuất khẩu Phần lớn các mặt hàng này đều từ khu vực FDI như điện thoại các loại, điện tử máy tính và linh kiện gần như chiếm tuyệt đối, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác chiếm 89.5% Tuy nhiên, đây cũng chính là các mặt hàng chủ yếu thuộc nhóm gia công, lắp ráp, theo đó, giá trị gia tăng của các mặt hàng này, cũng như của khu vực FDI cho nền kinh tế là không lớn

Xu hướng chuyển dịch sâu sắc trong nền kinh tế Việt Nam hướng đến sản xuất công nghiệp và ra khỏi khu vực nông nghiệp cũng được thể hiện rõ nét thông qua xu hướng xuất khẩu hàng hóa sản xuất theo phương pháp công nghiệp Trung bình mặt hàng này đã gia tăng nhanh chóng (bình quân mỗi năm tăng 23% kể từ năm 2000), đạt 94.6 tỷ USD năm 2013, và chiếm khoảng 75% tổng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (Hình 17) Bên cạnh đó, theo WDI, từ năm 2008 đến năm

2013, xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao trong tổng hàng hóa xuất khẩu sản xuất theo phương pháp công nghiệp đã tăng từ 5% lên 28%, tương đương với Trung Quốc và cao hơn mức trung bình của khối ASEAN

Hình 18 Tỷ lệ hàng hóa sản xuất theo phương pháp công nghiệp

trong xuất khẩu

Nguồn: WDI

Trang 33

Do sự thiếu vắng của công nghiệp phụ trợ, cũng như thất bại trong nỗ lực tăng giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu, nên trong 10 năm qua, hầu như không có thay đổi nào về cơ cấu hàng nhập khẩu Theo đó, năm 2015, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm tới 91.3% tổng giá trị nhập khẩu Trong nhóm hàng này, đóng góp chính cũng là từ nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải, phụ tùng (đạt 67.5 tỷ USD, tăng 19.9% và chiếm 40.8% tỷ trọng), với sự gia tăng mạnh mẽ của các đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu điện thoại, điện tử (điện tử máy tính và linh kiện tăng 24.2%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 25.4%)

Hình 19 Tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu

Nguồn: GSO

Cơ cấu thị trường xuất khẩu trong những năm gần đây hầu như không có đột biến, trong đó, năm 2015, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 20.6% tổng kim ngạch xuất khẩu Trong khi đó, thị trường nhập khẩu đã có những thay đổi rõ nét, khi thị trường ASEAN giảm nhanh chóng và Việt Nam chuyển hướng nhập từ Trung Quốc và Hàn Quốc Năm 2015, Trung Quốc tiếp tục

là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm 28.8% tổng kim ngạch nhập khẩu, tiếp đến là Hàn Quốc (chiếm 16.7%), trong đó nhập khẩu chủ yếu từ 2 thị trường này là máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; đặc biệt là điện thoại các loại, điện tử, máy tính và linh kiện phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu điện tử, máy tính và điện thoại

Trang 34

Hình 20 Cơ cấu thị trường xuất khẩu

là do các tập đoàn đa quốc gia tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu Sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi sản xuất toàn cầu, trước mắt là ở khu vực Đông Á gia

Trang 35

tăng nhanh chóng trong giai đoạn gần đây Không những thế, sự thay đổi chuỗi sản xuất toàn cầu trong thời gian gần đây đặt Việt Nam vào vị trí cơ sở sản xuất quan trọng hơn Trước đây, một số nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc sử dụng Trung Quốc và các nước ASEAN là cơ sở sản xuất cho xuất khẩu sang Mỹ

và Nhật Bản Tuy nhiên, Trung Quốc đang dần trở thành một thị trường tiêu thụ thay vì chỉ là cơ sở sản xuất, nên các nước ASEAN, trong đó nổi lên là Việt Nam đang trở thành cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ, Tây Âu, Nhật và Trung Quốc Ngoài ra, chuỗi sản xuất toàn cầu đang dần dịch chuyển đầu tư sản xuất một số khâu trong chuỗi giá trị từ Trung Quốc và Thái Lan sang Việt Nam

