TIỂU LUẬN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ, THUẾ ĐÁNH VÀO LÃI TIẾT KIỆM Phân tích chính sách thuế là môn học trang bị cho người học những quan điểm, nhận thức, phương pháp và công cụ cần thiết để khám phá các vấn đề như thuế tác động đến tiết kiệm và đầu tư, hành vi người tiêu dùng, cung lao động, sự giàu có, tài sản và thương mại. Vì vậy, môn học này được đưa vào giảng dạy và là môn học bắt buộc trong giai đoạn chuyên ngành của chương trình cao học.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Trang 2Phân tích chính sách thuế là môn học trang bị cho người học những quan điểm, nhận thức, phương pháp và công cụ cần thiết để khám phá các vấn đề như thuế tác động đến tiết kiệm và đầu tư, hành vi người tiêu dùng, cung lao động, sự giàu có, tài sản và thương mại Vì vậy, môn học này được đưa vào giảng dạy và là môn học bắt buộc trong giai đoạn chuyên ngành của chương trình cao học
Lời đầu tiên, lớp TCDN ngày K22 xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường ĐH Kinh
tế TP HCM đã tạo điều kiện tốt nhất cho học viên có môi trường học tập và trau dồi thêm kiến thức môn học này
Các thành viên của Nhóm cũng xin chân thành cám ơn thầy Nguyễn Ngọc Hùng, người thầy với tất cả sự nhiệt tình, yêu nghề đã truyền đạt những kiến thức bổ ích và kinh nghiệm quý báu cho lớp TCDN Ngày – K22 cũng như hướng dẫn tận tình
và cung cấp giáo trình, tài liệu tham khảo cho nhóm hoàn thành đề tài này
Và cuối cùng, trong quá trình tìm hiểu về đề tài, mỗi thành viên trong nhóm đã
cố gắng hết sức nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, cả nhóm mong nhận được ý kiến đóng góp của Thầy và các bạn
Trân trọng!
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN II: NỘI DUNG 2
2.1 Lý thuyết truyền thống 2
2.1.1 Mô hình giản đơn- Mô hình tiêu dùng của Fisher 2
2.1.2 Phân tích chính sách thuế tác động đến hành vi tiết kiệm 4
2.1.2.1 Hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập của thuế đánh vào lãi tiết kiệm 4
2.1.2.2 Tác động thuế đến hành vi tiết kiệm 4
2.1.3 Minh chứng lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm: 6
2.1.4 Tác động của thuế đánh vào lãi tiết kiệm trong điều kiện có lạm phát 6
2.2 Mô hình tiết kiệm khác 9
2.2.1 Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro 9
2.2.2 Mô hình tự kiểm soát 10
2.3 Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí (chính sách ưu đãi thuế đối với tiết kiệm) 11
2.3.1 Các phương thức của chính sách ưu đãi thuế đối với tiết kiệm hưu trí 12
2.3.1.1 Tài khoản 401(k) 12
2.3.1.2 Tài khoản hưu trí cá nhân (Indiviđual retirement account-IRA) 13
2.3.1.3 Tài khoản Keough 14
2.3.2 Tại sao chính sách ưu đãi thuế lại tăng mức sinh lời của tiết kiệm 17
2.3.3 Hiệu ứng lý thuyết đến tiết kiệm hưu trí được ưu đãi thuế 17
2.4 Chính sách ưu đãi thuế đối với tiết kiệm tại Việt nam 23
2.4.1 Quy định đánh thuế vào lãi tiết kiệm tại Việt Nam 23
