1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Hiệp định vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh động, thực vật (WTO/SPS): cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

22 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 306,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này giới thiệu một cách đầy đủ nội dung cơ bản của Hiệp định về Áp dụng các Biện pháp Vệ sinh An toàn Thực phẩm và Kiểm dịch Động Thực vật (thường được gọi là ‘Hiệp định SPS’) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tất cả các quốc gia khi là thành viên của WTO phải tuân thủ Hiệp định SPS. Chương này cho thấy tại sao hiểu biết về Hiệp định SPS lại là quan trọng đối với tất cả những người quan tâm đến thương mại quốc tế về các mặt hàng nông sản. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Hiệp định vệ sinh an toàn thực phẩm và

an toàn dịch bệnh động, thực vật (WTO/SPS):

cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Lê Thanh Hoà, Ngô Xuân Nam, Vũ Thị Hải Yến

Văn phòng SPS Việt Nam, Bộ NN&PTNT

1 LỜI MỞ ĐẦU

Bài viết này giới thiệu một cách đầy đủ nội dung cơ bản của Hiệp định về Áp dụng các Biện pháp Vệ sinh An toàn Thực phẩm và Kiểm dịch Động Thực vật (thường được gọi là ‘Hiệp định SPS’) của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Tất cả các quốc gia khi là thành viên của WTO phải tuân thủ Hiệp định SPS Chương này cho thấy tại sao hiểu biết về Hiệp định SPS lại là quan trọng đối với tất cả những người quan tâm đến thương mại quốc tế về các mặt hàng nông sản

Hiệp định SPS chủ yếu nói về sức khỏe và thương mại quốc tế Thương mại quốc tế đã phát triển không ngừng trong 50 năm qua Chính

nó đã làm tăng sự lưu thông hàng hoá có khả năng ẩn chứa các rủi ro tới sức khỏe Hiệp định SPS ghi nhận nhu cầu tự bảo vệ mình của các nước thành viên WTO trước các rủi ro qua xâm nhập của sâu hại và dịch bệnh, nhưng đồng thời cũng tìm cách giảm thiểu bất kỳ tác động tiêu cực nào của các biện pháp SPS tới thương mại

Khía cạnh sức khỏe trong Hiệp định SPS được hiểu là các thành viên WTO có thể bảo vệ đời sống hoặc sức khỏe con người, động vật và thực vật bằng việc áp dụng các biện pháp kiểm soát các rủi ro liên quan đến hàng hoá nhập khẩu Những biện pháp này thường là những biện pháp kiểm dịch hay những yêu cầu về an toàn thực phẩm Những biện pháp mà các nước thành viên WTO áp dụng có thể chia thành: Vệ sinh an toàn thực phẩm (liên quan đến đời sống hay sức khoẻ con người) và an toàn dịch bệnh động thực vật (Liên quan đến sức khoẻ hay đời sống của động vật và thực vật) Những biện pháp đó thường được gọi là các biện pháp SPS

Trang 2

2 TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

- Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngày nay Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế khắc phục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là một tổ chức chuyên môn về thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc Tuy nhiên do một

số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn hiến chương, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng thương mại thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948

Từ đó tới 1995, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ sau vòng Uruguay (1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luật chơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với phạm vi của hệ

Trang 3

thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một thỏa thuận có nội dung hạn chế và tập trung ở thương mại hàng hóa đã tỏ ra không còn thích hợp Do

đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định

và thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển

sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995

Các quốc gia mong muốn gia nhập WTO, phải hoàn tất 3 nhóm nhiệm

vụ, cụ thể:

(i) Rà soát, so sánh nội dung các văn bản luật hiện có (đặc biệt là các nội dung có liên quan đến rào cản thuế quan và phi thuế quan) của nước mình với các Hiệp định của WTO, để quốc gia xin gia nhập bổ sung, điều chỉnh hoặc xây dựng mới và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước mình đảm bảo tính tương đương với quy định của WTO; (ii) Hội nghị đa phương với tất cả các nước thành viên WTO về nội dung các văn bản quy phạm pháp luật và thảo luận về hài hòa quy định và các dòng thuế của quốc gia xin gia nhập WTO với các dòng thuế theo quy định của WTO;

(iii) Hội nghị song phương với từng quốc gia thành viên (có yêu cầu đàm phán) nhằm hài hòa lợi ích với quốc gia yêu cầu đàm phán với lợi ích của quốc gia xin gia nhập WTO Để hoàn tất 3 yêu cầu nói trên, các quốc gia xin gia nhập WTO cần khoảng tời gian từ 5 năm đến 15 năm

