MẪU A SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN GIẢI TOÁN DẠNG "TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA HAI SỐ ĐÓ" CHO HỌC SINH[.]
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN GIẢI TOÁN DẠNG "TÌM HAI SỐ KHI BIẾT TỔNG VÀ HIỆU CỦA
HAI SỐ ĐÓ" CHO HỌC SINH LỚP 4B
TRƯỜNG TIỂU HỌC PHÚ NHUẬN
Người thực hiện: Lê Thị Hoa Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Phú Nhuận SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Toán
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Mở đầu……… ……… …1
1.1 Lí do chọn đề tài…… ……… …1
1.2 Mục đích nghiên cứu……… …1
1.3 Đối tượng nghiên cứu ……… … … 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu ……….……….……1
1.4.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận ……… …………1
1.4.2.Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin ……… …1
1.4.3.Phương pháp đàm thoại ……….……… ……2
1.4.4.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm ……….…2
1.4.5.Phương pháp quan sát ……… ……2
1.4.6.Phương pháp thử nghiệm ………… ……… ……2
1.4.7.Phương pháp sửa sai ……… ……2
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm ……… …… 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm ……….…….………… …2
2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…… …2
2.2.1 Thuận lợi ……….…….……… ……2
2.2.2 Khó khăn ……….…….……… … …3
2.2.3 Kết quả của thực trạng ……… …3
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề ……… …4
Biện pháp 1: Hướng dẫn HS chiếm lĩnh kiến thức mới ……… ….4
Biện pháp 2: Luyện tập thực hành ……….………… 6
Biện pháp 3: Dạy bồi dưỡng HS có năng lực ……….9
Biện pháp 4: Sửa sai ……… ….12
Biện pháp 5: Hỗ trợ học tập ……… ….….13
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm ………….……….….…13
3.Kết luận, kiến nghị ……….….….… ….14
3.1 Kết luận ……….… ….14
3.2 Kiến nghị ……… …15
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Toán học có vị trí rất quan trọng, phù hợp với cuộc sống thực tiễn Đó cũng
là công cụ cần thiết cho các môn học khác
Học Toán giúp học sinh có khả năng phát triển tư duy lôgic, sáng tạo, phát triển trí tuệ Môn Toán có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học và có độ chính xác cao Qua đó phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo linh hoạt, Góp phần giáo dục sự nhẫn nại, ý chí vượt khó của học sinh
Từ nhiệm vụ quan trọng đó, đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy -học Toán có kết quả, -học sinh tiếp thu bài tốt, biết làm bài tập và biết cách sửa lỗi sai của mình trong quá trình làm bài tập
Trong hệ thống các môn học ở Tiểu học thì môn Toán là một môn học quan trọng, chiếm thời lượng lớn chỉ sau môn Tiếng Việt Nó có tác dụng giáo dục và hoàn thiện nhân cách cho học sinh Trong đó kiến thức về giải toán có lời văn dạng
“Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” chiếm vị trí quan trọng và chi phối
rất lớn đến các kiến thức toán học của HS
Đặc biệt trong chương trình môn Toán lớp 4, các bài toán về “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” rất đa dạng và phong phú Đồng thời các kiến thức
này chiếm số lượng lớn ở các đề thi và là nền tảng cho các kiến thức ở bậc học cao
hơn.Các bài toán về “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” thu hút sự
quan tâm của nhiều người và góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, linh hoạt
và rèn trí thông minh cho HS thông qua các bài toán
Ngoài ra để góp phần củng cố kiến thức, nâng cao tính sáng tạo, tích cực chủ động cho HS thì việc hệ thống các dạng toán trong dạy học rất quan trọng và có ý nghĩa Đồng thời hướng dẫn các em vận dụng một cách linh hoạt các kiến thức đã được học không máy móc, rập khuôn Vì một số lí do trên nên tôi chọn đề tài:
"Một số biện pháp hướng dẫn giải dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu
của hai số đó cho học sinh lớp 4B trường Tiểu học Phú Nhuận” để nghiên cứu
và áp dụng thực tế giảng dạytrong năm học 2020 - 2021
1.2 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này nhằm mục đích đưa ra một số bài học kinh nghiệm về dạy “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” mà tôi
đã nghiên cứu và thực hiện thành công trong dạy học; góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng môn Toán lớp 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vềMột số biện pháp hướng dẫn học sinhlớp 4 giải dạng toán
“Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” đã được áp dụng giảng dạy cho
HS lớp 4B Trường Tiểu học Phú Nhuận, năm học 2020 - 2021
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Đọc tài liệu thuộc môn toán Tiểu học và toán lớp 4; phân tích, tổng hợp các
vấn đề lí luận về việc giảng dạy dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” cho học sinh lớp 4.
