1 1 MỞ ĐẦU 1 1 Lí do chọn đề tài Môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học Môn học này là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh có thể học tốt những môn khác Tiế[.]
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học Môn học này là cơ sở, là nền tảng giúp học sinh có thể học tốt những môn khác Tiếng Việt vừa là khoa học vừa là công cụ, phương tiện giúp học sinh lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng kĩ xảo và phát triển tư duy Chương trình Tiếng Việt tiểu học với mục tiêu: “Hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp Mỗi phân môn, mỗi tiết học, mỗi nội dung dạy học đều hướng tới mục đích phát triển 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Trẻ trước khi đến trường đã biết nói và nghe
ở mức độ đơn giản Kĩ năng đọc và viết lần đầu tiên được hình thành khi bước vào lớp 1
Kĩ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới
để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp Với tư cách là một công cụ, kĩ năng đọc phải được hình thành và phát triển nhanh chóng, kịp thời để học sinh thuận lợi trong việc khám phá các khoa học khác: Toán, Tự nhiên và xã hội… Vì vậy,
số tiết học dành cho phân môn Tiếng Việt luôn chiếm số lượng cao nhất trong chương trình lớp 1 kể cả trước đây và Chương trình giáo dục 2018
Lần đầu tiên được học đọc, học viết với biết bao bở ngỡ bởi nhiều thứ mới mẻ cả môi trường lẫn nề nếp học tập nên các em thật khó khăn khi tiến hành các hoạt động học tập Chất lượng đầu vào lớp 1 thường không đồng đều Có em
đã nhận diện được các chữ cái và chữ số, có em đã bập bẹ biết đọc và viết tương đối đẹp, lại có nhiều em chưa nhận diện được chữ cái, chưa biết cầm bút, v.v… Mọi áp lực, khó khăn đều dồn vào những học sinh dễ tổn thương, nhất là khi các
em chưa nhận diện được chữ cái, chữ số hoặc lúc nhớ, lúc quên Nếu tác động không đúng cách hoặc không có sự quan tâm đúng mức, thì đây chính là nguyên nhân gây nên nhiều hệ lụy sau này như tình trạng học sinh lưu ban, ngồi nhầm lớp, “mất gốc”…
Vấn đề đặt ra là phải nhanh chóng tìm cách tác động sư phạm để nhóm học sinh này trước mắt phải kịp thời nhận diện được chữ cái và chữ số, theo kịp nhịp độ hình thành kĩ năng đọc - viết của cả lớp Có như vậy, bài học mới được tiến hành bình thường
Mặt khác, Chương trình giáo dục phổ thông là văn bản thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh Thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức Chương trình giáo dục phổ thông mới cấp tiểu học có tính mở cả về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức, giáo viên được chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng địa phương, đối tượng học sinh lớp mình Hình thức hoạt động cũng đa dạng nhằm phát triển cho học sinh kĩ năng làm việc cá nhân, làm việc tương tác với bạn trong nhóm, làm việc với thầy và bạn trong
Trang 2tạo điều kiện để các em phát huy tối đa sở trường, khả năng, năng lực của mình.
