MỞ ĐẦU Chính sách là một trong những sản phẩm của quá trình quản lý, nên khi quyết định chính sách chủ thể quản lý cũng phải phân tích đầy đủ những dữ liệu liên quan đến chính sách. Nó mang ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, khoa học và thực tiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi ích của nhà nước. Do mục tiêu của chính sách công tác động đến nhiều đối tượng và ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động của tổ chức nên chủ thể phải xem xét, cân nhắc thật kỹ mọi mặt trước khi ra quyết định. Sau khi ban hành, chính sách công trở thành một công cụ quản lý nên các chủ thể cần phải giám sát chặt chẽ tác dụng của chính sách công để sử dụng có hiệu quả loại công cụ đặc biệt này. Muốn duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách công, các chủ thể cần thường xuyên xem xét về khả năng truyền dẫn ý chí quản lý đến các đối tượng tác động. Khi phân tích chính sách công cần bám sát vào kết quả đánh giá về khả năng tạo động lực, điều tiết các quá trình vận động của chính sách công, về tạo dựng và cùng cố mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng thụ hưởng chính sách công. Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật, mặc dù nhiều khi dưới dạng ẩn. Phân tích chính sách trong quá trình làm luật là một công đoạn hữu cơ, gắn kết trong quá trình đó một cách khoa học, dựa trên các nhóm mục tiêu, cách tiếp cận, các tiêu chí đánh giá, nguồn lực và công cụ bảo đảm thực hiện, sự thống nhất tác động phối hợp của các chính sách khác và dựa trên hoàn cảnh thực tế của các đối tượng điều chỉnh của chính sách nhằm tới. Bởi lẽ, pháp luật là hình thức thể hiện của chính sách công, cho nên, việc phân tích chính sách nhằm đảm bảo rằng, pháp luật được ban hành ra sẽ tuân thủ các nguyên tắc căn bản của việc thiết kế chính sách công là: vì lợi ích công cộng; bắt buộc thi hành; có hệ thống; tập hợp các quyết định; liên đới; kế thừa lịch sử; quyết định theo đa số. Về lý thuyết, có thể phân biệt giữa chính sách và pháp luật, giữa hoạt động xây dựng chính sách và soạn thảo luật. Nói một cách đơn giản, chính sách là nội dung, còn văn bản luật là vỏ bọc chứa đựng chính sách đó dưới dạng ngôn ngữ và hình thức pháp lý. Xây dựng chính sách là quá trình quyết định điều gì cần đạt được, cần làm gì để đạt được điều đó, làm thế nào, ai làm. Ví dụ, sau khi có quyết sách thực thi những biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, việc xây dựng chính sách sẽ bao gồm phân tích những nguyên nhân gây tai nạn; phân bố tai nạn trên các loại đường, trong các tầng lớp dân cư; những quy định đang có hiệu lực; kinh nghiệm của các nước khác… Tiếp đó, có thể phát triển một số phương án giảm thiểu tai nạn như giảm tốc độ, thực thi tốt hơn các quy định hiện có, điều kiện cấp giấy phép ngặt nghèo hơn, tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời, cần phân tích chi phí và lợi ích của từng phương án, trình các phương án để chính phủ quyết định. Tất cả những bước này là xây dựng chính sách. Sau khi đã quyết định lựa chọn phương án, có thể bắt đầu soạn thảo luật về phương án đó trong khuôn khổ pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi không dễ phân biệt hai hoạt động này. Do đó, trước khi soạn thảo cần PTCS, nhưng không nhất thiết phải phân chia quá rạch ròi thành hai bước tiếp nhau. Phân tích chính sách trong quá trình làm luật là hoạt động cần thiết vì để pháp luật có được tính thực tiễn, khả thi, cũng như dễ được chấp nhận, nó phải được bàn luận bởi đa số công chúng. Chân lý không phải lúc nào cũng thuộc về đa số, nhưng hầu hết các trường hợp nó nằm ở đa số. Hơn nữa, pháp luật, như trên đã nói, ban hành cho đa số. Trong khi đó, công đoạn PTCS lại đòi hỏi tham vấn ý kiến của công chúng, cho nên nó đáp ứng nguyên tắc quyết định bởi đa số. Ở các nước đang ở thời kỳ chuyển đổi, những bất cập trong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật cũng cho thấy sự cần thiết của phân tích chính sách . Một trong những thách lớn nhất đối với các nước châu Âu chuyển đổi là phải xây dựng những nguyên tắc, thiết chế và quy trình của quản trị quốc gia tốt, trong đó có việc xây dựng một quy trình hoạch định chính sách chuyên nghiệp dựa trên những nguyên tắc hiệu quả, hiệu năng, công khai, minh bạch. Vì vậy, em chọn vấn đề: “Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước và liên hệ với chính sách công của Việt Nam” làm đề tài tiểu luận cho học phần Chính sách công.