Trang 41.4.2 Phương pháp khảo sát thực tế, thu thập thông tin
Khảo sát về chất lượng môn Toán đặc biệt về nội dung dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
Thu thập thông tin về kết quả thông qua bài khảo sát
1.4.3 Phương pháp đàm thoại
Trao đổi với đồng nghiệp các phương pháp dạy học dạng toán tìm thành phần chưa biết của phép tính
Đàm thoại với học sinh trong quá trình tổ chức cho các em giải quyết vấn
đề học tập
1.4.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về công tác, phương pháp dạy dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó qua đồng nghiệp và tài liệu tham khảo
1.4.5 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động học và kết quả học tập của HS lớp 4B
1.4.6 Phương pháp thử nghiệm
Áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinhlớp 4 giải dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” vào thực tế HS lớp 4B trường TH Phú Nhuận
1.4.7 Phương pháp sửa sai
Quan sát HS làm bài tập và sửa sai kịp thời để HS khắc phục và làm các bài tập tiếp theo tốt hơn
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh
Môn Toán là một bộ môn khoa học nghiên cứu có hệ thống, phù hợp với hoạt động nhận thức của con người Môn Toán là môn học có khả năng giáo dục rất lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận logic, thao tác tư duy cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như: trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng phân tích tổng hợp, khả năng so sánh, dự đoán, chứng minh, … Môn Toán còn góp phần giáo dục lý trí và những phẩm chất đạo đức tốt cho người học như: tính trung thực, cần cù, ý thức vượt khó, tìm tòi sáng tạo, kỹ năng tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện; hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người lao động trong thời đại mới
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
Để tìm hiểu thực trạng dạy học dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu nội dung chương trình sách giáo khoa
toán 4, khảo sát chất lượng học sinh, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, Tôi
nhận thấy chuẩn kiến thức và kĩ năng môn toán lớp 4 về các dạng Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đóthực hiện dạy chỉ trong trong 1 tiết kiến thức mới, 1
tiết luyện tập và lồng ghép bài tập ở một số tiết luyện tập chung xuyên suốt chương trình theo cả năm học Song trên thực tế dạng bài tập này lại chiếm khá nhiều trong
các đề kiểm tra.Do vậy khi giải toán về Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số
đó nếu học sinh không xác định đúng dạng toán thì sẽ lúng túng khi làm bài, thời
gian làm bài nhiều mà hiệu quả lại không cao Đồng thời nếu chỉ dạy các bài tập trong sách giáo khoa thì sẽ không phát huy được tư duy sáng tạo, sự thông minh ở
Trang 5những học sinh có năng lực học môn toán Sau quá trình điều tra thực trạng, tôi thấy những thuận lợi và khó khăn sau:
2.2.1 Thuận lợi
Trường Tiểu học Phú Nhuận có đội ngũ giáo viên đoàn kết, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ Có lòng yêu nghề, nhiệt tình trong công tác.Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và Hội phụ huynh học sinh
Bản thân luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu nhà trường cũng như đồng nghiệp
Được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn chuyên đề do nhà trường và Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Như Thanh tổ chức
Luôn tích cực tự học để nâng cao kiến thức cũng như trình độ chuyên môn nhiệp vụ của bản thân
- Về học sinh: Các em ngoan, chăm chỉ học tập.