“Chiến lược Trung Quốc + 1” và “Chiến lược Thái Lan + 1” đang được các công

ty đa quốc gia theo đuổi để tìm một nước ngoài Trung Quốc để tránh xu hướng tiền công nhân công đang gia tăng nhanh chóng tại các quốc gia này, nhưng nước này lại đủ gần để có thể xuất khẩu ngược trở lại Trung Quốc hay Thái Lan Với tiêu chí đó, Việt Nam đã và đang là lựa chọn ưu tiên hàng đầu, cùng với việc Việt Nam đã gia nhập hàng loạt các FTA Theo đó, Việt Nam chủ yếu thực hiện các khâu lắp ráp, gia công từ các đầu vào nguyên liệu và bán thành phẩm nhập từ Trung Quốc, sau đó xuất khẩu sang các thị trường tiêu thụ như Mỹ, EU,

và Nhật Bản Chuỗi này đang được xác lập nhanh chóng cho Việt Nam Tuy nhiên, mô thức tham gia vào chuỗi của Việt Nam hiện nay là khác so với quốc gia khác khi họ tham gia gần như toàn bộ chuỗi cung ứng từ khâu thiết kế, sản xuất các chi tiết, đến lắp ráp và phân phối (ví dụ Hàn Quốc) Ở Việt Nam chỉ tham gia một khâu cụ thể, ở điểm cuối của chuỗi, đó là lắp ráp các chi tiết nhập khẩu từ những nước khác, và phụ thuộc vào sự tham gia của các tập đoàn đa quốc gia mà thiếu đi sự tham gia của các doanh nghiệp trong nước Nếu cứ tiếp tục ở vị trí hiện tại, Việt Nam khó tạo được giá trị gia tăng cao, và hiệu ứng lan tỏa từ công nghệ và tiến bộ khoa học đến các doanh nghiệp trong nước bị hạn chế Theo đó, vai trò của các chính sách chính phủ về thể chế, hạ tầng, là rất quan trọng để Việt Nam tiến lên vị trí cao hơn cùng với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân trong chuỗi giá trị toàn cầu

Trang 36

3.2 Cán cân vốn tương đối bền vững, đóng góp vào cán cân tổng thể

Hình 22 Vốn FDI đăng ký và thực hiện

Nguồn: GSO

Trong khi cán cân vãng lai có những biến động lớn từ sau khủng hoảng, thì cán cân vốn tương đối ổn định với sự duy trì mức độ cao của FDI và ODA giải ngân qua các năm Trung bình giai đoạn 2011-2014, FDI giải ngân khoảng 11 tỷ thì trong năm 2015, FDI giải ngân tăng lên đến 14 tỷ USD (mức cao nhất trong

10 năm gần đây), đi kèm với FDI đăng ký vẫn duy trì trên 20 tỷ USD hàng năm Nguyên nhân của sự gia tăng này là do triển vọng kinh tế đang phục hồi, môi trường kinh doanh và tự do kinh tế đã có những cải thiện nhất định, nhưng quan trọng hơn, đây là sự đón đầu các cơ hội từ rất nhiều các hiệp định thương mại và đầu tư tự do mà Việt Nam đã ký kết và sắp sửa thực thi như TPP, FTA với EU, FTA với Hàn Quốc, đồng thời là thành viên chính thức của AEC từ cuối năm

2015 Xu hướng này cũng phản ánh chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó Việt Nam được coi là điểm cuối, thay thế Trung Quốc trong tương lai gần Tuy nhiên, như

