Vì vậy để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển đi lêncủa xã hội thì việc cải tiến phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, khảnăng nhận biết cho trẻ là một vấn đề hết sức cần thiết
Trang 21 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài.
Bác Hồ của chúng ta đã dạy “ Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và
vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn và bảo vệ nó”"[1]
Trong công tác giáo dục trẻ mầm non, chúng ta thấy rõ vai trò của ngôn ngữđối với việc giáo dục trẻ thơ Ngôn ngữ góp phần đào tạo các cháu trở thành nhữngcon người phát triển toàn diện Hiện nay việc thực hiện đổi mới trong giáo dụcmầm non đã và đang thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu nói chung, các cán bộ quản
lý cũng như hầu hết giáo viên trong nghành học mầm non nói riêng Chương trìnhgiáo dục Mầm non đã triển khai thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương phápdạy học và đổi mới hình thức tổ chức nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ Mầmnon Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc đổi mới phương phápgiảng dạy chưa hiệu qủa, sự lồng ghép tích hợp các hoạt động và các chuyên đềgiáo dục cho trẻ còn nhiều hạn chế, nội dung còn đơn điệu, rườm rà, lúng túngchưa phù hợp với nội dung yêu cầu của chương trình
Giáo dục Mầm non có tác dụng cực kì quan trọng trong việc hình thành vàphát triển nhân cách con người Việt Nam hiện đại Nhất là trong giai đoạn hiệnnay, đất nước ta đang chuyển mình vươn lên đỉnh cao của thời đại Công nghiệphóa - Hiện đại hóa đất nước Vì vậy để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển đi lêncủa xã hội thì việc cải tiến phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, khảnăng nhận biết cho trẻ là một vấn đề hết sức cần thiết đối với mỗi giáo viên, mỗiđơn vị trường Mầm non Để đảm bảo mục tiêu giáo dục thì trong trường Mầm nonphải kết hợp song song việc chăm sóc thể lực và giáo dục trí tuệ cho trẻ Để làm tốtđược điều đó thì các hoạt động trong trường Mầm non cũng đóng một vai trò thenchốt, trong đó không thể thiếu được hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ Nó làmột trong những hoạt động chính, giữ vị trí quan trọng trong giáo dục phát triển
toàn diện nhân cách trẻ [2]
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành mộtthành viên của xã hội Ở trẻ nhỏ nhu cầu giao tiếp của trẻ là rất lớn Ngôn ngữ làcông cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ nguyện vọng của mình để người lớn có thểchăm sóc, điều khiển và giáo dục trẻ Ngôn ngữ là một điều kiện rất quan trọng đểtrẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách Sự pháttriển chậm về mặt ngôn ngữ có ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ Chonên các nhà giáo dục cần phải đề ra nhiệm vụ, nội dung, phương pháp phát triểnngôn ngữ trẻ đúng lúc và phù hợp với lứa tuổi Đối với trẻ 24-36 tháng tuổi vốn từcòn ít, mức độ hiểu nghĩa còn hạn chế, cách sử dụng từ chưa chính xác, trẻ còn nóingọng, phát âm chưa chuẩn Do đó việc phát triển làm giàu vốn từ cho trẻ, dạy trẻnói năng lưu loát, phát âm đúng có kĩ năng trả lời một số câu hỏi, hiểu được yêucầu đơn giản bằng lời nói là một điều rất quan trọng Chính vì vậy người lớn cần
Trang 3phải chỉnh sửa uốn nắn kịp thời nhất là cô giáo Ngày xưa ông cha ta có câu: “Trẻlên ba cả nhà tập nói” Là giáo viên mầm non, bản thân tôi nhận thức được tầmquan trọng của việc phát triển ngôn ngữ, qua quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ tôi
có những suy nghĩ, trăn trở làm sao để phục vụ vào công tác giảng dạy các cháuphát âm chuẩn, chính xác tiếng việt Xuất phát từ những yêu cầu trên tôi mạnh dạn
chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói ở trường Mầm non Xuân Phúc ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm ra một số giải pháp hay, hiệu quả để áp dụng vào thực tế khi giúp trẻ