2.2.2 Khó khăn
Do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, dễ nhớ nhưng cũng nhanh quên, dễ phân tán chú ý; khả năng suy luận, phân tích, tổng hợp chưa cao.Chưa ghi nhớ và khắc sâu hệ thống kiến thức, vận dụng chưa linh hoạt các kiến thức đã học để làm bài
Cơ sở vật chất, tài liệu để tham khảo và đồ dùng dạy học mới chỉ đáp ứng phần nào quá trình giảng dạy Mặt bằng dân trí không đồng đều, phụ huynh mải lo làm kinh tế nên chưa thực sự quan tâm chu đáo đến việc học tập của con em mình
2.2.3 Kết quả của thực trạng
Năm học 2019 – 2020, tôi được phân công dạy lớp 4A Năm học 2020 – 2021, tôi dạy lớp 4B Cả hai lớp đều có sĩ số bằng nhau, lực học của các em ở hai lớp ngang nhau
Năm học 2019 – 2020, sau khi học sinh học các dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học tập của các
em ở dạng toán này
Thời gian khảo sát: Ngày 31 -01 - 2020
Kết quả như sau:
Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt các
bài tập khảo sát
Số học sinh hoàn thành các bài tập khảo sát
Số học sinh chưa hoàn thành bài tập
4A 35 em 2em(chiếm5,7%) 24 em (chiếm68,6%) 9em (chiếm 25,7%)
Từ kết quả trên, tôi đã tìm ra những nguyên nhân sau:
- Học sinh chưa hứng thú với các dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu
của hai số đó.
- Xác định dạng toán chưa chính xác dẫn đến chưa tìm ra được hướng giải
quyết
- Cách trình bày chưa khoa học.
-Khả năng tư duy logic còn hạn chế nên học sinh chưa được tiếp cận với một
số bài toán nâng cao ngoài chương trình về dạng toán này
Trang 6Từ thực trạng và nguyên nhân trên để công việc đạt kết quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học, cách sử dụng thiết bị dạy học để học sinh lớp tôi giảng dạy (lớp 4B, năm học 2020 – 2021) có hứng thú và làm thành thạo
các bài toándạng Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới về “Tìm hai
số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”
Bởi đây là dạng toán mới được làm quen ở lớp 4 nên các em còn khá lúng túng trong việc tiếp thu kiến thức.Vì vậy GV cần hướng dẫn kỹ, HS được cùng thao tác để các em hiểu tường tận cách làm cũng như tên gọi các dữ kiện trong bài toán
Ví dụ: (Bài toán SGK - trang 47) "Tổng của hai số là 70, hiệu của hai số là
10 Tìm hai số đó?"
- HS nêu bài toán:
- Giáo viên hỏi: Bài toán cho biết điều gì?( Bài toán cho biết tổng của hai số
là 70, hiệu của hai số là 10)
- Bài toán yêu cầugì? (Bài toán yêu cầu tìm hai số đó).
