Trong các hoạt động đầu tư có đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước, đó là một công cụ tài chính của Nhà nước, góp phần ổn định, tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế, xã
Trang 1Tiểu luận
PHÂN TÍCH NSNN LÀ NGUỒN TÀI TRỢ CHO PHÁT TRIỂN KT-XH Ở CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI CŨNG NHƯ Ở VN TÁC ĐỘNG CỦA
CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU NĂM 2008-2009 ĐẾN NSNN VN
Trang 2Phần I: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu về đề tài:
Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy đường lối phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước Thực tế cho thấy, Chính phủ các nước NICs Châu á, sau gần một thập kỷ thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu, đã nhận ra được những mặt hạn chế của nó, và ngay đầu thập kỷ 60 đã có sự chuyển hướng chiến lược Với khoảng thời gian 25 - 30 năm họ đã đưa đất nước trở thành “ Những con rồng Châu Á”
Đối với Việt Nam, một đất nước với xuất phát điểm có vị thế thấp trên trường quốc tế, trải qua và gánh chịu nhiều cuộc chiến tranh, nhưng với tất cả những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, chúng ta đã từng bước đi lên, phù hợp với tình hình thực tế khách quan trong nước và nước ngoài, đặc biệt những năm gần đây, GDP tăng bình quân hàng năm từ 7% - 8% và các chuyên gia kinh tế đều có nhận xét chung là chúng ta đã có những bước khởi đầu tốt đẹp trong giai đoạn phát triển mới Nhưng để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong thời gian tới còn rất nhiều khó khăn Vấn đề đặt ra là cần có sự lựa chọn thích hợp cho đường lối phát triển của mình, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Có rất nhiều hoạt động tác động tới tăng trưởng kinh tế, trong đó có đầu tư, đây là yếu
tố có tính chất quyết định, không thể thiếu trong tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở các cấp độ, cơ sở khác nhau, có ảnh hưởng trực tiếp tới tiềm lực kinh tế, tiềm lực sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, nâng cao đời sống c ủa mọi thành viên trong xã hội…
Trang 3Trong các hoạt động đầu tư có đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước,
đó là một công cụ tài chính của Nhà nước, góp phần ổn định, tăng trưởng kinh
tế, giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của một quốc gia, tạo tiền đề cho quốc gia phát triển bền vững Đứng trước tầm quan trọng đó thì việc nghiên cứu những tác động, ảnh hưởng của nó tới tăng trưởng kinh tế xã hội là một việc làm rất có ý nghĩa Hiểu được các c hính sách tài khoá của Chính phủ hoạt động như thế nào sẽ phần nào giúp người làm kinh tế có thể dễ dàng tham gia vào các hoạt động quản lý kinh tế hơn và có thể nắm bắt được các quy luật vận động c ủa nền kinh tế Đó cũng c hính là đề tài mà nhóm thực hiện
Do sự hiểu biết còn hạn chế, cùng với những khó khăn trong việc thu thập
và xử lý số liệu, nên chắc hẳn báo cáo này còn nhiều sai sót Chúng em rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình của các thầy c ô c ùng toàn thể bạn đọc để
đề tài này được hoàn chỉnh hơn
Phần II: PHẦN NỘI DUNG
1 NSNN LÀ NGUỒN TÀI TRỢ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI Ở CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM:
1.1 Thế Giới: (có thể tìm tài liệu tổng quát hoặc đưa ví dụ nước nào chak cung ok)
1.2 Việt Nam: Tình hình sử dụng nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực Kinh tế xã hội ở Việt Nam
Trước hết, đó là vấn đề quy hoạch, do còn có nhiều tồn tại nên đã làm giảm đáng kể hiệu quả vốn đầu tư Chất lượng các quy hoạch c hưa cao, hầu hết các quy hoạch thiếu rõ ràng, chưa phù hợp với các giải pháp, nhất là giải pháp
về huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư, tổ c hức thực hiện Hiện còn c ó
Trang 4sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các loại quy hoạch: quy hoạch của cấp tỉnh, thành phố không tuân thủ và phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực không phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH Tình hình này dẫn đến việc sử dụng chưa hợp lý, kém hiệu quả các nguồn nguyên nhiên liệu, nguồn tài nguyên thiên nhiên