34 - 36 tháng tuổi phát triển ngôn ngữ một cách nhanh nhất Thông qua “Lĩnh vựcphát trển ngôn ngữ ” giúp trẻ:
+ Tăng thêm vốn từ cho trẻ
+ Giúp trẻ mở rộng tầm hiểu biết về thế giới xung quanh
+ Luyện cho trẻ phát âm chuẩn, chính xác tiếng việt, nói được câu trọn vẹnđúng nghĩa
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng cho trẻ nhà trẻ 24-36 tháng tuổi
phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói ở trường Mầm nonXuân Phúc
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế: Nhằm giúp có kiến thức một cách
hệ thống về qui trình điều tra khảo sát trong thực tế
- Phương pháp thực nghiệm: Đưa ra một số yêu cầu khảo sát trên trẻ
- Nhóm phương pháp trực quan (Xem vật thật, quan sát tranh ảnh, thamquan, xem phim)
- Nhóm phương pháp dùng lời (Trò chuyện, đàm thoại, giảng giải, đọc thơ,
kể chuyện)
- Nhóm phương pháp thực hành (Trò chơi học tập, lao động)
- Phương pháp thống kê tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệmgiáo dục là quá trình mô tả, phân tích so sánh, phân loại tổng hợp những kinhnghiệm giáo dục
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 1
Có thể nói nhân cách con người phải được đặt nền móng ngay từ buổi đầutiên, chập chững bước vào đời Ngày nay, chúng ta coi trọng Giáo dục mầm non, vìgiáo dục mầm non là nền tảng của giáo dục, đó là những năm đầu cuộc đời của trẻ,
nó có tầm quan trọng đặc biệt, vì thời kỳ này sự tăng trưởng và phát triển nhanhcủa cơ thể trẻ cũng như về trí tuệ, tình cảm, nhân cách được bắt đầu hình thành
1 Trình bày căn cứ lý thuyết mà tác giả đưa ra SKKN, có lập luận chắc chắn và có trích dẫn nguồn tài liệu.
Trang 4Trẻ có phát triển tốt hay không là phụ thuộc vào người lớn xung quanh trẻ, đặc biệt
là giáo viên mầm non, là người mẹ hiền thứ hai của trẻ Giáo dục trẻ một cách toàndiện là một công việc vô cùng khó khăn, nó phải là cả một quá trình, đây là viêngạch đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng một tòa lâu đài trí tuệ Chính vì vậy
mà BGD&ĐT đã đề ra mục tiêu của giáo dục Mầm non là phải trang bị chotrẻnhững gì tốt nhất kể cả về vật chất và tinh thần nhằm phát triển toàn diện về nhân
hiệu quả chúng ta phải dựa vào đặc điểm phát triển tâm sinh lí trẻ: [5]
+ Đặc điểm phát triển sinh lí:
Như chúng ta đã biết, quá trình phát triển về ngôn ngữ của trẻ thì đây là giaiđoạn ngôn ngữ chủ động của trẻ bắt đầu xuất hiện Chính vì thế trong quá trìnhphát triển ngôn ngữ trẻ còn mắc một số hạn chế sau:
Giai đoạn này tư duy trực quan là chủ yếu, lời nói luôn luôn gắn liền với mọihành động, đồ vật cụ thể thì trẻ mới hiểu được Khi trẻ nói chủ yếu trẻ dựa vàonhững đặc điểm bên ngoài để nói
Trẻ phát âm chưa chính xác, trẻ còn hay nói ngọng, nói lắp
+ Đặc điểm phát triển tâm lý
Ở giai đoạn này trẻ rất thích bắt chước người lớn
VD: Mẹ đang nhặt rau trẻ sẽ ngồi xuống xin nhặt rau cùng mẹ
Trẻ thích được người lớn khen, động viên kịp thời và thích những màu sắcsặc sỡ.Trẻ thường hay đặt ra những câu hỏi để người lớn trả lời như: Vì sao ? Tạisao ? Làm thế nào ?
Trên đây là những cơ sở lý luận của đề tài và đã giúp tôi căn cứ vào đó đểtìm ra những biện pháp dạy trẻ sao cho thật phù hợp đối với hoạt động này
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2.1 Thực trạng chung.
Trong năm học 2019-220 quá trình chăm sóc trẻ 24-36 tháng tuổi, tôi nhậnthấy cơ thể của trẻ còn yếu, trẻ chưa nói rõ, vốn từ của trẻ còn ít, khả năng nhậnthức còn hạn chế Phần nhiều các cháu đang sống trong môi trường chăm sóc, âuyếm, chiều chuộng trong vòng tay của bà, của mẹ và của những người thân yêu2Trình bày kết quả khảo sát thực trạng, phân tích các tài liệu, số liệu, những mâu thuẫn, khó khăn mà tác giả gặp phải cần tìm cách giải quyết, khắc phục.