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TRONG QUY TRÌNH LẬP PHÁP Ở CÁC NƯỚC VÀ LIÊN HỆ VỚI CHÍNH SÁCH CÔNG CỦA VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH 4
1.1 Phương pháp luận của phân tích chính sách 4
1.2 Các bước phân tích chính sách 6
1.2.1 Nhận biết vấn đề 6
1.2.2 Tìm nguyên nhân của vấn đề 8
1.2.3 Đặt ra mục tiêu và tìm giải pháp 9
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH CÔNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRỀN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 12
2.1 Tình hình chính sách công ở các quốc gia trên thế giới 12
2.2 Tình hình chính sách công ở Việt Nam hiện nay 13
2.3 Những ưu điểm, hạn chế và giải pháp khắc phục trong công tác hoạch định chính sách công ở Việt Nam hiện nay 14
2.3.1 Ưu điểm 14
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 16
2.3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạch định chính sách công ở Việt Nam 21
KẾT LUẬN 24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3MỞ ĐẦU
Chính sách là một trong những sản phẩm của quá trình quản lý, nên khiquyết định chính sách chủ thể quản lý cũng phải phân tích đầy đủ những dữliệu liên quan đến chính sách Nó mang ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý,khoa học và thực tiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí,quan điểm, thái độ, cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợiích của nhà nước
Do mục tiêu của chính sách công tác động đến nhiều đối tượng và ảnhhưởng lâu dài đến hoạt động của tổ chức nên chủ thể phải xem xét, cân nhắcthật kỹ mọi mặt trước khi ra quyết định Sau khi ban hành, chính sách côngtrở thành một công cụ quản lý nên các chủ thể cần phải giám sát chặt chẽ tácdụng của chính sách công để sử dụng có hiệu quả loại công cụ đặc biệt này.Muốn duy trì sự tồn tại của công cụ chính sách công, các chủ thể cần thườngxuyên xem xét về khả năng truyền dẫn ý chí quản lý đến các đối tượng tácđộng Khi phân tích chính sách công cần bám sát vào kết quả đánh giá về khảnăng tạo động lực, điều tiết các quá trình vận động của chính sách công, vềtạo dựng và cùng cố mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng thụ hưởng chínhsách công
Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật, mặc
dù nhiều khi dưới dạng ẩn Phân tích chính sách trong quá trình làm luật làmột công đoạn hữu cơ, gắn kết trong quá trình đó một cách khoa học, dựatrên các nhóm mục tiêu, cách tiếp cận, các tiêu chí đánh giá, nguồn lực vàcông cụ bảo đảm thực hiện, sự thống nhất tác động phối hợp của các chínhsách khác và dựa trên hoàn cảnh thực tế của các đối tượng điều chỉnh củachính sách nhằm tới Bởi lẽ, pháp luật là hình thức thể hiện của chính sáchcông, cho nên, việc phân tích chính sách nhằm đảm bảo rằng, pháp luật đượcban hành ra sẽ tuân thủ các nguyên tắc căn bản của việc thiết kế chính sáchcông là: vì lợi ích công cộng; bắt buộc thi hành; có hệ thống; tập hợp cácquyết định; liên đới; kế thừa lịch sử; quyết định theo đa số
Trang 4Về lý thuyết, có thể phân biệt giữa chính sách và pháp luật, giữa hoạtđộng xây dựng chính sách và soạn thảo luật Nói một cách đơn giản, chínhsách là nội dung, còn văn bản luật là vỏ bọc chứa đựng chính sách đó dướidạng ngôn ngữ và hình thức pháp lý Xây dựng chính sách là quá trình quyếtđịnh điều gì cần đạt được, cần làm gì để đạt được điều đó, làm thế nào, ai làm.