Với tinh thần trên, là giáo viên nhiều năm giảng dạy lớp 1 ở Trường Tiểu học Yên Thọ 2, tôi luôn suy nghĩ, tìm tòì, đổi mới cách làm để giảm áp lực trong công việc, nâng cao chất lượng học sinh Xuất phát từ những suy nghĩ và hoàn cảnh thực tế của lớp mình, tôi xin mạnh dạn trình bày sáng kiến: Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phần âm, vần trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 thông qua việc dạy học phân hóa đối tượng tại Trường Tiểu học Yên Thọ 2
1.2 Mục đích
Với những biện pháp dạy học phân hóa đối tượng học sinh mà chủ yếu là
ưu tiên quan tâm nhóm đối tượng học sinh có kĩ năng đọc chậm, mục đích của sáng kiến nhằm phát huy tiềm năng của tất cả các đối tượng học sinh, giúp dỡ những học sinh chậm tiến theo kịp nhịp độ hình thành kĩ năng chung của cả lớp, nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 do tôi phụ trách
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp dạy học phân hóa đối tượng học sinh lớp 1
1.4 Phương pháp: Quan sát, thống kê, phân tích, tổng hợp…
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận
Dạy học phân hóa là một cách tiếp cận dạy học mà ở đó giáo viên điều
chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp với từng cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh nhằm phát triển tối đa năng lực học tập của mỗi em
Dạy học phân hóa là dạy theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm sinh
lý, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có
Đặc điểm của dạy học phân hóa là phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập
Dạy học phân hóa được tổ chức dưới các hình thức như:
Phân hóa theo hứng thú, phân hóa theo sự nhận thức, phân hóa giờ học theo học lực, phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của người học
Vì vậy, dạy học phân hóa phải tạo dựng môi trường từ lớp dưới để những học sinh có hoàn thành tốt không thấy nhàm chán, học sinh chưa hoàn thành có
cơ hội theo kịp và hoàn thành nhiệm vụ các môn học và hoạt động giáo dục
Khi dạy học phân hóa, giáo viên cần hiểu rõ đối tượng giáo dục Từ năng lực hiểu đối tượng giáo dục, giáo viên cần có một năng lực quan trọng là thiết kế
Trang 3công cụ dạy học Đó là hệ thống câu hỏi, phiếu bài tập, bài kiểm tra phù hợp với từng đối tượng học sinh và thể hiện được sự phân hóa
Những công cụ ấy phải vừa đảm bảo được mục đích chung là giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản vừa phù hợp với nhận thức và học lực của từng đối tượng học sinh để góp phần phân hóa được đối tượng học sinh
Cùng một phương pháp dạy học, nội dung dạy học nhưng giáo viên cần
có sự tổ chức hợp lý để đạt được mục đích phân hóa đối tượng học sinh mà không làm học sinh yếu kém phải tự ti, mặc cảm hay học sinh học tốt trở nên tự
cao, tự đại Đó là nghệ thuật giảng dạy của giáo viên
(Thực hiện tốt dạy học phân hóa -Hải Bình- Giáo dục và thời đại -7/3/2016)
Như vậy, cũng như nhiều hoạt động khác trong quá trình dạy học, việc dạy học phân hóa đối tượng học sinh là biện pháp cần thiết để nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh đầu cấp khi đầu vào có sự phân hóa cao về mức độ nhận thức
và khả năng hình thành kĩ năng