Trang 5trong gia đình Trẻ chưa thể hoà nhập với bạn, chưa quen với cô, chưa quen với nềnếp sinh hoạt tập thể, chưa có thói quen vệ sinh tự phục vụ Muốn làm được điều
đó người giáo viên phải có ý thức trau dồi ngôn ngữ, tự học, tự rèn luyện cho mìnhcách nói rõ ràng, ngắn gọn, chính xác, nói chuyện với trẻ đúng đắn, thân ái, lịch sự
Vì vậy trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ tôi gặp những thuận lợi và khó khănnhư sau:
2.2.2.Thuận lợi.
Nhà trường trong năm học qua được các cấp lãnh đạo quan tâm chỉ đạo sâusát, được các bậc phụ huynh quan tâm và tin tưởng Ban giám hiệu Nhà trườngluôn sát sao quản lý và điều hành phân công nhiệm vụ cũng như phân công giáoviên phụ trách các lớp phù hợp, khoa học
Trường được xây dựng tập trung tại một khu nên rất thuận tiện cho việcquản lý và chăm sóc, giáo dục trẻ
Trường mầm non Xuân phúc ngày nay được xác nhập từ trường mầm nonphúc đường củ nay thành trường mầm non Xuân Phúc, hiện nay gồm có 4 điểmtrường, 3 điểm lẻ và 1 điểm chính Nhà trường có 18 nhóm lớp, hiện nay nhàtrường có 4bếp ăn, sạch sẽ, thoáng mát Trường vừa được công nhận trường Mầmnon đạt Chuẩn Quốc gia mức độ I năm 2020 Trường có diện tích rộng, bằngphẳng, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, có nhiều cây xanh bóng mát
Bản thân là một giáo viên có tuổi nghề lâu năm, có tinh thần trách nhiệm caotrong công tác giảng dạy, không ngừng học hỏi, tham khảo tài liệu, dự giờ đồngnghiệp để rút ra kinh nghiệm cho bản thân,
- Bản thân là người kinh nói đúng chuẩn tiếng phổ thông, phát âm chuẩn.Nhưng trong lớp học lại có một số trẻ là người dân tộc nên bản thân đã luôn uốnnắn kịp thời
Trẻ khỏe mạnh, tích cực học tập và hứng thú hoạt động Một lớp có chungmột độ tuổi nên nhận thức của trẻ tương đối đồng đều,
2.2.3.Khó khăn.
Là xã có địa bàn rộng, nhiều thôn cách xa trường nên vào những ngày mưa,giá rét số trẻ đến trường còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạyhọc của cô và trẻ
Trẻ đến lớp học còn nói tiếng địa phương, phát âm sai lệch ảnh hưởng đếnkhả năng tiếp thu bài, ngôn ngữ mạnh lạc của trẻ còn hạn chế (nói chưa đủ câu, nóitrống không, nói lắp, nói ngọng, nói tiếng địa phương) nên ảnh hưởng rất lớn đếnviệc giao tiếp và dạy trẻ trên lớp
Cơ sở vật chất phòng học sử dụng lại của bậc học tiểu học củ, cho nênkhông gian phòng học chật hẹp chưa đủ diện tích, đồ dùng đồ chơi chưa đượcphong phú, đa dạng để đáp ứng được nhu cầu giáo dục hiện nay
Phụ huynh chưa quan tâm đến con em mình, chưa nhiệt tình ủng hộ trongviệc gom các nguyên vật liệu để làm đồ dùng dạy học và hoạt động vui chơi cho
Trang 6trẻ Chưa coi trọng việc học của trẻ, cho là trẻ đến trường để giữ cho trẻ khỏi khócchứ không cần học.
