A SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN BẾN SUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU CHO HỌC SINH LỚP 5D TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤ[.]
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CHUYỂN ĐỘNG ĐỀU CHO HỌC SINH LỚP 5D TRƯỜNG
Trang 21.1 Lý do chọn đề tài 1
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2-3
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, với đồng nghiệp và nhà trường
17-18
Trang 31.MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn xem "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, là độnglực của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước" Trong đó, văn kiện Đại hội
X của Đảng khẳng định: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ
là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước"
Bậc Tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng choquá trình hình thành và phát triển nhân cách học sinh.Tất cả đều được thể hiện,tích hợp đầy đủ qua các môn học nói chung và môn Toán nói riêng Chính vì vậytrong cuốn “Giải toán ở cấp I phổ thông” Giáo sư Phạm Văn Hoàn đã nêu tầmquan trọng của việc giải toán như sau: “ Việc giải toán góp phần quan trọng vàoviệc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con ngườilao động mới Khi giải một bài toán tư duy, học sinh phải hoạt động tích cực vìcác em cần phân biệt cái gì đã cho, cái gì phải tìm Suy luận lên những phánđoán rút ra những kết luận Thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyếtnhững vấn đề đặt ra”
Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn toán, vấn đề đặt ra chongười thầy là làm thế nào để giờ dạy – học toán có hiệu quả cao, học sinh pháthuy được tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toánhọc Để đạt được yêu cầu đó, giáo viên phải có phương pháp và hình thức dạyhọc để vừa nâng cao hiệu quả cho học sinh, vừa phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý của lứa tuổi tiểu học và trình độ nhận thức của học sinh, để đáp ứng với côngcuộc đổi mới của đất nước nói chung và của ngành giáo dục tiểu học nói riêng
Trong chương trình Toán lớp 5 thì toán chuyển động đều là loại toán khó,nội dung phong phú, đa dạng vì thế cần phải có phương pháp cụ thể đề ra đểdạy giải các bài toán chuyển động đều nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy củagiáo viên, phát triển khả năng tư duy linh hoạt và óc sáng tạo của học sinh
Bên cạnh đó ta còn thấy các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiếnthức được áp dụng vào thực tế cuộc sống Học tốt dạng Toán này sẽ giúp các emhọc tốt phân môn Vật lí ở cấp học trên Từ nhiều lí do nêu trên, tôi chọn đề tài
“Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5D Trường Tiểu học Thị trấn Bến Sung" với mong muốn đưa ra các biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học các bài toán chuyển động đều lớp 5
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán nói chung và dạy họcdạng toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5 nói riêng Nâng cao kĩ năng dạyhọc toán cho bản thân, giúp học sinh ngày càng yêu thích môn Toán, có kĩ năng
Trang 4tính toán thành thạo khi giải các bài toán về dạng toán chuyển động đều và ápdụng linh hoạt vào thực tế cuộc sống
1.3.Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp dạy học tích cực để dạy giải các bài toán về chuyển độngđều cho học sinh lớp 5D trường Tiểu học Thị trấn Sung Đề tài nghiên cứu dựatrên chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt được sau mỗi bài học, kiến thức đại trà họcsinh phải đạt được, đồng thời cũng chú trọng đến kiến thức nâng cao để bồidưỡng cho học sinh
1.4.Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tài liệu: đọc các loại tài liệu, sách, báo, tạp chí giáo dục…cóliên quan đến nội dung đề tài Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sáchtham khảo Toán 5
- Phương pháp nghiên cứu thực tế: Dự giờ trao đổi ý kiến với đồng nghiệpcách dạy dạng toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5
- Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học
2.NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1.Cơ sở lí luận
Toán chuyển động đều là dạng toán có liên quan và ứng dụng trong thực
tế, học sinh phải tư duy, phải có óc suy diễn và phải có đôi chút hiểu biết về thực
tế cuộc sống
Dạy giải các bài toán chuyển động đều gây hứng thú toán học, giáo dục
tư tưởng, tình cảm và nhân cách cho học sinh: Ở bậc tiểu học nói chung vàhọc sinh lớp 5 nói riêng, do đặc điểm nhận thức lứa tuổi này các em chỉ haylàm những việc mình thích, những việc nhanh thấy kết quả Trong quá trình
hệ thống hóa các bài toán chuyển động đều, tôi thấy để đi được đến bướcdùng công thức cơ bản để tìm đáp số của bài toán, học sinh phải xử lý rấtnhiều chi tiết phụ nhưng rất quan trọng của bài toán Ở mỗi bài lại có cácbước phân tích, tìm lời giải khác nhau Điều này đòi hỏi mỗi học sinh phảitích cực, chủ động, sáng tạo Các tình huống của bài toán phải xử lý linhhoạt, chính xác để cuối cùng đưa bài toán về dạng đơn giản, điển hình
Như vậy, đi sâu tìm hiểu vai trò của việc dạy giải toán chuyển động đều,
ta thấy rằng quá trình dạy giải toán nói chung và dạy giải toán chuyển độngđều nói riêng góp phần không nhỏ vào việc phát triển và hình thành nhân cáchtoàn diện cho học sinh
2.2.Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Qua nhiều năm kinh nghiệm trong dạy học môn toán, tôi thấy học sinhthường mắc những sai lầm khi giải toán do những nguyên nhân sau:
1 Sai lầm do học sinh không đọc kĩ đề bài, thiếu sự suy nghĩ cặn kẽ dữ
Trang 5kiện và điều kiện đưa ra trong bài toán.