Ví dụ, sau khi có quyết sách thực thi những biện pháp giảm thiểu tai nạn giaothông, việc xây dựng chính sách sẽ bao gồm phân tích những nguyên nhângây tai nạn; phân bố tai nạn trên các loại đường, trong các tầng lớp dân cư;những quy định đang có hiệu lực; kinh nghiệm của các nước khác… Tiếp đó,
có thể phát triển một số phương án giảm thiểu tai nạn như giảm tốc độ, thựcthi tốt hơn các quy định hiện có, điều kiện cấp giấy phép ngặt nghèo hơn,tuyên truyền, giáo dục Đồng thời, cần phân tích chi phí và lợi ích của từngphương án, trình các phương án để chính phủ quyết định Tất cả những bướcnày là xây dựng chính sách Sau khi đã quyết định lựa chọn phương án, có thểbắt đầu soạn thảo luật về phương án đó trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi không dễ phân biệt hai hoạt động này Do
đó, trước khi soạn thảo cần PTCS, nhưng không nhất thiết phải phân chia quárạch ròi thành hai bước tiếp nhau
Phân tích chính sách trong quá trình làm luật là hoạt động cần thiết vì
để pháp luật có được tính thực tiễn, khả thi, cũng như dễ được chấp nhận, nóphải được bàn luận bởi đa số công chúng Chân lý không phải lúc nào cũngthuộc về đa số, nhưng hầu hết các trường hợp nó nằm ở đa số Hơn nữa, phápluật, như trên đã nói, ban hành cho đa số Trong khi đó, công đoạn PTCS lạiđòi hỏi tham vấn ý kiến của công chúng, cho nên nó đáp ứng nguyên tắcquyết định bởi đa số Ở các nước đang ở thời kỳ chuyển đổi, những bất cậptrong quá trình xây dựng chính sách và pháp luật cũng cho thấy sự cần thiếtcủa phân tích chính sách Một trong những thách lớn nhất đối với các nướcchâu Âu chuyển đổi là phải xây dựng những nguyên tắc, thiết chế và quy trìnhcủa quản trị quốc gia tốt, trong đó có việc xây dựng một quy trình hoạch định
Trang 5chính sách chuyên nghiệp dựa trên những nguyên tắc hiệu quả, hiệu năng,
công khai, minh bạch Vì vậy, em chọn vấn đề: “Phân tích chính sách trong quy trình lập pháp ở các nước và liên hệ với chính sách công của Việt Nam” làm đề tài tiểu luận cho học phần Chính sách công.