Trí nhớ của trẻ còn hạn chế, trẻ dễ nhớ nhưng lại rất chóng quên
Do điều kiện đặc thù của địa phương dân cư phân bố không đồng đều ở rãirác khắp xã nên những ngày mưa gió dẫn đến trẻ đi học không đều ảnh hưởng đếnviệc chăm sóc và giáo dục trẻ
Đa số trẻ chưa qua nhà trẻ 18-24 tháng tuổi nên lần đầu tiên đến trườngquyấy khóc nhiều, nhút nhát, nói nhỏ, phát âm chưa chuẩn nặng tiếng địa phương
Qua khảo sát đầu năm tôi thấy khả năng phát triển ngôn ngữ của các cháutrong lớp tôi như sau:
Khảnăng phát âm
Khả năng diễn đạt
Nhìn vào bảng kết quả khảo sát thực trạng trên cho ta thấy tình hình thực tế
về chất lượng của hoạt động nhận biết tập nói chưa cao, cháu yếu vẫn còn, tỷ lệcháu trung bình rất cao
* Nguyên nhân:
- Các trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho giảng dạy còn hạn chế, đồdùng chưa đẹp, chưa sinh động sáng tạo vì vậy chưa thu hút được trẻ tham giahoạt động
- Việc tạo môi trường (nhất là môi trường mở) cho trẻ hoạt động có nhiềuhạn chế, hình thức chưa thu hút được nhiều trẻ tham gia hoạt động
- Trẻ còn sử dụng tiếng địa phương nhiều, một số trẻ chưa nói rõ từ hoặc đa
số còn nói ngọng, nói chưa rõ lời Do đó việc trẻ nói đủ câu, từ rõ ràng mạch lạccòn gặp nhiều khó khăn là do cô chưa phối kết hợp tốt giữa gia đình và nhà trường
- Còn hạn chế trong việc phát triển vốn từ cho trẻ, chưa phát huy được tínhtích cực của trẻ trong các hoạt động
- Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn đơn điệu, chưa có một hệ thống
lô ghíc nhất định
Trang 72.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3
2.3.1 Biện pháp 1: Rèn luyện nề nếp thói quen sử dụng ngôn ngữ tích
cực cho trẻ ngay từ đầu năm học.
Nề nếp thói quen là tính tất yếu chi phối đến việc sử dụng ngôn ngữ của trẻ,
xã hội càng văn minh thì vấn đề giáo dục hành vi văn hóa trong giao tiếp càng trởnên quan trọng Nề nếp học tập là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến thànhcông của tiết học, vì vậy ngay từ lứa tuổi Mầm non, người lớn, đặc biệt là giáo viênMầm non, tôi luôn chú trọng rèn luyện các nề nếp thói quen, hành vi lễ giáo chotrẻ, uốn nắn trẻ mạnh dạn, tự nhiên khi giao tiếp với người khác, không rụt rè, e sợ,
âm lượng phát ra đủ nghe, không la hét, nói tục, chửi bậy, biết dùng ngôn ngữ êmdịu, nhẹ nhàng, tình cảm để thể hiện tình cảm yêu thương đối với bạn bè, cô giáo
và người thân Vì vậy trong công tác giáo dục, cô giáo và người lớn phải thực sựgương mẫu về lời ăn tiếng nói, nghiêm khắc và uốn nắn kịp thời khi trẻ nói sai, nóitrống không, nói thiếu chủ ngữ, vị ngữ, nói ngược vị trí câu
Ví dụ: Khi trẻ muốn lấy quả bóng của bạn trẻ sẽ nói: “Đưa đây” tôi sẽ sửacho cháu nói lại “Bạn cho tôi mượn quả bóng”….Giáo dục các cháu biết cảm
ơn, xin lỗi, không nói dối, lễ phép với người lớn khi giao tiếp, biết chào hỏi cô khiđến lớp, chào hỏi ông bà, bố mẹ và người lớn
Trong sinh hoạt hằng ngày tôi chú ý rèn luyện cho các cháu có thói quen vệsinh cá nhân, vệ sinh công cộng, tập cho trẻ có thói quen tự phục vụ như : Tự đidép, đội mũ
+ Giờ đón trẻ, khi trẻ đến lớp tôi dạy trẻ chào cô, chào bố, mẹ rồi vào lớp
+ Dạy trẻ cất đồ dùng cá nhân đúng nơi qui định
+ Giờ học, vào bài cô kể cho trẻ nghe một đoạn truyện, đọc cho trẻ nghe mộtbài thơ, câu đố hay là tổ chức tiết học dưới hình thức trò chơi, chương trình của bé( tùy vào nội dung) để gây sự hứng thú khi vào bài
+ Giờ chơi, giáo dục trẻ khi chơi xong cất đồ chơi ngăn nắp gọn gàng, vừacất đồ chơi vừa đọc đoạn thơ: “ Giờ chơi hết giờ rồi, nhanh tay cất đồ chơi, nhẹ tay thôi bạn ơi ”
+ Giờ ăn, tôi giáo dục trẻ trước khi ăn phải rửa tay, cho trẻ đọc bài thơ “giờăn” sau đó mời cô giáo, mời các bạn rồi mới ăn Khi ăn không nói chuyện, khônglàm cơm rơi, cơm vãi Ăn xong lau miệng, uống nước, rửa tay
+ Giờ ngủ trưa cô cho trẻ đọc bài thơ: “ Giờ đi ngủ ” trẻ lên giường nằmngủ không nói chuyện
Trong tiết học tôi chú ý rèn cho các cháu ngồi học ngay ngắn, không nằm rachiếu, không được chạy lung tung trong khi học, biết lắng nghe và trả lời các câuhỏi của cô
3Trình bày những biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề, có phân tích, nhận xét về vai trò, tác dụng, hiệu quả của từng biện pháp đó; trình bày các sáng kiến kinh nghiệm cụ thể đã được rút ra.