2.2 Thực trạng vấn đề
Năm học 2020 - 2021 tôi được giao phụ trách lớp 1B của Trường Tiểu học Yên Thọ 2 Lớp 1B có 28 em, trong đó nam13 em, nữ 15 em
2.2.1 Thuận lợi
Qua nắm bắt, tôi được biết 100% các em đều được qua lớp mẫu giáo 5 tuổi Mặc dù nhà trường đã triển khai và thực hiện công tác bàn giao trẻ mẫu giáo vào lớp 1, có em hết sức nhanh nhẹn, tự tin, ghi nhớ chắc chắn tất cả các chữ cái và chữ số đã bập bẹ biết ghép đọc tiếng đơn giản, cầm bút đúng cách và viết tương đối đẹp như em Lê Nguyễn Anh Thơ… Các em có đầy đủ đồ dùng học tập Các
em ở gần trường nên việc đến lớp đầy đủ và đúng giờ
2.2.2 Khó khăn
Cha mẹ các em chủ yếu làm nông nghiệp, nguồn thu nhập bấp bênh, một số gia đình để con ở nhà cho ông bà đi làm ăn xa Chính vì thế việc quan tâm đến các em còn nhiều hạn chế từ phía gia đình Đó cũng là một khó khăn đặt ra đối với giáo viên chủ nhiệm
Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và sự khác biệt trong mức độ quan tâm của gia đình nên vào đầu năm học, khi nhận các em vào lớp 1 đã bộc lộ một số hạn chế mà chủ yếu là sự không đồng đều và thiếu bền vững về khả năng nhận diện chữ cái và chữ số của các em, còn nhiều em còn quá nhút nhát, không nhớ hết chữ cái hoặc lúc nhớ, lúc quên như em Đỗ Văn Hoàng Dương, Nguyễn Ngọc Kiên Có em chưa nhớ chữ cái và chữ số như Nguyễn Đình Trí, Hoàng Hải Đạt, , Lê Thị Kim Anh
2.2.3 Kết quả khảo sát đầu năm
Từ thực tạng trên, tôi tiến hành khảo sát khả năng nhận diện chữ cái và chữ số của học sinh, kết quả như sau:
Trang 4T
Nhóm đối tượng học sinh Kết quả
1 Học sinh nhận biết được các chữ cái và chữ số 19 67,9
2 Học sinh có nhận biết được chữ cái và chữ số nhưng
chưa vững chắc (lúc nhớ lúc quên)
6 21,4
3 Học sinh chưa nhận biết được các chữ cái và chữ số 3 10,7
Như vậy, bảng thống kê trên cho thấy chất lượng nhận diện chữ cái và chữ số còn thấp (10,7 % học sinh chưa nhận biết được các chữ cái và chữ số 21,4% học sinh có nhận biết được chữ cái và chữ số nhưng chưa vững chắc (lúc nhớ lúc quên) Điều này dẫn đến chất lượng hình thành kĩ năng đọc của học sinh nơi đây còn thấp
Thực trạng trên xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Nguyên nhân khách quan
- Chất lượng đầu vào lớp 1 thường không đồng đều
- Một bộ phận phụ huynh học sinh chưa quan tâm con em đúng mức
Nguyên nhân chủ quan
- Do tâm lí lứa tuổi, học sinh còn bở ngỡ khi chuyển hoạt động chủ đạo từ
vui chơi ( trẻ mầm non ) sang học tập ( học sinh tiểu học ) nên việc tập trung ghi nhớ có chủ đích của học sinh hạn chế, dễ nhớ nhưng cũng dễ quên
Như vậy, từ việc nhận diện chữ cái và chữ số của học sinh không đồng đều dẫn đến chất lượng hình thành kĩ năng đọc của học sinh sẽ có sự phân hóa cao Khi học sinh nhóm này nhận diện được chắc chắn các chữ cái, hình thành được
kĩ năng đọc thì học sinh nhóm kia đã có kĩ năng đọc tương đối thành thạo Sự phân hóa này diễn ra liên tục, đòi hỏi người giáo viên phải kịp thời có biện pháp tác động sư phạm phù hợp để tất cả đối tượng đều phát triển tốt
2.3 Các biện pháp nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1
Biện pháp 1 Phân loại đối tượng học sinh và dạy học theo đối tượng học sinh