2.4.2 Chính sách ưu đãi thuế đối với tiết kiệm hưu trí tại Việt Nam 25
PHẦN III: KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 5Bảng 1: Quyết định lựa chọn tiêu dùng theo thời gian khi chưa có thuế ………… ….2
Bảng 2: Quyết định lựa chọn tiêu dùng theo thời gian khi có thuế……… 4
Bảng 3: Tác động ròng giữa hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thu nhập ……… 5
Bảng 4: Ảnh hưởng của thuế đến thu nhập thực ……….7
Bảng 5: Thuế đánh vào lãi tiết kiệm trong môi trường lạm phát ………8
Bảng 6: So sánh các tài khoản tiết kiệm hưu trí ……… 14
Bảng 7: Dự đoán dòng tiền khi không đánh thuế vào lãi tiết kiệm ……… 15
Bảng 8; Dự đoán dòng tiền công cụ IRA – đánh thuế khi rút lãi 1 lần ……… 16
Bảng 9: Dự đoán dòng tiền khi sử dụng công cụ tiết kiệm thông thường – đánh thuế ngay trên lãi khi được thanh toán ……….16
Trang 6Hình 2.1: Đánh thuế và quyết định lựa chọn theo thời gian 3
Hình 2.2: Ưu đãi thuế và đánh đổi tiêu dùng theo thời gian 18
Hình 2.3: IRAs và quyết định tiêu dùng theo thời gian 19
Hình 2.4: Người tiết kiệm thấp 20
Hình 2.5: Người tiết kiệm cao 21
Trang 7PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là một khoản chuyển giao nguồn lực bắt buộc thông qua chính phủ Hai loại thuế chủ yếu là gián thu thông qua hàng hóa và thuế trực thu thông qua thuế thu nhập Thuế thu nhập là loại thuế có tính nhạy cảm nhất đối với đời sống của các tầng lớp dân cư Ở các nước phát triển, thuế thu nhập là nguồn thu chủ yếu của Chính Phủ, trong khi đó các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam thì thuế thu nhập chưa thể đóng vai trò chính trong nguồn thu ngân sách
Các nghiên cứu cho thấy các hệ thống thuế gây ảnh hưởng ít nhiều đến tài chính, hành vi người tiêu dùng và cả người sản xuất Trong đó thuế đánh vào tiết kiệm
đã được áp dụng rộng rãi ở một số quốc gia trên thế giới, là một bước trong tiến trình phát triển hệ thống thuế
Đã có nhiều câu hỏi được đặt ra : Liệu cấu trúc thuế thu nhập có làm giảm khối lượng tiết kiệm của người dân hay không ? Chính phủ có nên sử dụng luật thuế để khuyến khích người dân tíêt kiệm hơn? Nếu có, các khuyến khích nên được cấu trúc như thế nào? Và cũng đã có những nghiên cứu về các quyết định tiết kiệm Một trong những các tranh luận chính sách ở Mỹ và thế giới là vai trò thích hợp của thuế đánh vào thu nhập từ vốn, tức là thuế đánh trên sự sinh lợi của tiết kiệm Còn đối với Việt Nam thì vấn đề này ra sao, đang nghiên cứu, đã áp dụng hay không phù hợp với nền kinh tế Bài tiểu luận này sẽ tập trung phân tích các mô hình lý thuyết về chính sách thuế đánh vào lãi tiết kiệm, nhằm làm rõ những tác động đến hành vi của người tiêu dùng trong tiết kiệm và tiêu dùng Từ đó làm tiền đề cho các tổng hợp thực tiễn tiếp cũng như là cơ sở đề xuất ý kiến cho các chính sách trong tương lai
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG
2.1 Lý thuyết truyền thống
2.1.1 Mô hình giản đơn- Mô hình tiêu dùng của Fisher