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH 1.1 Phương pháp luận của phân tích chính sách
Ở nhiều nước, phương pháp luận của phân tích chính sách bao gồm cácyếu tố sau:
Thứ nhất, cần cân nhắc sự cần thiết của việc ban hành văn bản pháp
luật Bản thân pháp luật là một công cụ chính sách phức tạp, thể hiện chínhsách của chính phủ Việc sử dụng pháp luật để phản ứng về mặt chính sáchtrước những vấn đề đang xảy ra đã đặt gánh nặng chứng minh sự cần thiết củaquy định mới lên vai chính phủ: chính phủ phải chứng minh rằng, vấn đềđang xảy ra, cần giải quyết vấn đề đó, và quy định pháp luật mới sẽ giải quyếtvấn đề đó một cách hiệu quả Chỉ khi chứng minh được điều này bằng cáchphân tích chính sách, đạo luật mới có thể ra đời; nếu không, có thể dùng cácbiện pháp không phải là luật
Thứ hai, phân tích chính sách cần tính đến nguồn lực tài chính để thực
thi chính sách, pháp luật Cơ quan phân tích chính sách cần đánh giá xem, dựluật có phù hợp với điều kiện tài chính hiện có hay không, những nguồn bổsung nào có thể huy động, trong giới hạn về tài chính đó, giải pháp nào làhiệu quả nhất Cần rà soát các đề xuất lập pháp của các bộ với những ưu tiêntrong chương trình nghị sự của chính phủ, loại bỏ những đề xuất nào khôngđem lại nhiều đóng góp cho những ưu tiên đó và tiết kiệm được một khoảndành cho các đề xuất khác
Thứ ba, phân tích chính sách cần tiến hành một cách minh bạch, có sự
tham vấn rộng rãi công chúng, các bộ ngành liên quan Các dữ liệu, thông tinthu thập được cần được công bố rộng rãi, kịp thời Quá trình phân tích chínhsách cần được công khai, minh bạch Công chúng, các uỷ ban của nghị viện
có điều kiện tiếp cận các tài liệu phân tích chính sách Bên cạnh đó, công dânphải có quyền bày tỏ ý kiến về những rủi ro do văn bản gây ra và ý kiến đóphải được tính đến trong quá trình phân tích chính sách Cuối cùng, toà án cần
Trang 7có điều kiện để đảm bảo rằng, việc phân tích chính sách không vượt quákhuôn khổ đã được cho phép
Thứ tư, quá trình phân tích chính sách khi ban hành pháp luật cần có
những yếu tố sau: thực trạng các quy định pháp luật liên quan hiện hành,những vướng mắc chính của chúng trong việc giải quyết vấn đề mà cuộc sốngđặt ra, những kết quả mà các quy định đó đã mang lại; lý do tại sao phải banhành quy định mới, các mục tiêu của chúng; những kết quả dự tính do quyđịnh mới sẽ mang lại (đánh giá tác động về mặt kinh tế, xã hội, môi trường,chi phí và lợi ích tổng thể); dự liệu việc thực thi, bao gồm nguồn lực conngười và nguồn lực tài chính, thời điểm bắt đầu, những công việc cần làm;những vấn đề có thể xuất hiện trong quá trình thực thi
Thứ năm, trong quá trình phân tích để ra quyết định chính sách, người
phân tích chính sách phải đưa ra những tiêu chí để đánh giá trong quá trìnhthực hiện "Tiêu chí đánh giá" là hệ thống các tiêu chí đo lường mục tiêu củamột chính sách từ khi chính sách này được ban hành nhằm đạt các mục tiêu