Trang 8Qua quá trình thực hiện các biện pháp trên, tôi đã đưa trẻ vào nề nếp và thóiquen hằng ngày của trẻ, sau một thời gian trẻ thực hiện rất tốt Từ đó
tôi nhận thấy trẻ tự tin, thoải mái và thích đến trường được học, được chơi, đượcgiao lưu với bạn
Sau một thời gian áp dụng biện pháp, tôi thấy hiệu quả của giờ học đượcnâng lên rõ rệt Nề nếp các cháu đã đi vào ổn định và được BGH Nhà trường đánhgiá cao Trẻ rất hứng thú trong mọi hoạt động
2.3.2 Biện pháp2 Xây dựng nội dung hoạt động phù hợp với chủ đề để phát triển ngôn ngữ
- Giáo viên cần xác định chủ đề và nội dung của chủ đề được thực hiện trongthời gian đó
- Trang trí nhóm lớp phù hợp với chủ đề
- Lựa chọn nội dung cho các hoạt động ngôn ngữ phù hợp với chủ đề đó
- Xây dựng môi trường phù hợp với chủ đề
- Chuẩn bị các phương tiện học liệu theo chủ đề
- Lên lịch hoạt động theo tuần, ngày và tích hợp nội dung PTNN với cáchoạt động của các lĩnh vực khác
- Đọc thơ, ca dao, đồng dao, tục ngữ
Đi bộ trên vỉa hè
Đường rất nhiều loại xe
Nếu sang ngang phải đợi
Đèn xanh mới được đi
Trang 9Dung dăng dung dẻ
Vui vẻ đi chơi
Đèn đỏ báo rồi
Bạn chờ tí nhé!
Dung dăng dung dẻ
Vui vẻ đi chơi
Đèn xanh báo rồi
Bạn ơi ! Đi nhé
( Định Hải )
+ Các bài ca dao - Đồng dao:
“Bà còng đi chợ trời mưa”
Bà còng đi chợ trời mưa
Cái tôm cái tếp đi đưa bà còng
Đưa bà đến quãng đường cong
Đưa bà vào tận ngõ trong nhà bà
Tiền bà trong túi rơi ra
Tép tôm nhặt được trả bà mua rau
“ Đi cầu đi quán”
“ Đi cầu đi quán Mua một đàn gà
Đi bán lợn con Về cho ăn thóc
Đi mua cái xoong Mua lược chải tóc
Đem về đun nấu Mua cặp gài đầu
Mua quả dưa hấu Đi mau về mau
Về biếu ông bà Kẻo trời sắp tối ” [4]
+ Kể chuyện “Ô tô con học bài”
+Trò chơi phát triển ngôn ngữ: Chơi “Ô tô chim sẻ, Chơi đèn tín hiệu…”+ Làm sách tranh truyện về các phương tiện giao thông đường bộ
- Tôi xây dựng môi trường phù hợp với chủ đề nhánh “Phương tiện giaothông đường bộ”:
Ví dụ:
+ Ở góc hoạt động với đồ vật tôi cho trẻ xếp “Ga ra ô tô”
Ở góc phân vai: Cho trẻ chơi bán hàng, nấu cho em ăn
Trang 10+ Ở góc nghệ thuật : Hát các bài hát về phương tiện giao thông, Tô màu xemáy, ô tô…
+ Ở góc đóng vai tôi cho trẻ chơi trò chơi đóng vai chú cảnh sát
- Với chủ đề này,tôi chuẩn bị đồ dùng trực quan phục vụ cho các tiết học làcác phương tiện do nhà trường mua sắm, các đồ chơi do chính tay các cô tự taọbằng các phế liệu dễ sử dụng và an toàn cho trẻ Sử dụng máy tính, băng đĩa cóhình ảnh các phương tiện giao thông,cho trẻ quan sát và đàm thoại
- Tôi trang trí nhóm lớp phù hợp với chủ đề: Trang trí nhóm lớp bằng
tranh ảnh các phương tiện có liên quan đến chủ đề “Bé thích đi bằng phươngtiện gì ” ở các góc trong nhóm lớp sao cho trẻ dễ quan sát và đàm thoại