Bên cạnh đó, việc quản lý quy hoạch lại rất linh hoạt, lỏng lẻo Chưa thực hiện việc công khai các quy hoạch để mọi người dân được biết, cùng giám sát việc thực hiện quy hoạch Kế hoạch đầu tư hàng năm của các c ấp, các ngành chưa dựa vào định hướng trong quy hoạch được duyệt Các c ơ quan chức năng
và quản lý Nhà nước còn rất linh hoạt trong việc điều chỉnh quy hoạch theo ý tưởng của nhà đầu tư, c hủ đầu tư
Tiếp theo đó, ở khâu chuẩn bị dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi) nhiều khi lại rất kém, biểu hiện bằng việc phải phê duyệt điều chỉnh dự án nhiều lần, nhất là những dự án do địa phương quản
lý, thời gian triển khai dự án thường kéo dài hơn nhiều so với phê duyệt ban đầu Nhiều dự án phê duyệt lần đầu chỉ mang tính hình thức để được xếp hàng chờ vốn; có dự án được phê duyệt chỉ để đi vận động vốn như là dự án đưa ra để kêu gọi nguồn vốn ODA Sau khi có tín hiệu được xem xét bố trí vốn mới hoàn chỉnh dự án để phê duyệt lại
Mặt khác, nhà nước lại chưa thực sự kiểm soát được các hoạt động đầu tư, nhất là đối với nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước, nguồn vốn c ủa khu vực
tư nhân và dân cư Việc phân bổ nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn nhiều vấn đề phải được nghiên cứu cải tiến Theo đó, do chưa có định hướng đúng về cơ cấu đầu tư theo ngành và lĩnh vực, cơ cấu theo vùng lãnh thổ c hưa
Trang 5phù hợp với mục tiêu đầu tư, dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế rất chậm và kém hiệu quả
Nhà nước hiện chỉ định hướng một cách rất tương đối và mang tính hình thức đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ (cả 2 nguồn vốn này chỉ chiếm khoảng 20% tổng nguồn vốn xã hội) Về thực chất rất khó xác định và điều hành cơ cấu này bởi theo luật ngân sách hiện hành, ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách TƯ, ngân sách địa phương Nguồn ngân sách địa phương quản lý rất hạn hẹp, lại c o kéo bởi nhiều mục tiêu
và nhiệm vụ cấp bách của địa phương Hội đồng nhân dân các c ấp quyết định việc phân bổ c ụ thể cho từng dự án cũng như cơ cấu của nguồn vốn này
Mặt khác, hiện có khoảng 50 khoản đầu tư mang tính hỗ trợ và theo mục tiêu cụ thể Đó là các mục tiêu rất quan trọng c ủa nền kinh tế; tuy nhiên, chính
vì vậy mà khi tổng hợp theo địa bàn tỉnh, thành phố, cơ cấu vốn đầu tư lại chưa hợp lý, các lĩnh vực được coi là quốc sách, các mục tiêu quan trọng c ủa tỉnh, thành phố lại nhận được tỷ trọng khiêm tốn
Ngoài ra, việc bố trí kế hoạch vốn đầu tư hàng năm cho từng dự án cụ thể khó có thể tập trung, dứt điểm do nguồn vốn có hạn, nhưng những yêu cầu đặt
ra trong cuộc sống rất lớn, nhất là đối với c ác tỉnh, thành phố điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, hạ tầng kinh tế - xã hội c òn thiếu và yếu Do vậy, hầu hết các dự án đều phải đồng loạt triển khai để đảm bảo cân đối vùng, miền, ngành, lĩnh vực, đơn vị hành chính tương đương, đảm bảo mục tiêu về giảm nghèo, an sinh xã hội Kết quả là, mỗi năm hàng chục nghìn dự án được triển khai, vốn c ân đối nhỏ giọt, hầu hết là quá thời gian qui định, số dự án hoàn thành trong năm ít, gây lãng phí vốn, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp
Trang 62 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU NĂM 2008-2009 ĐẾN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
2.1 Chính sách k ích cầu:
Theo lý thuyết kinh tế, khi nền kinh tế gặp khó khăn, phát triển quá nóng hoặc suy thoái, thì hai c ông cụ c hính mà chính phủ sẽ dựa vào là (i) chính sách tiền tệ – tăng giảm lãi suất và một số biện pháp khác để điều chỉnh cung tiền trong nền kinh tế và (ii) chính sách tài khóa – chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ (ví dụ như gói kích cầu) Trong kinh tế học, gói kích c ầu thường được hiểu là việc sử dụng chính sách tài khóa (miễn giảm thuế, tăng chi tiêu của chính phủ) để hỗ trợ nền kinh tế trong c ơn suy thoái Mục tiêu của biện pháp kích c ầu thông qua chính sách tài khóa là nhằm tăng cường các hoạt động kinh tế trong giai đoạn suy thoái bằng việc làm tăng tổng c ầu trong ngắn hạn Ý tưởng kinh tế của gói kích cầu là khi tăng chi tiêu sẽ hạn chế được khả năng tổng c ầu sụt giảm hơn nữa gây ra đổ vỡ nền kinh tế Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, vấn đề cơ bản của nền kinh tế chính là thiếu hụt cầu, chứ không phải là thiếu năng lực sản xuất
2.2 Tác động Chính sách k ích cầu năm 2008-2009 đến NSNN Việt Nam:
Về thực hiện chính sách miễn, giảm, giãn thuế thuế, đến 31/8 đã có trên
125 nghìn lượt doanh nghiệp và 937 nghìn đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi về thuế
Tổng thu ngân sách được miễn, giảm, giãn đến hết 7/2009 khoảng 14,7 nghìn tỷ đồng, ước cả năm khoảng 20 nghìn tỷ đồng, trong đó giảm, giãn thuế thu nhập doanh nghiệp khoảng 9,9 nghìn tỷ đồng; giảm thuế giá trị gia tăng khoảng 4,47 nghìn tỷ đồng; miễn thuế thu nhập cá nhân khoảng 4,507 nghìn tỷ đồng; giảm thu lệ phí trước bạ khoảng 1,14 nghìn tỷ đồng
Trang 7Ngoài ra, giảm, giãn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất nhập khẩu năm 2009 khoảng 7 nghìn tỷ đồng, trong đó giảm thu do giảm thuế 50% tại khâu nhập khẩu ước khoảng 5 nghìn tỷ đồng; giãn nộp thuế 180 ngày cho máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng ước khoảng 2 nghìn tỷ đồng
“Tuy nhiên, do thuế giá trị gia tăng có tính chất liên hoàn nên việc giảm, giãn thuế này ảnh hưởng không lớn đến số thu ngân sách Nhà nước”, báo cáo cho biết
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, việc thực hiện các ưu đãi về thuế là khẩn trương, đúng đối tượng, góp phần giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, tạo chuyển biến tích cực cho nền kinh tế
Ngoài các khoản kể trên, Chính phủ đã cho phép mua dự trữ quốc gia về gạo trị giá 1,3 nghìn tỷ đồng, xăng dầu trị giá 1,5 nghìn tỷ đồng; ứng chi hỗ trợ
hộ nghèo ăn Tết Kỷ Sửu 2009, hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn, hỗ trợ thay thế xe công nông, xe ba bánh, khắc phục thiên tai tổng cộng khoảng 7 nghìn tỷ đồng
Trên cơ sở thông tin cập nhật đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, quy mô gói kích thích kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội khoảng 122 nghìn tỷ đồng, tương đương 6,9 tỷ USD Ước thực hiện trong năm 2009 đã sử dụng hết khoảng 100,6 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,7 tỷ USD Số còn lại sẽ được sử
dụng trong năm 2010 và 2011
3 GIẢI PHÁP
3.1 Những tồn tại trong tài trợ cho phát triển kinh tế xã hội từ Ngân sách nhà nước
Tồn tại được nhắc đến nhiều nhất trong việc tài trợ cho phát triển kinh tế
từ Ngân sách nhà nước trong giai đoạn hiện tại là việc thực hiện chính sách kích
Trang 8cầu của chính phủ Bản thân các giải pháp kích thích kinh tế và gói kích cầu cũng đã bộc lộ một số vướng mắc, tồn tại và không ít hệ lụy, trong đó c ó những
hệ lụy chưa bộc lộ một cách đầy đủ
Trước hết, cơ chế hỗ trợ lãi suất 4% thực hiện trong ngắn hạn, diện cho vay rộng, đối tượng được hỗ trợ lãi suất còn có sự trùng lặp giữa Quyết định số 497/QĐ-TTg với quyết định số 131/QĐ-TTg và Quyết định số 443/QĐ-TTg, điều kiện, thủ tục cho vay chặt chẽ hơn so với cho vay theo cơ chế thông thường
Vì vậy, khó kiểm soát việc sử dụng và chuyển dịch vốn vay Việc triển khai đồng thời nhiều cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực thi c hính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tổng phương tiện thanh toán
và tín dụng tăng ở mức cao đã và sẽ gây sức ép tăng lãi suất thị trường và là nguy cơ tái lạm phát
Nợ xấu ngân hàng có thể tăng, do lãi suất cho vay đồng Việt Nam sau khi được hỗ trợ khá thấp, doanh nghiệp nhập khẩu chuyển sang vay tiền đồng để mua ngoại tệ, gây sức ép tăng tỷ giá và căng thẳng thanh khoản trên thị trường ngoại hối