* Các giả định
hiện tại và thu nhập kỳ vọng có được trong tương lai Hàm ý rằng heo lý thuyết truyền thống về tiết kiệm, vai trò của tiết kiệm là ổn định tiêu dùng theo thời gian
(ii) Nghỉ hưu
- Tổng tiêu dùng cả hai giai đoạn bằng tổng thu nhập của cả hai giai đoạn Do các cá nhân ưa thích việc ổn định tiêu dùng theo thời gian hơn, nên họ sẽ giảm chi tiêu trong những lúc thu nhập cao để tăng chi tiêu trong những lúc thu nhập nhận được thấp thông qua tiết kiệm Như vậy, vai trò của tiết kiệm là ổn định tiêu dùng
* Mô hình
Mô hình này nhấn mạnh việc lựa chọn cách thức phân bổ tiêu dùng cá nhân theo thời gian Chúng ta làm việc hôm nay để tài trợ cho tương lai, tức là sự đánh đổi giữa lựa chọn tiết kiệm và tiêu dùng hiện tại
Thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm của cá nhân trong các giai đoạn thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1: Quyết định lựa chọn tiêu dùng theo thời gian khi chưa có thuế
Trang 9Nguồn: Tổng hợp từ giáo trình Tài chính Công và Phân tích chính sách thuế - Sử Đình Thành
và Bùi Thị Mai Hoài (2010)
Điểm A là giao điểm giữa đường ngân sách BC1 và đường bàng quan IC1 – đây cũng là điểm tiêu dùng tối ưu của người lao động khi chưa bị đánh thuế vào tiết kiệm Khi đó độ dốc đường bàng quan là –(1+r) thể hiện chi phí cơ hội của việc đánh đổi tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất là thu nhập từ tiền lãi lý ra nhận được nếu tiết kiệm để tiêu dùng trong giai đoạn thứ 2
Hình 2.1 Đánh thuế và quyết định lựa chọn theo thời gian
Nguồn: Tổng hợp từ giáo trình Tài chính Công và Phân tích chính sách thuế - Sử Đình Thành
và Bùi Thị Mai Hoài (2010)
Khi chính phủ đánh thuế vào thu nhập từ tiền lãi tiết kiệm, thu nhập, chi tiêu và tiết kiệm của cá nhân trong các giai đoạn được thế hiện trong bảng sau:
S
Tiêu dùng giai đoạn 2, C R
Tiêu dùng giai đoạn 1, C w Y
C 1 R
A Y(1+r)
Trang 10Bảng 2: Quyết định lựa chọn tiêu dùng theo thời gian khi có thuế
Nguồn: Tổng hợp từ giáo trình Tài chính Công và Phân tích chính sách thuế - Sử Đình Thành
và Bùi Thị Mai Hoài (2010)
Khi Chính phủ đánh thuế, đường ngân sách trở nên phẳng hơn, từ BC1 thành
BC2 Độ dốc đường giới hạn ngân sách giảm từ (1+r) thành [1+r(1-t)] Đường ngân sách phẳng hơn phản ánh giá cả giá cả tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất giảm đi: chi phí cơ hội của việc tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất giảm vì mỗi đồng tiết kiệm giờ đây mang lại ít tiêu dùng trong giai đoạn thứ hai
2.1.2 Phân tích chính sách thuế tác động đến hành vi tiết kiệm
2.1.2.1 Hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập của thuế đánh vào lãi tiết kiệm
Thuế đánh vào lãi tiết kiệm luôn gây ra hai hiệu ứng, hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập
Hiệu ứng thay thể xảy ra khi chính phủ đánh thuế vào lãi tiết kiệm, làm cho lãi thu được từ khoản tiết kiệm của cá nhân giảm xuống Một nhóm người tiêu dùng hiện tại sẽ thích tiêu dùng ở hiện tại hơn và do đó gia tăng mức tiêu dùng trong giai đoạn thứ nhất lên Điều này dẫn đến tiết kiệm giảm