Với Việt Nam, tháng 8 năm 1995 sau khi Hoa Kỳ chính thức bỏ cấm vận với Việt Nam, tiến trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới bắt đầu với việc Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á và nộp đơn gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Và sau hơn 13 năm đàm phán gia nhập WTO, trải qua 13 lần đàm phán đa phương và đàm phán song phương với 28 quốc gia có đề nghị, ngày 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO mở ra trang mới cho quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới

2.1.2 Lịch sử ra đời của Hiệp định SPS (2)

Trang 4

Hiệp định SPS của WTO được ra đời dựa trên các quy tắc trước đó của GATT (1947) đối với việc sử dụng các biện pháp SPS(*)

(*) Cụ thể, điều I của GATT - điều khoản Tối Huệ quốc, yêu cầu phải đối xử không phân biệt các sản phẩm nhập khẩu từ các nhà cung cấp nước ngoài khác nhau; điều III- yêu cầu các sản phẩm nhập khẩu được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa trong nước; hơn thế GATT 1947 cũng quy định một ngoại lệ, điều XX(b) mà các quốc gia thành viên được phép áp dụng biện pháp “cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người, động vật hoặc thực vật” miễn là những biện pháp này không vô căn cứ, không phân biệt đối xử giữa các quốc gia với nhau và cũng không phải là một hạn chế trá hình đối với thương mại

Trong vòng đàm phán Tokyo (1974-1979), Hiệp định đầu tiên về những rào cản kỹ thuật trong thương mại đã được đàm phán (chính thức gọi là “Luật Tiêu chuẩn”) Luật Tiêu chuẩn bao gồm tất cả các rào cản kỹ thuật bao gồm các biện pháp an toàn thực phẩm và sức khỏe động, thực vật như quy định về dư lượng thuốc trừ sâu, yêu cầu kiểm tra và ghi nhãn Chính phủ các thành viên đã ký Luật Tiêu chuẩn (1979) thống nhất sử dụng tiêu chuẩn quốc tế có liên quan (ví dụ như “đối với an toàn thực phẩm thì

sử dụng Codex Alimentarius), trừ khi họ cho rằng các tiêu chuẩn này không bảo vệ tốt sức khỏe con người Các thành viên cũng đồng ý thông báo cho các quốc gia thành viên khác thông qua Ban thư ký GATT về bất kỳ quy chuẩn nào không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế Và Luật tiêu chuẩn bao gồm các điều khoản để giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh từ việc

sử dụng các biện pháp an toàn thực phẩm và hạn chế kỹ thuật khác Tới vòng đàm phán Uruguay, động lực cho việc đàm phán Hiệp định SPS đến từ 2 yếu tố Thứ nhất, Luật Tiêu chuẩn được xem là không thể giúp tránh căng thẳng ngày càng gia tăng giữa các đối tác thương mại lớn như Mỹ và EU Luật Tiêu chuẩn chỉ là một thỏa thuận riêng biệt từ Hiệp định GATT bởi chỉ có khoảng một nửa các bên thành viên tham gia ký kết Luật này Hệ thống giải quyết tranh chấp dựa trên sự đồng thuận khiến các phán quyết liên quan đến tranh chấp về các biện pháp kiểm dịch động, thực vật khó được thông qua Thứ hai, người ta dự đoán rằng các biện pháp SPS

sẽ được sử dụng thường xuyên hơn cho mục đích bảo hộ

Trang 5

Để khắc phục những khiếm khuyết này, những quy định đa phương

về việc sử dụng các hàng rào kỹ thuật đã được hiệu chỉnh lại, mở rộng và tăng cường trong Vòng Uruguay 1986-1994 Bộ Luật Tiêu chuẩn được viết lại để sửa chữa một số khiếm khuyết và điều có ý nghĩa hơn nữa là thương thuyết một thỏa thuận riêng nhằm điều chỉnh những biện pháp về vệ sinh

và vệ sinh thực vật Hiệp định về Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm

và kiểm dịch động thực vật (Agreement on Sanitary and Phytosanitary Measures - SPS) ra đời bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-1-1995 Hiệp định SPS nêu ra những quy định được thiết kế để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng các quy định về an toàn và sức khỏe như là những phương tiện không minh bạch nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước (Josling, Robert và Orden 2004) Việc thông qua Hiệp định về các Biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật của WTO (Hiệp định SPS) là nhằm tạo khung khổ pháp lý chung cho vấn đề này Hiệp định đưa các nguyên tắc và điều kiện

mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ khi ban hành và áp dụng các biện pháp SPS để cân bằng các lợi ích thương mại giữa các quốc gia thành viên WTO