- Giáo viên nêu: Vì bài toán cho biết tổng(nghĩa là số lớn cộng số bé)và cho biết hiệu(nghĩa là số lớn trừ số bé) của hai số, yêu cầu chúng ta tìm hai số đó, nên dạng toán này được gọi làTìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
Hướng dẫn vẽ sơ đồ bài toán:
- Tôi đã hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ như sau:
+ Giáo viên vẽ đoạn thẳng biểu thị số lớn trước
+ Yêu cầu học sinh suy nghĩ xem đoạn thẳng biểuthị số bé sẽ dài hơn
hayngắn hơn so với đoạn thẳng biểu thị số lớn? (Đoạn thẳng biểu thị số bé ngắn hơn so với đoạn thẳng biểu thị số lớn)
Tiếp theo giáo viên vẽ đoạn thẳng biểu thị số bé, sau đó yêu cầu học sinh lênbảng biểu diễn tổng và hiệu của hai số trên sơ đồ
Thống nhất hoàn thành sơ đồ
Hướng dẫn giải bài toán (cách 1):
Giáo viên gọi học sinh lên chỉ vào sơ đồ 2 lần số bé (khi GV đã che phần đi phần hiệu của hai số)
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát kĩ sơ đồ bài toán và suy nghĩ cách tìm hailần của số bé
Giáo viên yêu cầu học sinh phát biểu ý kiến
Giáo viên khẳng định lại cách tìm hai lần số bé:
+ Giáo viên dùng bìa để che phần hơn của số lớn so với số bé và nêu vấn đề: Nếu bớt đi phần hơn của số lớn so với số bé thì số lớn như thế nào so với số bé?( Nếu bớt đi phần hơn của số lớn so với số bé thì số lớn khi đó sẽ bằng số bé)
Trang 7Giáo viên chỉ vào sơ đồ và nói : Lúc này trên sơ đồ ta còn lại hai đoạn thẳng biểu thị hai số bằng nhau và mỗi đoạn thẳng là một lần của số bé, vậy ta còn lại hai lần của số bé
Phầnhơn của số lớn so với số bé được gọi là gì? (Hiệu của hai số)
Khi bớt đi phầnhiệucủa hai số thì tổng của chúng thay đổi như thế nào ? (Tổng của chúng giảm đi đúng bằng phần hiệu của hai sốđó)
Tổng mới là bao nhiêu? (70 - 10 = 60)
Tống mới là hai lần của số bé, vậy ta có hai lần của số bé là bao nhiêu? (70 –
10 = 60): (chính là tổng - hiệu)
Hãy tìm số bé (Số bé là: 60 : 2 = 30)
Hãy tìm số lớn (Số lớn là: 30 + 10 = 40 hoặc 70 – 30 = 40)
-Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày bài giải của bài toán vào vở
Hai lần số bé là:
70 - 10 = 60
Số bé là:
60 : 2 = 30
Số lớn là:
30 + 10 = 40 Đáp số: Số lớn: 40
Số bé : 30 Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại lời giải đúng, sau đó nêu cách tìm số bé:
“Muốn tìm số bé trước em tính như thế nào ?”
Giáo viên kết luận cách tìm số bé và yêu cầu học sinh đọc, ghi nhớ
Số bé = (Tổng - Hiệu) : 2
Giáo viên mời 3 - 4học sinh đọc lạicách tìm số bé, cả lớp đọc nhẩmđể ghi nhớ, và 2họcsinh đọc thuộc lòng
Hướng dẫn giải bài toán (cách 2) :
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát kĩ sơ đồ bài toán và suy nghĩ cách tìm hai lần của số lớn
Giáo viên yêu cầu học sinh phát biểu ý kiến
Giáo viên khẳng định lại cách tìm hai lần số lớn :
Giáo viên vẽ thêm vào đoạn thẳng biểu thị số bé để số bé “bằng” số lớn và nêu vấn đề : “Nếu thêm vào số bé một phần đúng bằng hiệu của hai sốthì số bé như thế nào so với số lớn ?”(Nếu thêm cho số bé một phần đúng bằng hiệu của hai số thì số bé sẽ bằng số lớn)
Giáo viên nói : Lúc này trên sơ đồ ta có hai đoạn thẳng biểu thị hai số bằng nhau và mỗi đoạn thẳng là một lần của số lớn, vậy ta có hai lần của số lớn
Khi thêm vào số bé một phần bằng hiệu hơn của hai số thì tổng của chúng thay đổi như thế nào? (Tổng của chúng tăng thêm một phần đúng bằng hiệu của hai số)
Trang 8Tổng mới là bao nhiêu?(Tổng mới là: 70 + 10 = 80).
Tổng mới lại chính là hai lần của số lớn, vậy ta có hai lần số lớn là bao nhiêu?
(Hai lần số lớn là: 70 + 10 = 80): (chính là tổng + hiệu)
Hãy tìm số lớn.(Số lớn là 80 : 2 = 40)
Hãy tìm số bé.(Số bé là 40 -10 = 30 hoặc 70 – 40 = 30)
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại lời giải đúng, sau đó nêu cách tìm số lớn:
“Muốn tìm số lớn thì ta làm như thế nào ?”