nó đưa ra Tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của một quyết sách thường phải trảlời câu hỏi: chính sách này có cần thiết hay không; tại sao; nhằm đạt nhữngmục đích điều chỉnh nào; sau khi ban hành nó sẽ tác động thuận tới mục đíchnhư thế nào (cơ chế tác động chung và chế độ áp dụng đối với chủ thể đặcbiệt) và để thực hiện chính sách này, cách thức và nguồn lực nào được huyđộng (mệnh lệnh hành chính, cơ chế thuế hay nguồn lực xã hội) Như vậy,tiêu chí của một quyết sách phải rõ ràng ngay từ khi cơ quan quản lý đệ trình
dự án luật hoặc một sáng kiến pháp luật
Thứ sáu, về mặt phương pháp luận, kinh nghiệm các nước cho thấy,
cần coi đây là phương tiện hỗ trợ cho quá trình ban hành chính sách, chứkhông phải là mục đích của nó Muốn vậy, việc phân tích chính sách cần tậptrung vào những vấn đề do các nhà hoạch định chính sách đã đề ra, chứ khôngphải vào những vấn đề do chuyên gia xác định Không nên quá chú trọng đếnphân tích kỹ thuật; cần nêu rõ những giá trị mà việc phân tích chính sách
Trang 8không thể bao trùm, những đối tượng cần chú trọng hơn, những biến thể tronghành vi của cá nhân, xã hội có thể xảy ra
Chính sách được hình thành và thực thi trong một chu trình, khởi đầubằng quyết sách lớn; tiếp đó là việc xây dựng chính sách cụ thể để xác địnhnhững phương án ban hành dưới hình thức thể hiện thích hợp; sau khi đượcban hành, chính sách được thực thi và đánh giá nhằm tiếp tục hoàn thiện.Trong chu trình đó, việc phân tích chính sách đối với dự luật nằm ở khâu thứhai – xây dựng chính sách
Ở giai đoạn xây dựng dự thảo chính sách gồm các bước sau: Xác địnhnhững vấn đề cần được giải quyết hoặc cải tiến bằng chính sách; xác lậpnhững mục tiêu cụ thể cả về định lượng và định tính của chính sách đó; dự trùnhững phương án để đạt các mục tiêu đó; đánh giá những tác động của cácphương án đó; tham vấn với các bộ để giải quyết những vấn đề đa lĩnh vực;tham vấn với xã hội dân sự; kiến nghị với Bộ trưởng chọn phương án phù hợpnhất, trình Chính phủ phê duyệt chính sách để soạn thảo dự luật Đây là mộtquá trình phức tạp, đòi hỏi những kiến thức, kỹ năng đa ngành như kinh tế, xãhội, tài chính, luật Thông thường, nếu không đủ nguồn lực nội tại, các bộ cóthể ký hợp đồng với các tổ chức bên ngoài
Trang 9thể hiện trực tiếp, mà nó ẩn đàng sau hiện trạng, và người làm chính sách,người làm luật cần phải nhận diện nhu cầu đó.
Bên cạnh điều kiện cần là hiện trạng mang tính số đông, cần xác địnhnhững điều kiện đủ để nhận diện nhu cầu điều chỉnh bằng chính sách, phápluật đối với một vấn đề Các điều kiện đó là:
Thứ nhất, khi hiện trạng đã tới mức độ khiến công chúng rất lo ngại,
thậm chí có hành động phản ứng cụ thể, chẳng hạn, lương quá thấp khiếncông nhân đình công trên diện rộng
Thứ hai, vấn đề hay nhu cầu được đại chúng hoá, chẳng hạn, một cuốn
sách đánh động về tình trạng đói nghèo đã dẫn đến sức ép của đông đảo côngchúng đòi hỏi chính phủ phải làm gì đó, khiến chính phủ phải phát động cuộcchiến chống đói nghèo, ban hành một loạt chính sách, văn bản liên quan đếnvấn đề này
Thứ ba, vấn đề thực sự nghiêm trọng, thách thức tính ổn định của hệ
thống, nền tảng giá trị đang tồn tại, tính toàn vẹn và an ninh của cộng đồng
Thứ tư, hiện trạng có tính liên đới Ví dụ, nhiễm độc chì xảy ra riêng lẻ