a Phân hóa đối tượng học sinh
Không thể tiến hành hoạt động dạy học nhất là dạy những bài học đầu tiên -khi chưa nắm bắt về mức độ nhận thức của đối tượng Vì vậy, công việc trước nhất của giáo viên lớp l là phải nhanh chóng nắm bắt và phân loại được đối tượng học sinh của lớp mình phụ trách
Trang 5Theo đó, tôi đã tiến hành theo dõi, kiểm tra mức độ nhận thức của học sinh
và chia các em thành 3 nhóm đối tượng:
- Nhóm thứ nhất: Học sinh nhận biết được các chữ cái và chữ số
- Nhóm thứ hai: Học sinh có nhận biết được chữ cái và chữ số nhưng chưa vững chắc (lúc nhớ lúc quên, chữ biết chữ không )
- Nhóm thứ ba: Học sinh chưa nhận biết được các chữ cái và chữ số
Học sinh được phân loại theo nhóm đối tượng không bất biến mà liên tục thay đổi do nhịp độ phát triển nhận thức của mỗi em không giống nhau, vì vậy việc phân loại phải diễn ra thường xuyên, tránh cứng nhắc và thành kiến
b Dạy học theo đối tượng học sinh
Một giờ học được tiến hành trong một khảng thời gian nhất định (40 phút) với những nội dung dạy học cụ thể, đồng loạt trên học sinh cả lớp Việc tác động đến tất cả các đối tượng học sinh đều được hoạt động có hiệu quả là cực kì khó khăn Nhất là khoảng cách nhận thức của các em lại khác xa nhau (em thì đã nhớ
và viết được các chữ cái, thậm chí có em đã bập bẹ biết đọc, lại có em không nhớ được chữ nào và chưa biết cầm bút) Kết thúc một tiết dạy học vần, học sinh phải đọc được âm, ghép được vần, tạo thành tiếng Giáo viên không thể chỉ loay hoay bên những em chưa nhận diện được âm, cũng không thể yên tâm tiến hành dạy học đồng loạt Tôi đã từng bước tháo gỡ khó khăn này với các biện pháp sau:
b.1 Giao nhiệm vụ ngắn hạn
Biện pháp này được tôi vận dụng trong giai đoạn đầu, khi lớp học vẫn tồn tại nhiều em chưa nhận diện được chữ cái Tôi tiến hành dạy học theo đối tượng
ngay từ khâu chuẩn bị bài học Để tổ chức một bài học vần trên lớp, trước đó, tôi
đã giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh (có sự trợ giúp của phụ huynh) thuộc nhóm thứ ba phải nhận diện được những chữ ghi âm mới, đọc được âm mới liên quan đến bài học
Ví dụ: Trước khi học bài 1C (Bộ sách Cùng học để phát triển năng lực):
“Ô, ơ, cô, cờ” giáo viên yêu cầu nhóm đối tượng thứ ba phải nhận diện được chữ
ô và ơ, đọc được âm ô và ơ (âm c các em đã biết trước đó)
Không nên cùng một lúc giao nhiều nhiệm vụ, chỉ cần yêu cầu học sinh nhận diện được vài âm liên quan đến bài học sau Khi giao nhiệm vụ cho học sinh đồng thời phải liên lạc để phụ huynh nắm được yêu cầu và cùng trợ giúp trẻ ghi nhớ ở nhà, có thể tư vấn phụ huynh học sinh cách hỗ trợ trẻ ghi nhớ
Ví dụ: Bài Học vần hôm sau là “L, m, lá, mẹ” Mục tiêu ghi nhớ là âm l và
m (a,e học sinh đã học trước đó) Phụ huynh biết được thông tin này từ giáo viên
để ghi chữ cái l, m vào mỗi đồ chơi rồi đặt lộn cùng đồ vật ghi chữ a, e đã học trước đó, thỉnh thoảng yêu cầu trẻ lấy đồ có ghi chữ theo ý muốn; để lộn xộn các chữ trong bộ chữ yêu cầu các em nhặt ghi âm l, m hoặc đưa cho trẻ cầm vào tay chữ ghi âm l, m và đọc nhẩm trong miệng.v.v…
Trang 6b 2 Tổ chức dạy học phân hóa đối tượng trong giờ học
b.2.1 Tổ chức lớp học