Đồng thời, thuế đánh vào lãi tiết kiệm gây ra hiệu ứng giảm thu nhập trong giai đọng nghỉ hưu của cá nhân sụt giảm Cá nhân giờ đây trở nên nghèo hơn ở tất cả các mức tiết kiệm vì tiền lãi trên mỗi đồng tiết kiệm giảm đi Do vậy, một nhóm người tiêu dùng hiện tại sẽ có khuynh hướng điều chỉnh giảm mức tiêu dùng ở hiện CR Đây chính
là tác động của hiệu ứng thu nhập
2.1.2.2 Tác động thuế đến hành vi tiết kiệm
Bởi vì hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập diễn ra theo 2 hướng trái ngược nhau nên hiệu ứng ròng đánh thuế vào tiền lãi tiết kiệm có thể dẫn đến 3 trường hợp:
Trang 11-Trường hợp 1: Thuế không có tác động đến tiết kiệm Trường hợp này xảy ra khi tác
động của hiệu ứng thay thế bằng hiệu ứng thu nhập
-Trường hợp 2: Thuế làm tăng tiết kiệm Trường hợp này xảy ra khi tác động gây ra
bởi hiệu ứng thay thế lớn hơn hiệu ứng thu nhập
- Trường hợp 3: Thuế làm giảm tiết kiệm Trường hợp này xảy ra khi tác động của hiệu
ứng thay thế nhỏ hơn hiệu ứng thu nhập
Bảng 3: Tác động ròng giữa hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập
Trước đánh thuế
So sánh Sau đánh
thuế
Trước đánh thuế
So sánh Sau
đánh thuế Tiêu
C 1 W
S 1
Tiêu dùng giai đoạn 2, C R
Tiêu dùng giai đoạn 1, C w
C 1 W C 2 W
S 2
S 1
Tiêu dùng giai đoạn 2, C R
Tiêu dùng giai đoạn 1, C w
Y
Y(1+r )
Trang 12Nguồn: Tổng hợp từ giáo trình Tài chính Công và Phân tích chính sách thuế - Sử Đình Thành
và Bùi Thị Mai Hoài (2010)
2.1.3 Minh chứng lãi suất sau thuế tác động đến tiết kiệm:
Không giống như lý thuyết thực nghiệm về cung lao động, có ít sự đồng tình về tác động của thuế hay tác động của lãi suất đến các quyết định tiết kiệm
Các ước lượng về độ co giãn của tiết kiệm với lãi suất sau thuế nằm trong khoảng 0 (lãi suất thay đổi không tác động đến tiết kiệm - Hall,1988) đến 0,67 (lãi suất tiết kiệm tăng 10% làm tiết kiệm tăng 6,7% - Attanasio và Weber, 1995)
Nghiên cứu về mối liên hệ giữa lãi suất sau thuế và tiết kiệm là một vấn đề khó khăn Xác định một mức lãi suất hợp lý để áp dụng là không dễ dàng, bởi vì: chúng ta
có thể dễ dàng đo lường tiền lương của một công nhân nào đó nhưng rất khó để đo lường mức lãi suất thỏa đáng của một người tiết kiệm nào đó
Bên cạnh đó, lãi suất của bất kỳ dạng tiết kiệm nào cũng thay đổi theo thời gian với cách thức như nhau cho tất cả mọi người Ngoài ra, sự co giãn của tiết kiệm theo lãi suất sau thuế là tham số quyết định đối với các nhà phân tích chính sách và cần có những nghiên cứu thêm để xác định mức độ tác động của lãi suất đến tiết kiệm
2.1.4 Tác động của thuế đánh vào lãi tiết kiệm trong điều kiện có lạm phát
Khi một nền kinh tế phải đối mặt với lạm phát gia tăng nhưng cơ sở đánh thuế không thay đổi (dựa trên luật định và không thay đổi kịp theo biến động của lạm phát)