Giáo viên kết luận về cách tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2
Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại và đọc thuộc lòng
(Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2).
Để giúp HS nhanh nhớ và nhớ lâu, tôi đã yêu cầu học sinh ghi hai cách tìm vào vở
Hai lần số lớn là:
70 + 10 = 80
Số lớn là:
80 : 2 = 40
Số lớn là:
40 - 10 = 30 Đáp số: Số lớn: 40
Số bé : 30 Giáo viên hướng dẫn HS hệ thống lại các bước cơ bản khi giải dạng toán này Và trong quá trình HS thực hành làm bài tập tôi luôn gợi ý, khuyến khích để
HS vận dụng linh hoạt các cách giải
Biện pháp 2: Luyện tập thực hành
Sau khi giúp HS tiếp thu, nắm vững kiến thức mới, để HS khắc sâu kiến thức thì việc thực hành, luyện tập là không thể thiếu Khi giảng dạy, tôi đã hướng dẫn các em kỹ các bước để thực hiện bài toán như sau:
Bước 1: Đọc kỹ đề bài, phân tích đề, nhận dạng toán.
Có đọc kỹ đề bài HS mới tập trung suy nghĩ về ý nghĩa nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến yêu cầu của bài toán Bản thân tôi đã chú ý rèn cho HS thói quen đọc kĩ đề để tìm hiểu những dữ kiện mà bài toán cho và yêu cầu mà các
em cần thực hiện, tìm cách giải
Bước 2: Trình bày những dữ kiện bằng cách tóm tắt đề toán (Bằng sơ đồ
hoặc bằng chữ) Để biết bài toán cho biết gì? Hỏi gì? (tức là yêu cầu gì?)
Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn, cô đọng phần đã cho và phần phải tìm của bài toán để làm rõ nổi bật trọng tâm, thể hiện bản chất toán học của bài toán, được thể hiện dưới dạng câu văn ngắn gọn hoặc dưới dạng các sơ đồ đoạn thẳng
Bước 3: Tìm cách giải bài toán
Thiết lập trình tự giải, lựa chọn phép tính thích hợp (Khuyến khích các em tìm ra những cách giải khác nhau)
Bước 4: Trình bày bài giải và kiểm tra kết quả.
Trang 9Trình bày lời giải (nói - viết) phép tính tương ứng, đáp số, kiểm tra lời giải (Giải xong bài toán cần thử xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không? Trong một số trường hợp nên thử xem có cách giải khác gọn hơn, hay hơn không)
Các bước trên có mối liên hệ mật thiết với nhau Bước trước là tiền đề cho bước sau, mỗi bước là một mắt xích quan trọng và kết nối cùng nhau
Ví dụ 1:(BT1 SGK - Trang 47).
Tuổi bố và tuổi con cộng lại được 58 tuổi Bố hơn con 38 tuổi Hỏi bố bao nhiêu tuổi, con bao nhiêu tuổi?
Với bài toán này tôi đã hướng dẫn HS giải qua các bước như sau:
Bước 1: 2 HS đọc to đề toán phân tích tìm dữ kiện đã cho (cả lớp đọc thầm
theo bạn và gạch chân bằng bút chì dưới những dữ kiện)
Bước 2: Phân tích - tóm tắt bài toán Cho HS phân tích bài toán:
- Bài toán cho biết gì? (Ví dụ: Tổng số tuổi của bố và con là 58 tuổi Bố hơn con 38 tuổi) - Tổng và hiệu số HS chính là điều kiện của bài toán
- Bài toán hỏi gì? (bố bao nhiêu tuổi,con bao nhiêu tuổi) - Tức là tìm số lớn
và số bé
- Bài toán thuộc dạng toán gì? (Bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó)
Bước 3: Tìm cách giải:
Tìm số lớn chính là số tuổi của bố
Tìm số bé chính là số tuổi của con
Bước 4: Trình bày bài giải và kiểm tra kết quả.