Việc biên chế sắp xếp chỗ ngồi trong giờ học cũng rất quan trọng Theo kinh nghiệm, tôi thường xếp các em học yếu ngồi ở dãy bàn trên cùng hoặc nơi gần lối đi lại nhằm mục đích thường xuyên theo dõi, trợ giúp các hoạt động học tập của các em, Nắm bắt các em có thao tác kịp với các bạn không, nếu không kịp giáo viên dễ dàng đến bên giúp đỡ, hỗ trợ kịp thời
Ví dụ: Khi học bài 3B (Tiếng Việt), Nhiều em làm xong việc tìm và ghép
tiếng “nó” vào bảng cài nhưng có vài em chưa tìm và ghép được Nếu chỗ ngồi của các em phía trên hoặc cạnh lối đi, khi ấy giáo viên dễ thấy và có mặt kịp thời để giúp đỡ, hướng dẫn các em ghép vào bảng để giơ lên kịp với các bạn Việc làm này của giáo viên đã giúp được các em không những ghi nhớ mà còn phấn khởi vì các em nghĩ là mình cũng đã làm được như các bạn
b.2.2 Kiểm tra trước khi tiến hành bài mới
Trước khi triển khai nội dung bài mới, tôi tiến hành kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh (đã giao hôm trước) Việc nắm bắt khả năng nhận diện chữ ghi
âm đã được giao và một vài âm đã học của nhóm đối tượng thứ nhất ngoài học bài hôm trước và cho các em tìm thêm tiếng có âm, vần đã học, nhóm đối tượng thứ hai các em đọc, nhớ được bài học hôm trước, còn nhóm đối tượng thứ ba được đặt lên hàng đầu nhưng không nên nóng vội gọi ngay các em lên bảng hoặc đứng trả lời trước lớp mà chỉ kiểm tra qua trao đổi cá nhân
Ví dụ: Muốn kiểm tra xem các em đã nhớ âm m chưa, giáo viên xuống
chỗ ngồi của các em yêu cầu lấy cho cô hoặc chỉ cho cô chữ ghi âm m Hay khi
đã học xong vần inh, tiết học hôm sau cho học sinh nhìn vào câu “ Bé chơi xếp hình” tìm chỉ được vần inh, đọc vần inh
Chỉ gọi các em lên bảng hay trình bày trước lớp khi chắc chắn các em sẽ hoàn thành nhiệm vụ để tuyên dương giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn Việc kiểm tra tránh khuynh hướng chỉ nhăm nhăm tập trung vào vài em thuộc một nhóm đối tượng, hoặc trách phạt quá mức, dễ gây tâm lí ức chế khi bước vào bài học
b.2.3 Tiến hành bài mới
- Dạy học phân hóa đối tượng thể hiện trong các hình thức tổ chức
Khi tổ chức hoạt động cả lớp, giáo viên vừa tiến hành bài dạy trên đồng loạt cả lớp vừa phân phối chú ý để nắm bắt khả năng tiếp thu của học sinh
Khi tổ chức hình thức đọc theo nhóm, nếu là yêu cầu đọc hay phân tích vần, tiếng dễ thì giáo viên chọn nhóm thứ ba hoặc nhóm thứ hai thực hiện Nếu
là yêu cầu khó thì giáo viên sẽ phải chọn nhóm thứ nhất thực hiện trước, các nhóm còn lại thực hiện sau
Trang 7Khi chuyển sang hình thức hoạt động (đọc, phân tích vần, tiếng) cá nhân, tôi thường chọn học sinh bắt đầu chuỗi đọc nối tiếp từ một học sinh nhóm ba nếu là mức độ dễ, một học sinh nhóm hai nếu là mức độ vừa và là một học sinh nhóm thứ nhất nếu là mức độ khó
Trong khi tiến hành giờ Học vần, nên tạo điều kiện để các em nhóm thứ
ba được đọc nhiều hơn khi tổ chức đọc nhóm và cá nhân
Ví dụ: Bài 5B: x, y – SGK, Tiếng Việt 1(Bộ sách Cùng học để phát triển
năng lực)
Đối với học sinh nhóm đối tượng thứ ba giáo viên cho phân tích tiếng “ xe
” và đọc trước Vì bài này tiếng chỉ có hai âm ghép lại mà hai âm này dễ nhớ
Đối với nhóm đối tượng thứ hai khi dạy đến phần luyện tập: “Đò đã xa bờ” yêu cầu các em đọc trước và tìm âm vừa học, sau đó cho học sinh nhóm đối tượng ba đọc lại