2 Khi giải bài toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưalinh hoạt
2 Không nắm vững phương pháp giải các bài toán điển hình
3 Tính toán nhầm lẫn, không cẩn thận trong làm bài
4 Diễn đạt, trình bày lời giải bài giải còn hạn chế
Để kiểm tra khả năng vận dụng của học sinh, tôi đã tiến hành khảo sátchất lượng học sinh lớp 5A và 5B (đã học xong chương trình lớp 5 nhưng chưa
áp dụng đề tài) như sau:
Để kiểm chứng hiệu quả của những biện pháp đưa ra, trước khi thực hiệnsáng kiến này ( Vào cuối tháng 3 năm học 2019 - 2020) tôi đã cho học sinh lớp5C, 5D làm đề kiểm tra như sau:
Khảo sát học sinh.
Bài 1: Một máy bay bay được 1800km trong 2,5 giờ Tính vận tốc của máy bay.
(Bài 2 – SGK toán 5, Trang 139)
Bài 2: Một ôtô đi từ Hà Nội lúc 6 giờ 15 phút và đến Hải phòng lúc 8 giờ 56
phút Giữa đường ô tô nghỉ 25 phút Vận tốc của ôtô là 45 km/giờ Tính
quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng (Bài 4- SGK Toán lớp 5, trang 166)
Bài 3: Quãng đường AB dài 180Km Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc
54Km/giờ, cùng lúc đó một xe máy di từ B đến Avới vận tốc 36Km/giờ Hỏi kể
từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ ô tô gặp xe máy? ( Bài - SGK toán 5, trang 166):
Bài 4: Một tàu thuỷ khi xuôi dòng có vận tốc 28,4 km/giờ Khi ngược dòng có
vận tốc 18,6 km/giờ Tính vận tốc của tàu thuỷ khi nước lặng và vận tốc của
dòng nước (Bài 5 – Trang 178, SGK Toán 5)
*Về phía học sinh:
- Do phần lớn các em còn chủ quan khi làm bài, chưa nhớ kĩ kiến thức cơbản của dạng toán này Mặt khác, cũng có thể là các em chưa được củng cố ronét về các kiểu bài trong dạng toán này nên sự sai đó là không tránh khỏi Cònnữa, đây là các bài toán áp dụng rất thực tế mà các em quên mất phương phápthử lại nên kết quả đưa ra rất đáng tiếc
- Một bộ phận học sinh tiếp thu bài chậm, ý thức học tập không cao, thụđộng, còn ngại khó, chưa có thói quen tự tự học
Trang 6- Một trong những nguyên nhân cũng cần phải nói đến, là kĩ năng về đọc vàphân tích đề bài của học sinh còn hạn chế nên học sinh khó nắm bắt nội dung vàhiểu sâu sắc bài toán; kĩ năng diễn đạt kém do đó khó khăn trong việc trình bàybài giải
- Khi giải bài toán học sinh còn nặng về trí nhớ máy móc, tư duy chưa linhhoạt
- Đa số học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán
- Một số học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bàitoán phức tạp
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 Làm rõ bản chất, mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc,
quãngđường, thời gian.
* Trong toán chuyển động đều, khái niệm vận tốc là một khái niệm khó
hiểu, trừu tượng đối với học sinh nên khi dạy bài này tôi đặc biệt chú ý Để họcsinh hiểu ro, nắm chắc bản chất của vận tốc, bằng các ví dụ cụ thể để giúp học sinh hiểu :
Ví dụ 1 : Hai người đi xe đạp cùng xuất phát một lúc, đi từ A đến B
Mỗi giờ người thứ nhất đi được 12 km, mỗi giờ người thứ hai đi được 18 km Hỏi ai đến B trước?
- Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Từ sơ đồ học sinh dễ dàng nhận thấy người đến B trước là người đi nhanh
hơn Như vậy học sinh hiểu ro bản chất vận tốc là chỉ ro sự chuyển động nhanh
+ Loại 1: Cho biết quãng đường và thời gian chuyển động, tìm vận tốc
Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian.
Gọi vận tốc là v, quãng đường là s, thời gian là t, ta có:
Trang 7Công thức : v = s : t
+ Loại 2: Cho biết vận tốc và thời gian chuyển động, tìm quãng đường.
Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian.
Công thức : s = v × t
+ Loại 3: Cho biết vận tốc và quãng đường, tìm thời gian
Muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc
Công thức : t = s : v
Chú ý: Phải chọn đơn vị đo thích hợp trong các công thức tính Chẳng hạn
nếu quãng đường chọn đo bằng km, thời gian đo bằng giờ thì vận tốc phải đobằng km/giờ Nếu thiếu chú ý điều này học sinh sẽ gặp khó khăn và sai lầmtrong tính toán
* Trong quá trình dạy học hình thành quy tắc, công thức tính vận tốc, thời gian,quãng đường, tôi đặc biệt lưu ý học sinh những vấn đề học sinh hay nhầm lẫnđơn vị đo của các đại lượng:
- Đơn vị vận tốc phụ thuộc vào đơn vị quãng đường và đơn vị thời gian
- Các đơn vị của đại lượng khi thay vào công thức phải tương ứng với nhau
- Số đo thời gian khi thay vào công thức phải viết dưới dạng số tự nhiên, số thập phân hoặc phân số
- Giúp học sinh hiểu rõ khái niệm: tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch; mối quan hệ giữa các đại lượng: vận tốc, quãng đường, thời gian:
Lấy ví dụ cụ thể để học sinh hiểu để rút ra ghi nhớ:
Ghi nhớ:
+ Với cùng một vận tốc thì quãng đường tỉ lệ thuận với thời gian.
+ Trong cùng thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc.
+ Trên cùng một quãng đường thì vận tốc tỉ lệ nghịch với thời gian
Trang 82.3.2 Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán
Phân tích bài toán là quá trình tách một bài toán phức tạp thành nhiều bàitoán nhỏ đơn giản dễ giải hơn Đây là quá trình suy nghĩ để thiết lập trình tự giảibài toán
+ Khi hướng dẫn học sinh giải các bài toán chuyển động đều, giáo viêncần hướng dẫn, động viên học sinh giải bằng nhiều cách khác nhau và lựachọn cách giải hay nhất
+ Khi hướng dẫn giải các bài toán chuyển động đều, giáo viên phải chú
ý cho học sinh biết vận dụng mối tương quan tỉ lệ thuận và tương quan tỉ lệnghịch giữa 3 đại lượng ; quãng đường, vận tốc, thời gian để giải được bàitoán
+ Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ bởi đây là dạng toán khó và cónhiều bất ngờ trong lời giải Chính vì vậy, đứng trước một bài toán, giáo viêncần làm tốt những công việc sau :
- Xác định những yêu cầu và đưa bài toán về dạng cơ bản
- Tự giải bài toán bằng nhiều cách (nếu có)
- Dự kiến những khó khăn, sai lầm của học sinh
- Tìm cách tháo gỡ khó khăn, hướng dẫn, gợi ý để học sinh tìm đượccách giải hay
- Đề xuất bài toán mới hoặc khai thác theo nhiều khía cạnh khác nhau
- Rèn luyện cho học HS có năng lực khái quát hóa giải toán
2.3.3 Giúp học sinh nắm chắc các dạng toán chuyển động đều
Dạng 1: Những bài toán áp dụng công thức các yếu tố đề cho đã tường minh.
Đây là dạng toán đơn giản nhất Học sinh dễ dàng vận dụng hệ thống côngthức để giải
Ví dụ: Bài tập 3/139 Toán 5
Một người chạy được 400m trong 1phút 20giây Tính vận tốc chạy của người đó với đơn vị đo là m/giây.
- Với đề bài trên tôi hướng dẫn cho học sinh như sau:
* Đọc kĩ yêu cầu của đầu bài.
* Phân tích bài toán.
+ Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?
+ Tính vận tốc theo đơn vị nào ?
+ Áp dụng công thức nào để tính ?
- Qua đó học sinh dễ dàng vận dụng để tính nhưng cần lưu ý đơn vị đothời gian phải đồng nhất với đơn vị đo vận tốc theo yêu cầu
Bài giải
Trang 91 phút 20 giây = 80 giây.