Thực tế cho thấy, kể từ khi Hiệp định SPS ra đời đến nay, việc đàm phán các cam kết về áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và

an toàn bệnh dịch động, thực vật đang trở thành một trong các yêu cầu tất yếu trong mỗi Hiệp định Thương mại tự do, thể hiện tầm quan trọng và phức tạp của các biện pháp SPS trong thương mại quốc tế dưới góc độ mức

độ quan tâm và quan điểm lợi ích riêng của từng quốc gia

2.1.3 Cam kết thực thi toàn diện Hiệp định SPS của Việt Nam khi gia nhập WTO (3) và sự ra đời của Văn phòng SPS Việt Nam

Trong khuôn khổ của tiến trình đàm phán gia nhập WTO, từ những phiên đầu tiên đến Phiên 5, Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã minh bạch hoá và làm rõ chính sách thương mại, trong đó có chính sách về nông nghiệp và vệ sinh kiểm dịch động thực vật để thực hiện Hiệp định Nông nghiệp (AOA) và Hiệp định SPS

Từ phiên 6, Việt Nam đã xây dựng Chương trình hành động thực hiện Hiệp định SPS Trong Chương trình hành động và các cam kết về SPS, Việt

Trang 6

Nam đã nhiều lần đề nghị các nước thành viên WTO căn cứ vào Điều 14 (Điều khoản cuối cùng) và Khoản 3, Điều 10 để cho phép Việt Nam được hưởng thời gian quá độ 3 năm sau khi gia nhập WTO mới phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của Hiệp định SPS, tuy nhiên đề nghị này không được chấp nhận bởi một số nước tiếp tục đề nghị Việt Nam thực hiện tất cả các nghĩa vụ của Hiệp định SPS ngay khi gia nhập với lý do Hiệp định SPS là một Hiệp định quan trọng có liên quan đến thương mại và ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người và động, thực vật

Tại Phiên 8, vào tháng 6 năm 2004, Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, một số nước thành viên có quan tâm đến lĩnh vực nông nghiệp và SPS đã đề nghị Ban Thư ký WTO và Việt Nam tổ chức phiên họp nhiều bên về SPS nhằm làm rõ hơn hiện trạng, tiến độ thực hiện các nghĩa vụ của Hiệp định và việc triển khai Chương trình hành động thực hiện Hiệp định này cũng như để Việt Nam trình bày rõ những khó khăn trong quá trình thực hiện Hiệp định và đề xuất các nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật

cụ thể trong việc thực hiện từng nghĩa vụ Sau nhiều nỗ lực chuẩn bị, khi tiến hành Phiên 9, Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO và Phiên

đa phương về nông nghiệp, tại Geneva, Thuỵ Sỹ tháng 12 năm 2004, các nước thành viên đã hoan nghênh và đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong việc chuẩn bị phiên nhiều bên về SPS và việc đã gửi các văn bản pháp luật

về SPS của Ban Công tác Cũng tại Phiên 9, Việt Nam đã thông báo quyết định sẽ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của Hiệp định SPS ngay khi gia nhập Việt Nam cũng đã điều chỉnh Chương trình hành động thực hiện Hiệp định SPS theo như cam kết và thông báo rằng Điểm hỏi đáp SPS sẽ được thành lập và bắt đầu hoạt động trong Quý I năm 2005 Quyết định này thể hiện

sự chuyển biến tích cực và quyết tâm gia nhập WTO trong thời gian sớm nhất của Việt Nam

Với cam kết thực thi toàn diện Hiệp định SPS trước khi chính thức là thành viên của WTO, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 99/2005/QĐ-TTg ngày 09 tháng 5 năm 2005 thành lập Văn phòng Thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia thực thi nghĩa vụ minh bạch hóa liên quan đến việc thông báo dự thảo các biện pháp SPS do cơ quan quản lý chuyên ngành thuộc lĩnh vực SPS ban hành, tiếp nhận các góp ý và yêu cầu của các quốc gia thành viên đối với các dự thảo biện pháp SPS của Việt Nam, cũng như tiếp nhận

Trang 7

thông báo dự thảo các biện pháp của các nước thành viên để góp ý và định hướng trong việc đáp ứng với các biện pháp SPS của các nước thành viên nhằm giảm thiểu những vướng mắc trong thương mại nông sản, thực phẩm quốc tế