Đối với nhóm đối tượng thứ nhất các em nhớ âm, vần tốt rồi thì sang đến phần hoạt động vận dụng ( thường là một đoạn văn hay một khổ thơ ) giáo viên
sẽ cho các em đọc trước để hai nhóm còn lại nghe và đọc sau
- Dạy học phân hóa đối tượng thể hện trong vận dung linh hoạt các phương pháp dạy học
Đối với nhóm đối tượng hình thành kĩ năng đọc chậm do chưa nhận diện
âm, đọc được vần, tôi linh hoạt các phương pháp dạy học như:
+ Sử dụng phương pháp trực quan, tạo biểu tượng
Chẳng hạn khi học xong âm “nh” trong bài 3B- Tiếng Việt 1, các em
không nhớ âm “nh” cô giáo có thể nhắc các em âm này có trong tiếng “nhà” đứng trước vần “a” Hay học khi học xong âm “ch” bài 5A, nếu học sinh quên
âm “ch” cô giáo có thể gợi ý cho học sinh nhớ âm này có trong tiếng “chợ, chó” khi ấy các em nhớ ngay được âm “ch”…
Dùng tranh vẽ (hoặc vật thật) ; để học sinh quan sát và tìm ra âm, vần trong bài Bởi các em có sự liên tưởng từ vật thật đến âm, vần trong bài học Từ những hình ảnh như thế, các em sẽ dễ nhớ và nhớ chính xác hơn các âm, vần đã được học
Ví dụ: Khi dạy bài 10D: vần ut, ưt,iêt học sinh quan sát tranh, hoặc vật
thật( giáo viên giơ cát bút hỏi học sinh có vần gì ) các em sễ ghi nhớ được từ
“cái bút” và rút ra được vần “ut”
+ Sử dụng phương pháp luyện tập
Luyện đọc âm, vần tiếng, từ, câu, đoạn văn, khổ thơ:
- Đối với học sinh đọc tốt phần âm - vần, chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh, lúc này giáo viên giao thêm bài đọc ngoài hoặc tìm tiếng có âm, vần vừa học Còn học sinh nhận biết còn chậm, chưa nhận diện chính xác âm, vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn
Trang 8phần luyện tập đọc câu, đoạn văn, khổ thơ trong phần vận dụng, hoặc ở bài tập đọc, tôi đã hết sức kiên nhẫn, giành nhiều cơ hội đọc cho các em, giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều Tôi cho học sinh nhẩm ghép âm với vần, dấu thanh tạo thành tiếng, đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong, đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ Sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp, đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ
Thường xuyên cho học sinh nhắc lại các âm, vần đã học để giáo viên nắm bắt xem em nào quên các âm, vần đã học để kịp thời ôn tập, luyện đọc lại, vì nhiều em ghi nhớ chưa bền vững, nhanh nhớ đồng thời cũng nhanh quên
Chắt chiu, bằng lòng với kết quả đạt được của các em dù nhỏ sau mỗi giờ học, để tiếp tục kiên trì rèn luyện trong qua trình dài Tránh nóng vội, đặt ra mục tiêu ngang bằng với các em học sinh khác hoặc tự tạo ra áp lực cho chính mình và cho học sinh khi so sánh kết quả giữa em này với em khác là một sai lầm nghiêm trọng
c Tổ chức dạy học phân hóa đối tượng trong tiết học tăng buổi
Ngay trong buổi học tăng buổi đầu tiên tôi đã phải tính đến phương án dạy theo từng nhóm đối tượng để giáo viên dễ giao bài tập, dễ giúp các em trong quá trình học
- Nhóm học sinh nhận biết được các âm, vần tôi cho các em giao nhiệm
vụ tập viết những âm, vần tiếng đã học Làm bài trong vở nâng cao