đã phân tích ở trên, sự gia tăng FDI có thể dẫn đến những rủi ro khác cho nền kinh tế Bên cạnh đó, ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân cũng đã có cải thiện trong những năm gần đây, với mức dự kiến 5 tỷ USD trong năm 2015 Theo đó, cán cân vốn trong 2 quý 1 và 2 thặng dư tổng cộng khoảng 3 tỷ USD (Bảng 5)

Trang 37

Bảng 4 Vốn ODA và vốn vay ưu đãi giai đoạn 2010-2015 (triệu USD)

Năm Cam kết 5 Ký kết

Giải ngân Vốn vay Viện trợ Tổng

Trang 38

5 Đầu tư trực tiếp 7.168 7.088 8.050 1.974 2.188

FDI vào Việt Nam 8.368 9.071 9.200 2.270 2.580 FDI Việt Nam ra nước ngoài 1.200 1.983 1.150 296 462

6 Vay nợ trung và dài hạn 3.850 3.369 5.613 565 887

8 Đầu tư danh mục 1.990 1.582 553 53 160

Đầu tư của nước ngoài vào VN 1.887 1.542 553 53 160 Đầu tư của VN ra nước ngoài -103 -80

9 Tiền và tiền gửi 107

10 Các tài sản khác -6.149

C LỖI VÀ SAI SỐ -5.862 -9.702 -6.291 -76 -2.470

D CÁN CÂN TỔNG THỂ 11.867 557 8.375 2.662 555

Nguồn: SBV, IFS

Trang 39

4 Khu vực tiền tệ và tỷ giá

4.1 Chính sách tiền tệ nới lỏng nhưng lãi suất khó có thể giảm thêm

Hình 23 Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn

Nguồn: SBV

Cung tiền gia tăng ở mức 13.6% (tính đến 21/12) và các mức lãi suất chính sách ở mức thấp phản ánh những nỗ lực nới lỏng chính sách để hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh lạm phát đang ở mức thấp Tín dụng cũng đã gia tăng nhanh chóng

ở mức 17.02% (tính đến 21/12), cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây Sự gia tăng tín dụng cũng phản ánh khả năng hấp thụ vốn của các doanh nghiệp đã có cải thiện sau giai đoạn rất khó khăn của các năm trước Cho đến cuối năm, lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 6-9%/năm, lãi suất cho vay trung và dài hạn ở khoảng 9-11%/năm, giảm mạnh so với năm 2011

Tốc độ tăng tín dụng các ngành trong năm 2015 cho thấy ưu đãi đã có thiên hướng dành cho các hoạt động dịch vụ khác (như bất động sản, tiêu dùng, ) và ngành xây dựng với mức tăng tín dụng cao nhất Trong khi đó, tín dụng cho ngành công nghiệp và thương mại ở mức thấp nhất Điều này có thể phản ánh việc hướng dòng tín dụng vào những ngành sản xuất thực tạo ra sản phẩm chưa thực sự hiệu quả

Trang 40

Hình 24 Tốc độ tăng dư nợ tín dụng trong các ngành

Nguồn: SBV

Ngoài ra, mặc dù lãi suất giảm so với giai đoạn trước nhưng vẫn ở mức tương đối cao so với các nước trong khu vực, và quan trọng hơn là khả năng giảm lãi suất sẽ khó khăn do FED có thể tăng tiếp lãi suất, tỷ giá có sức ép gia tăng khiến NHNN khó có thể giảm lãi suất, đồng thời việc sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối để can thiệp khiến các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể thanh khoản kém nếu hiệu quả trung hòa không tốt Bên cạnh đó, do thâm hụt ngân sách nên quy mô vay nợ của Chính phủ gia tăng, theo đó, lãi suất trên thị trường đang phải cạnh tranh gay gắt với lãi suất trái phiếu chính phủ (TPCP) với quy