đã gây nhiều khó khăn cho cá nhân Thực tế này dẫn đến hiện tượng “Sự trườn lên ngưỡng đánh thuế (bracket creep)”, cá nhân có thể cảm nhận sự tăng lên của thuế
suất mặc dù thu nhập thực của họ không tăng Điều này có thể giải thích bằng việc cá nhân có khi tăng thu nhập danh nghĩa trong thời kỳ lạm phát cao thì phần tăng thêm cũng chỉ bù đắp phần lạm phát và sẽ phải nộp thuế nhiều hơn bởi vì phần nhiều hơn thu nhập của hị nằm trong ngưỡng chịu thuế cao hơn
Trang 13mà thu nhập tăng chỉ vừa đủ bù đắp tác động của lạm phát thì sẽ nộp thuế nhiều hơn vì phần nhiều hơn thu nhập của họ nằm trong ngưỡng chịu thuế cao hơn
Bảng 4: Ảnh hưởng của thuế đến thu nhập thực
trả
Thu nhập sau thuế
Nguồn: Tổng hợp từ giáo trình Tài chính Công và Phân tích chính sách thuế - Sử Đình Thành
và Bùi Thị Mai Hoài (2010)
năm đó, do vậy thu nhập thực (lượng hàng hóa mà người đó có thể thu được với thu nhập danh nghĩa) là không đổi
Thu nhập sau thuế chỉ tăng 7% trong khi đó giá cả tăng 11,3% Bởi vì cơ sở đánh thuế là cố định nên tiền lương tăng với mức quá nhỏ theo đà lạm phát
suất biên đặt trên cơ sở thu nhập thực, không phải trên cơ sở thu nhập danh nghĩa Tuy nhiên biện pháp này cũng chưa chắc loại trừ hoàn toàn tác động của lạm phát bởi vì quy định của thuế thu nhập trên vốn vẫn giữ không đổi Lãi suất nhận được từ tài khoản tiền gửi ngân hàng là lãi suất danh nghĩa, nhưng điều làm tăng sức mua là lãi suất thực Thay vì quan tâm tới việc nhận được bao nhiêu tiền trong năm tới, cá nhân
sẽ quan tâm tới việc mua được bao nhiêu hàng hóa trong năm tới Điều này sẽ được minh chứng qua ví dụ sau:
Lãi suất thực (r) = Lãi suất danh nghĩa (i) – tỷ lệ lạm phát
Trang 14Bảng 5: Thuế đánh vào lãi tiết kiệm trong môi trường lạm phát
Tiết kiệm
Lãi suất danh nghĩa
Tiền lãi
Tổng nguồn lực sau thuế
Giá mỗi túi không khí
Số lượng túi không khí Không
Nguồn: Tổng hợp từ giáo trình Tài chính Công và Phân tích chính sách thuế - Sử Đình Thành
và Bùi Thị Mai Hoài (2010)
* Trong điều kiện không có lạm phát
- Không có thuế , kiếm được 10 $ tiền lãi, tổng thu nhập gốc + lãi có được sẽ mua được số túi xách là 110
- Với đánh thuế 50% , tiền lãi chỉ còn 5$, chỉ mua 105 túi xách
thì sức mua thực của người tiêu dùng (số lượng hàng hóa tiêu dùng) giảm 4,54%
* Trong điều kiện có lạm phát
- Với lạm phát nhưng không có đánh thuế , cũng với 10$ tiền lời kiếm được mua được 100 túi xách
- Với lạm phát và thuế , với cùng mức thuế suất đánh vào lãi tiết kiệm 50% (giống khi không có lạm phát thì chỉ mua được 95,5
Trang 15Như vậy, trong điều kiện có lạm phát, lạm phát sẽ làm giảm sức mua của thu nhập có được từ tiết kiệm, đồng thời việc đánh thuế vào tiền lời danh nghĩa tiếp tục làm giảm sức mua của khoản thu nhập này
* Trong trường hợp cố định lãi suất thực: với điều kiện tỷ lệ lạm phát 10%, ngân hàng sẽ trả lãi suất danh nghĩa 21% để giữ lãi suất thực 10%, mức sinh lời khi chưa có thuế tiền lãi (121$/1,1$=110 túi khí) Do đó, nếu ngân hàng tăng lãi suất danh nghĩa để