2.2 Hiệp định an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS)

a Cấu trúc: Gồm 14 chương và 03 phụ lục

b Nội dung: Quy định quyền và nghĩa vụ, cũng như nguyên tắc trong

việc áp dụng các biện pháp kiểm soát các mối nguy gây mất an toàn thực phẩm và dịch hại và bệnh dịch trên động vật và thực vật xâm nhiễm và lây lan qua thương mại nông sản thực phẩm quốc tế (giữa các thành viên WTO)

c Nguyên tắc: (1) Tự do; (2) Công khai; (3) Minh bạch; (4) Công

bằng và (5) Hài hòa

d Lĩnh vực điều chỉnh

Bảng 1 Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SPS

1 An toàn thực phẩm 1.1 Mối nguy vật lý

1.2 Mối nguy hóa học 1.3 Mối nguy sinh học

3 An toàn môi sinh 3.1 Không hủy diệt động vật hoang dã trong sách đỏ

3.2 Không khai thác động, thực vật hoang dã quá mức 3.3 Không hủy hoại môi trường sống của động, thực vật hoang dã

4 An toàn lao động 4.1 Không sử dụng lao động trẻ em

Đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động

e Xây dựng, lấy ý kiến và ban hành các quy định về chỉ tiêu và mức giới hạn An toàn thực phẩm, an toàn bệnh dịch động, thực vật (SPS) Việc xây dựng các chỉ tiêu và mức giới hạn An toàn thực phẩm, an toàn bệnh dịch động, thực vật phải tuân thủ quy trình và thủ tục nhất định,

cụ thể:

Trang 8

Khi nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu và mức giới hạn ATTP các quốc gia thành viên trước hết cần xem xét áp dụng các mức giới hạn do Ủy ban CODEX (tổ chức do FAO và WHO phối hợp thành lập) công bố theo

4 lĩnh vực như sau:

Bảng 2 Lĩnh vực công bố mức giới hạn của Ủy ban Codex

Ủy ban hỗn hợp FAO/ WHO về đánh giá nguy

Tất cả các văn bản quy định về an toàn thực phẩm, an toàn bệnh, dịch thực vật và an toàn bệnh, dịch động vật trên cạn và dưới nước, đã nêu trên

đều có tên gọi là “Quy chuẩn kỹ thuật” (Theo Hiệp định SPS của WTO và

Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn của Việt Nam)

f Lấy ý kiến các quốc gia thành viên đối với các dự thảo: Tất cả các

dự thảo quy định liên quan đến SPS của quốc gia thành viên đều phải được dịch ra ít nhất 1 trong 7 thứ tiếng do WTO quy định (thông thường đều chọn tiếng Anh) gửi Ủy ban SPS của WTO và Văn phòng SPS của từng quốc gia thành viên Trong thời hạn 60 ngày Ủy ban SPS của WTO và Văn phòng SPS của từng quốc gia thành viên sẽ góp ý kiến Quốc gia dự thảo

Trang 9

quy định phải có nghĩa vụ trả lời góp ý của Ủy ban SPS và Văn phòng SPS của từng quốc gia

g Ban hành các quy định liên quan đến biện pháp SPS: Sau khi quy

định kỹ thuật liên quan tới ATTP, ATBD động thực vật được ban hành thì nội dung văn bản phải được đăng trên “điểm hỏi - đáp” của Văn phòng SPS của từng quốc gia, đồng thời gửi đăng trên Website của văn phòng SPS của WTO

3 THỰC HIỆN CÁC CAM KẾT CỦA HIỆP ĐỊNH SPS

3.1 Rào cản trước và sau khi gia nhập WTO

Bảng 3 Rào cản trước và sau khi gia nhập WTO STT Các loại rào cản Trước khi là

thành viên WTO

Sau khi là thành viên WTO

áp đặt cho hàng hoá nhập khẩu để bảo hộ hàng hoá nội địa và ngược lại

Cắt giảm tới mức ngang bằng quy định của WTO

thành Hiệp định của WTO

3.2 Bộ máy tổ chức thực thi hiệp định SPS

Các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm, sức khoẻ động, thực vật bao gồm: Văn phòng Thông báo

và Điểm hỏi đáp về SPS của Việt Nam đã được thành lập tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo quyết định số 99/2005/QĐ-TTg ngày 9/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ và lưới tổ công tác liên Bộ và các điểm

hỗ trợ kỹ thuật của Văn phòng SPS Việt Nam bao gồm: Cục Bảo vệ thực vật, Cục Quản lý chất lượng Nông lâm và thuỷ sản và Cục Thú y thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Cục An toàn vệ sinh thực phẩm thuộc

Trang 10

Bộ Y tế; Vụ Khoa học và Công nghệ thuộc Bộ Công Thương; và Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Theo quyết định này, các Bộ ngành hữu quan, trong phạm vi nhiệm

vụ của mình, phải phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và theo sự điều phối của Văn phòng SPS của Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ thông báo và hỏi đáp phù hợp với các điều khoản của Hiệp định SPS quy định