- Nhóm học sinh có nhận biết được âm, vần nhưng chưa vững chắc (lúc nhớ lúc quên, chữ biết chữ không ) tôi giao nhiệm vụ đọc lại bài, tập viết những
âm, vần tiếng đã học vào vở, làm bài trong vở nâng cao nhưng số lượng ít hơn
- Nhóm học sinh chưa nhận biết được các chữ cái và chữ số là nhóm được tôi quan tâm và dành nhiều thời gian cùng làm việc với các em nhất Bởi vì các
em thuộc 2 nhóm trên đã biết tự mình hoàn thành nhiệm vụ cô giáo giao, các em
đã có tính tự giác, chủ động thực hiện theo yêu cầu, chỉ cần cô giáo theo dõi, trợ giúp và nhận xét, điều chỉnh khi cần thiết Còn nhóm học sinh thứ ba nếu cô giáo không trực tiếp làm việc thì dường như các em chỉ biết ngồi yên hoặc đùa nghịch Tôi thường tiến hành hướng dẫn các em thực hiện các hoạt động sau:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh tìm một vài chữ cụ thể trong bộ chữ cái (thuộc những chữ ghi âm, vần đã học)
+ Học sinh tìm chữ trong bộ chữ theo yêu cầu
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đọc
(-) Học sinh lần lượt đọc chữ tìm được đang cầm trên tay.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh viết
(-) Học sinh viết chữ theo mẫu vào vở , trong khi học sinh viết, giáo viên
yêu cầu học sinh thường xuyên nhắc lại chữ mình đang viết
Trang 9Kết thúc buổi học, giáo viên nhận xét tuyên dương và nhắc nhở học sinh
cả lớp (với tất cả các nhóm đối tượng) Đặc biệt, như một bí quyết nghề nghiệp, trước khi ra về, tôi sẽ chọn vài chữ cái ghi âm, vần sẽ học vào tiết Tiếng Việt chính khóa hôm sau bỏ vào một túi riêng của học sinh (đối với những em chưa nhớ chữ cái) và yêu cầu:
- Nhắc lại tên ân, vần (Giáo viên trợ giúp nếu học sinh không nhớ)
- Thường xuyên nhẩm để ghi nhớ tên chữ cái cô đã chọn
- Kể cho bố mẹ biết đây là âm cô chọn riêng để con ghi nhớ
Như vậy, giờ học tăng buổi là điều kiện tốt nhất để giáo viên thực hiện dạy học phân hóa đối tượng Giáo viên dễ dàng lựa chọn nội dung và cách tiến hành phân hóa Ngoài ra, khi lớp có nhiều em đầu năm chưa nhận diện vững chữ cái và chữ số tôi thường tổ chức ngay buổi học tăng buổi riêng với đối tượng này để dành nhiều thời gian khắc phục kịp thời lổ hổng này để các em theo kịp các bạn ngay từ đầu năm học
d Tổ chức học tập theo đối tượng trong thời gian nghỉ phòng chống dịch Covid-19
Trong kì nghỉ học kéo dài từ ngày 8 tháng 2 đến ngày 22 tháng 2 năm
2021 để phòng chống dịch Covid-19, đối tượng học sinh chịu ảnh hưởng mạnh nhất là học sinh lớp 1 Nói chịu ảnh hưởng mạnh nhất bởi các em đang trong giai đoạn hình thành dang dở các kĩ năng đọc - viết, khả năng tự học của các em rất ít, sự trợ giúp của bố mẹ trong khoảng thời gian dài rất dễ dẫn đến sai lầm về phương pháp và nội dung học tập Đối với nhóm đối tượng có kĩ năng đọc viết chậm lại càng có nguy cơ tái mù bởi nghỉ học dài khiến các em rất nhanh quên
Với phương châm của ngành là “Tạm dừng đến trường nhưng không ngừng học”, tôi đã giao bài cho học sinh làm và kiểm tra bằng nhiều con đường vừa đảm bảo phòng chống dịch vừa đảm bảo củng cố kiến thức cho các em
Và một lần nữa, việc giao bài theo đối tượng lại phải đặt ra Ba nhóm đối tượng được tôi giao 3 mức độ bài tập khác nhau Nhóm đối tượng có kĩ năng đọc - viết chậm là nhóm có kĩ năng tự học kém nhất nên tôi phải thường xuyên liên lạc học sinh bằng ứng dụng zalo