bù đắp hoàn toàn lạm phát, khi không có thuế, lạm phát sẽ không xói mòn sức mua của tiết kiệm
Robin kiếm được 21$ tiễn lãi, cô ta trả thuế 10,5$, cô ta chỉ có thể mua 100,5 túi khí, số này thấp hơn so với mức mà cô ta có thể mua với thu nhập sau thuế khi không
có lạm phát (105 túi ở dòng 2)
Như vậy, khi thuế đánh vào tiền lời danh nghĩa, không thể hoàn toàn bù đắp lạm phát bằng cách tăng lãi suất danh nghĩa lên để cố định lãi suất thực Vì vậy, trong điều kiện có lạm phát, ngay cả khi lãi suất thực được cố định thì ảnh hưởng của thuế đánh vào lãi tiết kiệm vẫn làm sụt giảm thu nhập thực của cá nhân
2.2 Mô hình tiết kiệm khác
Trong phần trên, chúng ta đã thấy rõ động cơ tiết kiệm chỉ là mong muốn ổn định tiêu dùng theo thời gian Phần này, chúng ta xem một số dẫn chứng các mô hình khác với các giả định trên trong thực tế hiện nay
2.2.1 Mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro
Ở Việt Nam hay ở nước ngoài, khi được hỏi về lý do tiết kiệm, câu trả lời nhận được nhiều nhất, bên cạnh việc tiết kiệm cho thời gian hưu trí, là việc để dành cho những “tình huống khẩn cấp”, như khi mất việc làm hay gặp vấn đề về sức khỏe Kết
quả này dẫn đến hình thành mô hình tiết kiệm phòng ngừa rủi ro Một yếu tố khác xác
định tiết kiệm chính là họ muốn sử dụng tiết kiệm để bảo hiểm cho những cú sốc bất lợi về tài chính Cũng giống như việc sử dụng tiết kiệm để ổn định tiêu dùng theo thời gian, tiết kiệm cũng có thể được sử dụng để ổn định tiêu dùng trước sự thay đổi của thế giới hiện thực
*Giả định của mô hình:
Trang 16Trong mô hình này, cá nhân phải đối mặt với những rủi ro từ những cú sốc bệnh tật (ví dụ như một cơn đau tim), thất nghiệp, ly dị Mô hình này giả định rằng cá nhân không có khả năng vay mượn nếu họ gặp phải những cú sốc vì họ phải đối mặt với giới hạn thanh khoản (liquidity constrians), những rào cản khi vay mượn Giới hạn thanh khoản có thể do bởi ngân hàng không muốn cho vay với khách hàng đang bệnh nặng hay là những khách hàng vừa mới mất việc làm Kết quả là cá nhân phải tự mình
để dành từ việc tiết kiệm phòng khi những cú sốc bất lợi xảy ra, do vậy cá nhân có thể
ổn định tiêu dùng trong cuộc sống của mình
*Minh chứng về mô hình phòng ngừa rủi ro
Một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm kiểm định mô hình phòng ngừa rủi
ro, kết quả cho thấy khi sự bất trắc tăng lên sẽ dẫn đến tiết kiệm tăng, sự bất trắc giảm
đi sẽ làm cho tiết kiệm giảm Một số nghiên cứu khác lại cho thấy việc mở rộng các chương trình bảo hiểm xã hội nhằm làm giảm sự bất định thu nhập cũng sẽ làm giảm tiết kiệm, và kết quả nhận được là phù hợp với quan điểm cho rằng tiết kiệm có động
cơ từ việc phòng ngừa rủi ro
Ở Việt Nam chúng ta dễ dàng thấy được việc nhiều gia đình có thói quen dự trữ tiền mặt tại gia đình hơn là mang đi đầu tư hay gửi ngân hàng Đó cũng là do dịch vụ