Ngoài ra, doanh nghiệp có vốn tự có gửi vào ngân hàng thương mại để hưởng lãi suất cao (từ 7-10%/năm), cho nên đã xuất hiện tình trạng bất bình đẳng, ỷ lại và có thể triệt tiêu động lực trong kinh doanh do một số doanh nghiệp hưởng hỗ trợ lãi suất 4%/năm
Bên cạnh đó, đã xuất hiện hiện tượng không lành mạnh trong hoạt động tín dụng, trong tiếp cận nguồn vốn vay, như sử dụng vốn vay không đúng mục đích, đảo nợ…
Thứ hai, cùng với tăng chi ngân sách, tác dụng của giảm, miễn thuế đã gây giảm thu ngân sách, tăng bội c hi ngân sách đáng kể (có khả năng 6,9%), nhưng
Trang 9tác dụng kích thích kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng không nhiều, không như mong đợi
Thứ ba, tình trạng triển khai chậm các chương trình dự án, giải ngân chậm, đầu tư dàn trải và kém hiệu quả, vì vậy rất khó hoàn thành nhiệm vụ thực hiện các khoản đầu tư c ủa nhà nước trong năm 2009 Ngay việc bù lãi suất 4% với số tiền 17-18 nghìn tỉ đồng (tương đương 1 tỉ đô la Mỹ), nhưng theo Ngân hàng Nhà nước, qua thực hiện hơn 8 tháng mới giải ngân được khoảng 60-70%; dự tính đến cuối năm, bù lãi suất khả năng đạt 10.000 tỉ đồng
Như vậy số tiền chưa được giải ngân còn khá nhiều, phải giải ngân tiếp trong năm 2010 Chắc chắn lại có tình trạng chuyển nguồn vốn đầu tư, vốn c hi ngân sách nhà nước của năm 2009 sang năm 2010 sẽ không hề nhỏ hơn những năm trước
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài trợ từ Ngân sách Nhà nước để phát triển kinh tế- xã hội
Có thể nói việc sử dụng chính sách tài khóa thông qua gói kích cầu kết hợp với biện pháp tiền tệ thông qua giảm lãi suất là những bước đi đúng đắn và bài bản của chính phủ để hỗ trợ nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức gây ra do hệ quả của nền kinh tế thế giới suy thoái
Kích cầu thực chất là biện pháp giải cứu nền kinh tế trong lúc khẩn cấp, vì thế theo tôi, nên đưa về quỹ đạo bình thường để tạo ra môi trường bình đẳng, môi trường tiếp cận các nguồn vốn không có phân biệt đối xử giữa các đối tượng Cần có giải pháp và chính sách toàn diện hơn để mọi đối tượng có cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn vốn Ví dụ, Nhà nước nên có c hủ trương áp dụng lãi suất thấp cho tất cả những đối tượng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn vay
Trang 10Bên cạnh đó, Nhà nước nên có biện pháp tháo gỡ những nút thắt giúp doanh nghiệp giảm bớt những chi phí không cần thiết, trong đó có chi phí về thuế Hiện nay các doanh nghiệp không ngại nộp thuế mà họ ngại c hính các thủ tục chi phí cho thủ tục kèm theo Vì thế, Nhà nước c ần tập trung chính sách, vốn, cơ chế giải quyết môi trường kinh doanh, tạo ra sự bình đẳng, để các doanh nghiệp tự giảm bớt được chi phí dưới sự hỗ trợ của Nhà nước
Ngoài ra, nên có sự đánh giá toàn diện gói kích cầu, đồng thời có sự chấn chỉnh kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời c ác sai phạm và lệch lạc Nếu lượng tiền tung vào lưu thông càng lớn sẽ tiềm ẩn nguy cơ tái lạm phát, nếu tái lạm phát trở lại tình hình sẽ nghiêm trọng hơn Vì thế, cần có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn ngay từ bây giờ
Đồng thời, khẩn trương tái cơ cấu nền kinh tế, chuẩn bị tích cực c ho sau khủng hoảng Trong đó, tập trung tái cơ cấu ngành nghề, lĩnh vực, tái c ơ cấu đầu
tư, vốn đầu tư và tái c ơ cấu thị trường… đảm bảo cho kinh tế của chúng ta phát triển ổn định và bền vững
Mặt khác, Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài trợ từ Ngân sách Nhà nước
để phát triển kinh tế- xã hội , Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sách trong quản lý đầu tư Tránh tình trạng tuổi thọ của các văn bản quá ngắn, c ấp thực hiện không thể điều chỉnh kịp, ảnh hưởng tiến độ dự án, bị động trong kế hoạch vốn Tăng cường công tác quy hoạch, tránh tình trạng độc quyền quy hoạch Nâng cao chất lượng các hoạt động tư vấn trong tất cả các bước như lập dự án đầu tư, thẩm định dự án, thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán Khắc phục tình trạng đấu thầu hình thức, hạn chế tình trạng khép kín trong hoạt động đầu tư trong một đơn vị quản lý