Mỗi lần hướng dẫn bài tập hoặc kiểm tra kết quả học tập của nhóm học sinh này, tôi thường liên hệ với phụ huynh chuẩn bị các điều kiện học tập của học sinh và thực hiện kết nối video cá nhân hoặc nhóm trên ứng dụng zalo Việc tương tác cô với trò, cô với phụ huynh được diễn ra thuận lợi và hiệu quả
Biên pháp 2 Tạo hứng thú học tập cho học sinh
Nhóm đối tượng thứ ba là nhóm đối tượng cần được quan tâm nhất Đây
là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, nếu giáo viên tác động không đúng dễ dẫn đến những sai lệch nghiêm trọng về hình thành và phát triển nhân cách trẻ Việc chưa nhận diện được chữ cái và chữ số không phải hoàn toàn lỗi do các em Một thái độ không vui, một cử chỉ, điệu bộ tỏ ra không vừa lòng hay mạnh hơn là một lời trách móc của thầy cô ngay những buổi đầu tiên đi học sẽ khiến các em
sợ hãi, mất niềm tin vào chính mình Mà sự sợ hãi và mất niềm tin chính là
Trang 10của học sinh không cao
Vì vậy, khi nắm bắt tình hình và phân loại học sinh, tôi đã luôn tạo ra không khí lớp học vui vẻ Công bằng trong đối sử, không tạo ra sự so sách giữa nhóm đối tượng này với nhóm đối tượng khác Tất cả đang ở phía trước, chưa thể đánh giá cao những học sinh nhận biết tốt âm vần, thậm chí đã biết đọc, và cũng không được phép chê bai hoặc đánh giá thấp những học sinh chưa nhận biết được chữ cái và chữ số
Tôi thường tạo tinh thần thoải mái thông qua những cử chỉ hành động nhẹ nhàng khi tiếp xúc, trò chuyện Thể hiện sự quan tâm, gần gũi, thân thiện với các em ngay trong khi triển khai các hoạt động học tập
Ví dụ: Khi đến lớp cô giáo có một cử chỉ nhỏ như cười hay xoa đầu vuốt
tóc, hỏi chuyện thì trẻ cảm nhận được sự quan tâm, gần gũi, yên tâm vào giờ học
Với tinh thần như vậy, công việc của tôi lúc này là ổn định tổ chức lớp, gây hứng thú, tuyên dương tạo ấn tượng tốt đẹp trong những ngày đầu đến trường cho các em
Ví dụ: Khi các em học xong âm d các em nhớ đọc được, cô giáo cho các
bạn khen, tuyên dương từ đó tạo cho các em sự tự tin trong quá trình học tập
Biện pháp 3 Kết nối các nhóm đối tượng học sinh
Có “Khắc xuất” thì phải có “khắc nhập” Nếu chỉ tổ chức dạy học phân hóa đối tượng theo hình thức cứng nhắc, đơn lẻ thì hoạt động học tập trong một lớp trở nên rời rạc, tập thể lớp thiếu liên kết Tách đối tượng ra để tổ chức, thực hiện nhiệm vụ học tập phù hợp với khả năng nhưng đồng thời cũng phải gộp các nhóm đối tượng lại để tạo ra sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau cùng tiến bộ
- Tạo tương tác trong hoạt động nhóm: Để tạo tương tác, tôi thường áp dụng cách chia nhóm ngẫu nhiên (mỗi nhóm đều có các đối tượng học sinh) Sau khi giao nhiệm vụ cho các nhóm, tôi đặc biệt quan tâm đến hoạt động của cá nhân trong mỗi nhóm và sự hỗ trợ lẫn nhau ra sao
Ví dụ: Khi cho các nhóm đọc bài, tôi cho học sinh đọc tốt hơn ngồi cùng
bạn đọc chậm, theo dõi bạn đọc và nhắc cho bạn nếu bạn đọc sai, chưa nhớ âm, vần thì bạn ngồi bên nhắc, hoặc tôi in ra giấy chữ ghi âm, vần học sinh chưa thuộc đưa cho các em, khi có thời gian rảnh rỗi cho bạn bên cạnh hỗ trợ để học sinh nhớ lại được âm, vần đó