- Lên lịch cho các hoạt động theo tuần: Mỗi tuần tôi lên kế hoạch cung cấpkiến thức cho trẻ về 2-3 phương tiện giao thông
2.3.3 Biện pháp 3: Lấy trẻ làm trung tâm của các hoạt động dạy và học
Thực tế hiện nay quan điểm “Giáo viên làm trung tâm cho mọi hoạt độnggiáo dục” Đã chuyển sang quan điểm “Lấy trẻ làm trung tâm” Trẻ phải được coi làtrung tâm của mọi hoạt động giáo dục Giáo viên cần phải dựa vào đặc điểm tâmsinh lý và đặc điểm nhận thức của từng trẻ, từ đó lập kế hoạch giáo dục phù hợp
Bên cạnh đó giáo viên Mầm non cần hiểu rằng việc đặt câu hỏi “Trẻ họcgì?” chỉ là hình thức bề ngoài của một vấn đề Mà cần phải đặt câu hỏi “Trẻ họcnhư thế nào?” đó mới là điều cốt lõi của quá trình giáo dục trẻ
Như chúng ta đã biết, phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm là phươngpháp phát huy được tối đa tính tích cực, khả năng tiếp thu và trí tưởng tượng củatrẻ Vì vậy khi sử dụng phương pháp này trong quá trình dạy trẻ cô chỉ nên gợi mở,kích thích sự sáng tạo của trẻ, hướng dẫn trẻ để trẻ được chủ động tư duy từng chitiết các nhân vật qua các câu truyện, không sử dụng câu hỏi đóng mà sử dụng câuhỏi mở
Ví dụ: Thơ “Yêu mẹ” Tôi đưa ra câu hỏi
+ Bài thơ nói về ai?
+ Trong bài thơ mẹ của bé đã vất vả như thế nào ?
+ Mẹ dậy sớm để làm gì?
+ Ai đã kề vào má của mẹ?
+ Em bé có yêu mẹ không?
+ Còn các con thì sao? Yêu mẹ thì các con phải ntn?
Hay: Truyện “ Thỏ con không vâng lời”
+ Mẹ dặn Thỏ con như thế nào?
+ Thỏ con có nghe lời mẹ không?
+ Vì sao Thỏ con lại bị lạc đường?
Trang 11+ Ai đã đưa Thỏ về nhà?
Từ những câu hỏi cô đưa ra kích thích được sự tư duy của trẻ giúp trẻ nhớlại, khắc sâu hơn nội dung truyện một cách chính xác và sâu sắc
2.3.4.Biện pháp 4: Luyện phát âm cho trẻ.
*Rèn luyện thính giác ngôn ngữ cho trẻ
Trẻ học nói được là nhờ vào sự vận động của thính giác( Trẻ bị điếc sẽkhông thể học nói được) Vì vậy việc rèn luyện thính giác ngôn ngữ cho trẻ là nộidung hàng đầu trong quá trình dạy trẻ nói
Rèn luyện thính giác ngôn ngữ là rèn luyện khả năng tri giác âm thanh ngônngữ, giúp trẻ phân biệt được âm thanh nói chung
Ví dụ: Âm thanh của từ “Hoa” khác âm thanh của từ “Lá”
Muốn trẻ rèn luyện khả năng tri giác âm thanh ngôn ngữ được tốt cần đặttrẻ vào trong môi trường âm thanh( Bao gồm âm thanh nói chung và âmthanh ngôn ngữ nói riêng) Trẻ càng thu nhận được tín hiệu ngôn ngữ bao nhiêu thì
sự phát triển lời nói càng nhanh chóng bấy nhiêu vì vậy chúng ta cần phải lặp đilặp lại nhiều lần giúp trẻ phát âm đúng
Ví dụ: Khi dạy bài thơ “ Hoa nở ” khi trẻ đọc đến từ “xinh xinh” một số trẻ sẽ phát âm sai, vì vậy cô giáo cần chú ý kiên trì sửa sai cho trẻ bằng cách(không lặp lại lỗi mắc sai của trẻ), không cáu gắt làm trẻ mất hứng thú mà cô sẽphát âm lại chậm, rõ và cho trẻ phát âm theo cô nhiều lần
* Luyện cơ quan phát âm cho trẻ.