Vận tốc của người đó là:
400 : 80 = 5 ( m/giây ) Đáp số: 5 m/giây.
Ví dụ 2: Bài tập 2/141 Toán 5
Một người đi xe đạp trong 15phút với vận tốc 12,6 km/giờ Tính quãng đường đi được của người đó ?
- Với ví dụ 2 tương tự ví dụ 1 Chúng ta chỉ cần lưu ý học sinh đơn vị thờigian bài cho là phút, đơn vị vận tốc là km/giờ Chính vì vậy cần phải đổi 15phút
= 0,25 giờ
- Học sinh trình bày bài giải:
Bài giải
Đổi: 15phút = 0,25 giờ Quãng đường người đó đi được là:
12,6 x 0,25 = 3,15 ( km ) Đáp số: 3,15 km.
*Cách giải chung:
- Nắm vững đề bài.
- Xác định công thức áp dụng.
- Lưu ý đơn vị đo.
Dạng 2: Các bài toán áp dụng công thức có các yếu tố đề cho chưa tường
? Đề bài cho biết gì ?Hỏi gì ?
? Để tính vận tốc xe máy cần biết yếu tố gì ?
( Quãng đường, thời gian xe máy đi )
* Giúp học sinh nắm ro quá trình phân tích bài toán bằng sơ đồ như sau
Thời điểm xuất phát
Thời gian xe máy đi
(Chưa biết, phải tìm)
Trang 10Từ sơ đồ phân tích trên học sinh có thể tổng hợp tìm cách giải.
* Học sinh trình bày bài giải
Giải
Thời gian xe máy đi trên đường là:
7 giờ 45 phút - 6 giờ 30 phút = 1 giờ 15 phút = 1
* Lưu ý: Học sinh có thể đổi : 1 giờ 15 phút = 1, 25 giờ
Khi giải bài toán này cần hướng dẫn học sinh cách tính thời gian đi trên đườngbằng cách lấy thời gian đến nơi trừ thời gian xuất phát
Trang 11Một ô tô đi từ Hà Nội lúc 6giờ 15phút và đến Hải Phòng 8giờ 56phút Giữa đường ô tô nghỉ 25phút Vận tốc của ô tô là 45km/giờ Tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng ?
Với bài toán này cách giải cũng tiến hành tương tự VD1 Tôi hướng dẫnhọc sinh như sau:
* Đọc kĩ yêu cầu của đề bài
* Phân tích bài toán
- Đề bài cho biết gì ? Hỏi gì ?
- Để tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng ta cần biết yếu tố nào ?
( Vận tốc và thời gian xe ô tô đi trên đường )
- Để tính thời gian đi trên đường ta cần biết yếu tố nào ?
( Thời gian xuất phát, thời gian đến nơi, thời gian nghỉ )
*Phân tích bài toán bằng sơ đồ
*Từ sơ đồ phân tích, học sinh lập sơ đồ tổng hợp để tìm cách giải
* Học sinh trình bày bài giải
Quãng đường Hà Nội - Hải Phòng
Vận tốc ô tô( đã
biết)
Thời gian xuất phát
Thời gian đi trên đường (phải tìm)
Thời gian đến nơi Thời gian nghỉ
Thời gian xuất phát Thời gian đến nơi Thời gian nghỉ
Thời gian đi trên đường Vận tốc ô tô
Quãng đường HN - HP
Trang 12Bài giải Thời gian ô tô đi trên đường là:
8giờ 56phút - 6giờ 15phút - 25phút = 2giờ 16phút.
* Ở bài tập trên ta lưu ý: Nếu xe nghỉ dọc đường thì thời gian đi trên
đường bằng thời gian đến nơi, trừ thời gian xuất phát và thời gian nghỉ dọc
- Với bài toán trên, học sinh có thể giải theo 2 cách
Cách 1: Theo các bước.
+ Tính quãng đường AB.
+ Tính thời gian xe đạp đi hết quãng đường.
Cách 2: Tôi hướng dẫn học sinh dựa vào mối quan hệ giữa vận tốc và thời
gian khi đi trên cùng một quãng đường Vận tốc giảm đi bao nhiêu lần thì thờigian tăng lên bấy nhiêu lần
* Các bước thực hiện
- Tính vận tốc xe máy gấp bao nhiêu lần vận tốc xe đạp.
- Tính thời gian xe đạp đi.
Bài giải
Vận tốc xe máy gấp vận tốc xe đạp số lần là:
36 : 12 = 3 ( lần ) Thời gian xe đạp đi là:
3 x 3 = 9 ( giờ ) Đáp số : 9 giờ.
Dạng 4: Bài toán về 2 vật chuyển động ngược chiều nhau.