Từ cách trả lời trên HS sẽ biết cách vẽ sơ đồ tóm tắt bài toán và giải như sau: Tóm tắt:
? tuổi
Tuổi bố:
38tuổi58tuổi
Tuổi con:
? tuổi
Giải:
Bố có số tuổi là:
(58 + 38) : 2 = 48 (tuổi) Con có số tuổi là:
58 - 48= 10 (Tuổi) Đáp số: Bố: 48 tuổi; Con: 10 tuổi
Sau khi HS hoàn thành bài tập, tôi luôn hướng dẫn HS nhận xét bài làm của bạn trên bảng, trong vở bạn bên cạnh và sau đó chốt cách làm và kết quả đúng
Ngoài ra trong khi HS làm bài, tôi luôn khuyến khích HS giải bằng nhiều cách khác nhau, như:
Bố có số tuổi là:
(58 + 38) : 2 = 48 (tuổi) Con có số tuổi là:
(58 - 38) : 2 = 10 (tuổi) Đáp số: Bố: 48 tuổi; Con: 10 tuổi
Trang 10Hay cách khác nữa là tính tuổi con trước
Con có số tuổi là:
(58 - 38) : 2 = 10 (tuổi)
Bố có số tuổi là:
58 - 10 = 48 (tuổi) Đáp số: Con: 10 tuổi; Bố: 48 tuổi
Ví dụ 2:(BT 2 SGK - trang 47).
Một lớp học có 28 HS Số HS trai nhiều hơn số HS gái là 4 em Hỏi lớp học
có bao nhiêu HS trai, bao nhiêu HS gái?
Bài tập này tôi đã hướng dẫn HS qua các bước như trên nhưng tốc độ nhanh hơn, HS đã hiểu, vẽ được sơ đồ khoa học và làm được bài tập nhanh hơn
Tóm tắt:
? HS
HS trai:
4HS28HS
HS gái:
? HS
Giải:
Lớp học đó có số HS trai là:
(28 + 4) : 2 = 16 (học sinh) Lớp học đó có số HS gái là:
28 - 16= 12 (học sinh) Đáp số: 16 HS trai; 12 HS gái Sau khi hướng dẫn HS chiếm lĩnh kiến thức mới, luyện tập thực hành qua một số bài tập tôi nhận thấy HS đã không còn bỡ ngỡ với dạng toán này cũng nhưcơ bản đã biết cách giải HS hiểu bài nên các em đã hăng say, hứng thú hơn trong học tập
Biện pháp 3: Dạy bồi dưỡng cho HS có năng lực học toán.
Trong một lớp học thường sẽ có nhiều đối tượng học sinh, nhiều trình độ khác nhau Vì vậy để đảm bảo phát huy hết năng lực tư duy toán học của HS, ngoài các bài tập được thiết kế trong SGK, vở bài tập, tôi đã chủ dộng phân hóa các đối tượng để tìm thêm một số bài tập phù hợp, vừa sức giúp các em hiểu sâu hơn và tránh nhàm chán cho một số em hoàn thành bài tập một cách nhanh nhẹn và một số tiết Luyện Toán (buổi 2) Như một số bài tập cũng thuộc dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó nhưng ẩn tổng hoặc ẩn hiệu
Ví dụ 1:Mẹ hơn con 28 tuổi Biết bốn năm về trước tổng số tuổi hai mẹ con
là 38 tuổi Hỏi hiện nay mỗi người bao nhiêu tuổi?
Bước 1: 2 HS đọc to đề toán phân tích tìm dữ kiện đã cho (các em khác đọc
thầm theo bạn và gạch chân bằng bút chì dưới những dữ kiện)
Bước 2: Phân tích - tóm tắt bài toán
Cho HS phân tích bài toán:
- Bài toán cho biết gì? - Hiệusố tuổi hai mẹ con, tổng số tuổi hai mẹ con 4 năm trước
- Bài toán hỏi gì?
- Bài toán thuộc dạng toán gì? (Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2 số đó)