- Cơ quan phát âm đóng vai trò quan trọng trong quá trình trẻ nói, nó điềukhiển bộ máy phát âm của trẻ Quá trình giáo dục sẽ tác động đến bộ máy phát âmcủa trẻ Vì vậy chúng ta cần luyện cơ quan phát âm cho trẻ theo 2 nội dung sau:
Luyện vận động tự do nhằm giúp các bộ phận môi, răng, lưỡi chuyển độngnhịp nhàng, linh hoạt Đối với trẻ Mầm non “ Trẻ học mà chơi, chơi mà học” vìvậy giáo viên cần vận dụng khéo léo và kinh hoạt các phương pháp, biện pháp phùhợp để lôi cuốn trẻ Tôi đã suy nghĩ và lựa chon phương pháp sử dụng trò chơi đểluyện bộ máy phát âm cho trẻ
Ví dụ: Cô nói: Trời sắp tối rồi các con hãy “Gọi gà” để cho gà ăn nào! côhướng dẫn cho trẻ bặm 2 môi vào nhau thật chặt và phát âm(Bập Bập Bập) Nhưthế tôi đã luyện tập cho trẻ biết điều khiển hoạt động của môi và hàm Hoặc cho trẻlàm đông tác “ Nhai kẹo cao su”, hay cho trẻ “Chậc lưỡi”…tôi đã luyện tập cho trẻbiết điều khiển hàm theo 2 hướng…
*Luyện thở ngôn ngữ cho trẻ.
- Qua quá trình quan sát và tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy đặc điểm của trẻ làchưa biết điều khiển nhịp thở của mình khi nói cho phù hợp, có nhiều trẻ nói rấtnhanh vừa nói vừa thở Hoặc ngược lại có những trẻ nói rất chậm ê a vừa
Trang 12nói vừa thở Vì vậy điều khiển sự thở là không thể thiếu được trong quá trình rènluyện phát âm cho trẻ Trò chơi được sử dụng rất nhiều, đa dạng phong phú trongquá trình giáo dục ngôn ngữ cho trẻ.
Ví dụ: Để luyện thở ngôn ngữ cho trẻ, trong khi cho trẻ tập thể dục tôi
có thể cho trẻ khởi động bằng các trò chơi như: Thổi nơ bay cao, xa; thổi chongchóng; gà gáy…Thông qua các trò chơi này giúp cho trẻ hít thở được đều đặn dầndần trẻ sẽ biết cách lấy hơi khi nói
*Luyện giọng.
- Giọng nói giúp trẻ thể hiện thái độ, tình cảm của mình trong từng lời nóinhư: âu yếm, thủ thỉ, to, nhỏ…
Ví dụ: Khi cho trẻ đọc bài thơ: “Yêu mẹ”
- Giáo viên cần đọc mẫu bài thơ cho trẻ nghe 2-3 lần, cô đọc chậm và rõ thểhiện sắc thái tình cảm của mình trong bài thơ, sau đó cho trẻ đọc theo cô Trong khitrẻ đọc cô sẽ giúp trẻ điều chỉnh giọng đọc để thể hiện tình cảm của mình đối vớimẹ
2.3.5 Biện pháp 5 Sử dụng hệ thống câu hỏi phù hợp.
- Để phát triển tư duy sáng tạo của trẻ.Trong quá trình trò chuyện, đàm thoại,chúng ta nên sử dụng các loại câu hỏi khác nhau Câu hỏi kích thích trẻ nhận biếtphân biệt sự vật hiện tượng, tình huống mà trẻ đang trực tiếp tri giác, gợi ý trẻ đếnhoạt động:
- Ở mỗi hoạt động học tôi đã bám sát vào mục đích yêu cầu về kiến thức, kĩnăng cần đạt của hoạt động đó để tôi đưa ra một hệ thống câu hỏi phù hợp với nhậnthức của lứa tuổi Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, là những câu hỏi mở để pháttriển tư duy sáng tạo cho trẻ
Ví dụ 1: Với tiết nhận biết phân biệt: “To - nhỏ” tôi đưa ra những câu hỏi khi
cho trẻ phân biệt quả cam to - quả táo nhỏ
- Trong rổ có những quả gì?