mô ngày càng gia tăng

Ngoài ra, quá trình tái cơ cấu ngân hàng vẫn tiếp diễn, các vấn đề nợ xấu chưa được giải quyết triệt để nên các hoạt động tín dụng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, các NHTM khó giảm lãi suất, trong khi đó chênh lệch lãi suất tăng để bù vào sự gia tăng chi phí trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng khi nợ xấu của hệ thống tăng Theo NHNN, đến 30/11, 99.6% nợ xấu đã được giải quyết và tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống được đưa về mức 2.72%, đồng thời từ quý I/2015 đã không còn tồn tại hai số liệu nợ xấu (số liệu theo báo cáo của các ngân hàng và số liệu kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước)6 Từ 2012 đến tháng 9/2015, 98.09% nợ

6

Phương pháp phân loại nợ mới và biện pháp kiểm soát nợ xấu chặt chẽ, từ quý I/2015 nợ xấu được minh bạch và chấm dứt sự tồn tại của nhiều con số nợ xấu Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ, Nghị quyết số 31/2012/NQ-QH13 ngày 8/11/2012 của Quốc hội và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/1/2013 của Chính phủ, NHNN đã ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) được cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn tạm thời nhưng có hoạt động sản xuất kinh doanh có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi được cơ cấu lại nợ Chính sách cơ cấu lại nợ này đã giúp cho

Ngày đăng: 07/05/2022, 12:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH  THÀNH  CỘNG  ĐỒNG  KINH  TẾ  ASEAN  VÀ - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ (Trang 14)
Hình 2. Cơ cấu ngành trong GDP và tốc độ tăng trưởng của ngành - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 2. Cơ cấu ngành trong GDP và tốc độ tăng trưởng của ngành (Trang 18)
Hình 3. Tốc độ tăng chỉ số phát triển công nghiệp (%) - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 3. Tốc độ tăng chỉ số phát triển công nghiệp (%) (Trang 19)
Bảng 2. Tốc độ tăng các thành tố chi tiêu GDP - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Bảng 2. Tốc độ tăng các thành tố chi tiêu GDP (Trang 19)
Hình 4. Tỷ trọng đầu tư của các thành phần kinh tế - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 4. Tỷ trọng đầu tư của các thành phần kinh tế (Trang 20)
Hình 5. Tăng trưởng, đầu tư/GDP, tăng trưởng tín dụng, - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 5. Tăng trưởng, đầu tư/GDP, tăng trưởng tín dụng, (Trang 21)
Hình 7. Giá trị gia tăng công nghiệp trên một lao động (USD, giá hiện hành) - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 7. Giá trị gia tăng công nghiệp trên một lao động (USD, giá hiện hành) (Trang 22)
Hình 8. GDP bình quân trên 1 lao động (USD, giá cố định 2005) - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 8. GDP bình quân trên 1 lao động (USD, giá cố định 2005) (Trang 23)
Hình 9. Cơ cấu đầu tư công theo nhóm ngành - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 9. Cơ cấu đầu tư công theo nhóm ngành (Trang 25)
Hình 11. Đóng góp của các thành phần kinh tế vào cán cân thương mại - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 11. Đóng góp của các thành phần kinh tế vào cán cân thương mại (Trang 26)
Hình 12. Lạm phát và mức tăng giá dầu và giá lương thực thế giới - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 12. Lạm phát và mức tăng giá dầu và giá lương thực thế giới (Trang 28)
Hình 13. Lạm phát, lạm phát cơ bản và chính sách tiền tệ - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 13. Lạm phát, lạm phát cơ bản và chính sách tiền tệ (Trang 29)
Hình 18. Tỷ lệ hàng hóa sản xuất theo phương pháp công nghiệp - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 18. Tỷ lệ hàng hóa sản xuất theo phương pháp công nghiệp (Trang 32)
Hình 19. Tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 19. Tỷ trọng mặt hàng nhập khẩu (Trang 33)
Hình 20. Cơ cấu thị trường xuất khẩu - Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới
Hình 20. Cơ cấu thị trường xuất khẩu (Trang 34)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w