3.3 Kết quả thực hiện các cam kết của Hiệp định SPS/WTO

3.3.1 Hoàn thiện thể chế và pháp lý

Kể từ khi cam kết thực thi toàn diện Hiệp định SPS và chính thức là thành viên WTO, các Bộ, ngành có liên quan trong hệ thống các cơ quan liên ngành thực thi Hiệp định SPS đã tích cực và chủ động rà soát, sửa đổi

và bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hài hòa hóa các cam kết của Hiệp định SPS theo đúng nội dung cam kết Đây là cơ sở quan trọng tạo nên một môi trường thông thoáng, minh bạch đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các cam kết về SPS ngày càng sâu rộng

Hệ thống thể chế và pháp lý ngày càng hoàn thiện bao gồm hệ thống văn bản luật và quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực SPS: ban hành

06 bộ luật nòng cốt gồm Luật An toàn thực phẩm (2010); Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật (2013); Luật Thú y (2015); Luật Thuỷ sản (2017); Luật Chăn nuôi (2018); Luật Trồng trọt (2018); các Nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện và các văn bản có liên quan khác

Hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam bao gồm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) do các Bộ quản lý chuyên ngành xây dựng và ban hảnh

và Quy chuẩn địa phương (QCĐP) do UNND các tỉnh, thành phố trực thuộc

TW xây dựng và ban hành khi được sự đồng ý của Bộ quản lý chuyên ngành tương ứng

a Lĩnh vực An toàn thực phẩm

Trong lĩnh vực thực phẩm, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật về thực phẩm hiện nay do các Bộ quản lý chuyên ngành xây dựng và ban hành theo Luật

Trang 11

An toàn Thực phẩm bao gồm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) của

Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, và Bộ Công Thương

Bộ Y tế đã ban hành được 52 QCVN, Bộ NN & PTNT đã ban hành được

37 QCVN, Bộ Công Thương chưa ban hành QCVN nhưng đã ban hành một số Thông tư để quản lý an toàn thực phẩm (ví dụ Thông tư số 28/2013/TT-BCT quy định về kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu thuộc trách nhiệm của Bộ Công Thương

Lĩnh vực an toàn thực phẩm: Bộ Y tế ban hành tổng cộng 55 QCVN

gồm: sữa và các sản phẩm từ sữa (4); Sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ (4); Phụ gia thực phẩm (23); Giới hạn ô nhiễm sinh học và hóa học trong thực phẩm (4); Bao bì,dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm (4); Các chất được sử dụng để bổ sung vào thực phẩm (7); Nước đá dùng liền (1); Nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai, đồ uống không cồn và đồ uống

có cồn (3); Nước ăn, nước uống sinh hoạt (2); Thực phẩm bổ sung vi chất dinh dưỡng (2) ; Sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ (4)

Hệ thống TCVN trong lĩnh vực nông sản và thực phẩm gồm 1.700 TCVN với khoảng 68% TCVN được xây dựng trên cơ sở chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế, trong đó (Lĩnh vực tiêu chuẩn hoá nông nghiệp (ICS 65) bao gồm khoảng 373 TCVN trong 07 nhóm chuyên ngành; Lĩnh vực tiêu chuẩn hoá công nghệ thực phẩm (ICS 67) bao gồm khoảng 1400 TCVN trong 16 nhóm chuyên ngành do các ban kỹ thuật TCVN, các tổ chức biên soạn Tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Y tế xây dựng

An toàn thực phẩm có nguồn gốc thực vật: Đến nay, đã xây dựng

được 14 VBQPPL liên quan đến an toàn thực phẩm có nguồn gốc thực vật Riêng quy định giới hạn tối đa dư lượng các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật MRL được xây dựng trên các nguyên tắc bảo đảm an toàn đối với sức khỏe con người, phù hợp với thực tế nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam và chấp nhận hoàn toàn quy định của quốc tế và khu vực như Quy định của Codex CAC/MRL 1 - Quy định giới hạn tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (2015) và Quy định của ASEAN về hài hòa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (2015) gồm 205 hoạt chất, 20 hoạt chất có bổ sung MRL theo ASEAN)

Ngày đăng: 21/10/2021, 13:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SPS - Hiệp định vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh động, thực vật (WTO/SPS): cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Bảng 1. Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SPS (Trang 7)
Bảng 3. Rào cản trước và sau khi gia nhập WTO STT Các loại rào cản  Trước khi là   - Hiệp định vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh động, thực vật (WTO/SPS): cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Bảng 3. Rào cản trước và sau khi gia nhập WTO STT Các loại rào cản Trước khi là (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w