- Quả cam có màu gì?
- Quả táo có màu gì?
- Quả nào to - quả nào nhỏ?
Sau đó tôi sẽ gọi nhiều trẻ trả lời để trẻ ôn lại màu sắc cũng như biết cáchphân biệt to - nhỏ, khắc sâu các biểu tượng về độ lớn cho trẻ đồng thời phát triểnngôn ngữ, tăng thêm vốn từ cho trẻ Sau mỗi lần trẻ trả lời tôi thường động viênkhen trẻ kịp thời
Trang 13Ảnh minh họa: Đang cho trẻ phát âm to nhỏ
Ví dụ 2: Với tiết kể chuyện: “Đôi bạn nhỏ”
Tôi đã sử dụng hệ thống câu hỏi để đàm thoại với trẻ hiểu nội dung câuchuyện, nhớ tên chuyện
- Cô kể câu chuyện gì?
- Trong câu chuyện có những ai?
Ví dụ 3: Khi tôi cho trẻ “Xếp đường đi”, tôi đưa ra câu hỏi.
- Con đang xếp gì đấy?
- Con xếp các khối gỗ như thế nào?
Cô hỏi trẻ để trẻ nhớ lại cách xếp các khối gỗ sát cạnh nhau, khít nhau để tạothành đường đi thẳng không vấp ngã => tạo sự khéo léo cho trẻ => làm tăng thêmvốn từ cho trẻ
Ví dụ 4: Với tiết nhận biết tập nói: “Con cá vàng”
Tôi đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp với nhận thức của trẻ, ngắn gọn, rõràng, bám sát vào các đặc điểm của con cá vàng
- Đây là con gì?
Trang 142.3.6 Biện pháp 6: Dạy trẻ nói qua vật thật, đồ chơi, tranh minh họa
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông quađồ chơi, vật thật, tranh minh họa là rấtcần thiết và bổ ích Khi tổ chức cho trẻ hoạt động cô cần phải xác định rõ mục đíchyêu cầu của đề tài, các hoạt động để áp dụng hình thức nào cho phù hợp với trẻ,chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho tốt, đảm bảo an toàn vệ sinh, chính xác linh hoạt Ởlứa tuổi này trẻ thường hay trả lời trống không hoặc nói những câu không có nghĩa,
vì vậy tôi luôn thường xuyên nhắc nhở trẻ và nói mẫu cho trẻ nghe, động viênkhuyến khích trẻ nhắc lại theo cô Tôi tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu của trẻ mộtcách tỉ mỉ, chu đáo, ngắn ngọn dễ hiểu, chính xác để mọi hoạt động của trẻ tronggiờ hoạt động chung đạt hiệu quả nhất
Trong khi dạy cháu, không nhất thiết cứ phải sử dụng tranh, vật thật hoặccho trẻ dạo chơi thăm quan mà tùy vào từng nội dung của đề tài để tôi chọn giáo cụtrực quan cho phù hợp
Ví dụ 1: Khi dạy bài “Quả cam” tôi đã suy nghĩ và nêu câu hỏi: Nên chọn
giáo cụ trực quan nào để cháu học có kết quả tôt hơn?
Nếu tôi sử dụng tranh minh họa thì trẻ sẽ không có cơ hội để sử dụng cácgiác quan của mình, giờ học sẽ không sinh động, trẻ dẽ chán chóng quên Vì vậytôi đã quyết định phải dạy bằng vật thật “ Quả cam thật” sau đó mới cho trẻ quansát tranh Bởi vì khi trẻ được học bằng quả cam thật trẻ sẽ được sử dụng các giácquan của mình như: Xúc giác, vị giác, thính giác…giờ học sinh động gây hứng thúđối với trẻ, trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và vững chắc hơn