từ hệ thống ngân hàng chưa được rộng rãi, chưa được thuận tiện cho việc rút tiền, nhất
là ở các vùng nông thôn Các rủi ro trong xã hội còn cao, chất lượng từ các dịch vụ công cộng còn yếu như y tế, giáo dục, giao thông ví dụ như chúng ta thường xuyên rút tiền rất nhiều vào dịp lễ, Tết dù rằng chi tiêu không sử dụng hết số tiền đó vì các máy ATM thường xuyên hết tiền, ngân hàng đóng cửa không hoạt động, hay đi ra ngoại thành khó tìm được nơi rút tiền,
2.2.2 Mô hình tự kiểm soát
Trong mô hình này yếu tố chủ yếu để xác định hành vi tiết kiệm là khả năng của
cá nhân trong việc tìm ra cách thức tự mình tiết kiệm để dành thu nhập ngoài phạm vi
“tự thõa mãn trong ngắn hạn” Những cá nhân có sở thích dài hạn đảm bảo có đủ tiết kiệm để bằng phẳng hóa tiêu dùng trong suốt cuộc sống, nhưng nếu có sở thích ngắn hạn có thểdẫn đến tiêu dùng hết thu nhập và không tiết kiệm trong tương lai
Trang 17* Giả định của mô hình: cá nhân sẽ phải đối mật với sự mâu thuẫn giữa sự ưa
thích có hại trong ngắn hạn và sự ưa thích có lợi trong dài hạn
* Minh chứng vê mô hình
Mỗi cá nhân với vấn đề tự kiểm soát phải cần đến những công cụ có thể tin tưởng để giúp họ tự kiểm soát Các công cụ này cũng phổ biến trong khía cạnh tiết kiệm Ví dụ: Quỹ hưu trí 401(k) là một hình thức bù đắp công lao của người lao động khi chủ hãng mở một quỹ hưu mang tên người lao động và đều đặn bỏ vào quỹ một phần lương chưa đóng thuế của người này Với chương trình trợ giúp hưu trí 401(k), người công nhân không phải đóng thuế tạm thu trên phần lương bỏ vào quỹ vì số tiền này không ghi trên bảng lương, nhưng họ phải đóng thuế An Sinh Xã Hội (FICA) và Y
Tế trên nguồn lợi tức trích bỏ vào quỹ hưu 401 (k)
Minh chứng khác là việc tích lũy tài sản ở Mỹ, cá nhân có tiết kiệm đáng kể ở những dạng rất khó tiếp cận (các tài khoản mua nhà hay quỹ hưu trí) nhưng lại tiết kiệm rất ít ở các dạng dễ tiếp cận hơn, như ỏ tài khoản phát hành Séc
Minh chứng thuyết phục về mô hình tự kiếm soát là thử nghiệm của Thaler & Benartzi (2004): “hãy tiết kiệm cho tưong lai nhiều hơn” (Save Morc Tomorrovv) Người lao động được quyền chọn lựa tiết kiệm theo cam kết dành một phần thu nhập tăng thêm trong tương lai cho tiết kiệm hưu trí trước khi tiền lương được trả tăng lên 2.3 Chính sách khuyến khích của thuế đối với tiết kiệm hưu trí (chính sách ưu đãi thuế đối với tiết kiệm)
Trong phần này chúng ta sẽ thảo luận về cấu trúc và tác động của những biện pháp ưu đãi thuế
Đối tượng áp dụng của chính sách:
Quỹ tiền hưu - là một trong những khoản phúc lợi lớn nhất mà người sử dụng lao động dành cho người lao động Quỹ tiền hưu trí là khoản phúc lợi mang tính đóng góp, trong đó người sử dụng lao động sẽ đóng góp một phần trên cơ sở thu nhập của người lao động vào một tài khoản đầu tư và người lao động sẽ nhận được tiền tiết kiệm này từ lợi nhuận của tài khoản đầu tư khi họ về hưu
Tất cả tiền lãi phát sinh từ sự tích lũy các khoản tiết kiệm hưu trí đều không phải