nếu xảy ra ở từng nhóm công nhân, bản thân họ không phản ứng, nó rất dễ bịquên lãng Nhưng nếu nhà làm chính sách có con mắt tinh đời có thể nhậnthấy mối liên hệ giữa hiện trạng riêng lẻ đó với tình trạng không đảm bảo điềukiện vệ sinh, an toàn lao động ở nhiều cơ sở sản xuất, từ đó có những biệnpháp điều chỉnh thích ứng
Trước năm 1952, ngành khai thác mỏ ở Mỹ có nhiều tai nạn và bệnhnghề nghiệp nhất, nhưng không mấy ai quan tâm Luật An toàn trong khaikhoáng năm 1952 và cơ quan thi hành Luật là Uỷ ban Khoáng sản quốc giachịu ảnh hưởng khá nặng từ các nhóm lợi ích của các ông chủ hầm mỏ Do
đó, trong gần hai thập niên, công nhân mỏ vẫn phải làm việc trong điều kiệnthiếu an toàn và vệ sinh Nhưng vào ngày 20/11/1968, một vụ nổ hầm mỏ xảy
ra ở tiểu bang Virginia, 79 công nhân đã chết ngạt trong lòng đất trước khiđược cứu hộ Cái giá quá đắt này gây chấn động nước Mỹ Ngay lập tức, mộtloạt câu hỏi về trách nhiệm của chính quyền được đặt ra một cách gay gắt
Trang 10Sau đó bốn tháng, 3/1969, Hội đồng Lập pháp tiểu bang Virginia đã ban hànhchính sách về an toàn khai khoáng và chống bệnh nám phổi nghề nghiệp.Tháng Tư cùng năm, Tổng thống Nixon gửi Dự thảo sửa đổi Luật An toànkhai khoáng đến Quốc hội Tháng Mười năm đó, Hạ viện thông qua với chỉ 4phiếu phản đối; vài tuần sau Thượng viện thông qua mà không có phiếuchống Chính sách lập pháp được thông qua một cách nhanh chóng và nhất trícao hiếm thấy
Trong bước định vị vấn đề, cơ quan phân tích chính sách phải tìm hiểuphạm vi tác động của vấn đề, đối tượng chịu ảnh hưởng, hình thức chịu ảnhhưởng, nội dung ảnh hưởng, thời gian, không gian ảnh hưởng của vấn đề, tần
số, cường độ của ảnh hưởng, số lượng các thay đổi xã hội do vấn đề này Nếukhông xác định được những thông số này, nhiều khi vấn đề nhỏ lại trở thànhrối, hoặc áp cho nó giải pháp quá to tát không cần thiết, vừa tốn kém, vừakhông mang lại kết quả Quá trình định vị có thể bắt đầu với những nghi vấnnhư: tại sao vấn đề lại rơi vào môi trường này; khu vực nào chịu ảnh hưởng,khu vực nào không, tại sao; khu biệt vấn đề này với các sự kiện khác ra sao;vấn đề sẽ kéo dài trong bao lâu nếu không có giải pháp; ảnh hưởng của nó đếnmức nào nếu chậm trễ giải quyết; có bao nhiêu thời gian để nghiên cứu giảipháp Nếu không ra đời kịp thời, giải pháp sẽ không phát huy hiệu quả
1.2.2 Tìm nguyên nhân của vấn đề
Một vấn đề thường là do nhiều nguyên nhân Những cuộc khảo sát ởcác nước cho thấy, để tìm ra nguyên nhân của vấn đề, cần có những hoạt độngcông phu, theo những cách thức chuẩn, với sự tham gia của nhiều người,nhiều cơ quan
Công việc thu thập thông tin có thể được tiến hành qua phỏng vấn vàghi âm, ghi hình trực tiếp hàng loạt đối tượng ngẫu nhiên tại thực địa; gửi thư;gửi bảng câu hỏi đến từng cá nhân; qua điện thoại có ghi âm; tập trung ngườidân tại nơi công cộng để hỏi đáp; phát phiếu điều tra nơi đông người; quaemail
Trang 11Sau khi thu thập, tiếp theo là bước lọc thông tin, vì không phải mọithông tin đều dùng được Phải tổng hợp nó, phân loại, rà soát những điểmgiống và khác nhau, loại bỏ những thông tin không có giá trị Chọn nhữngđiểm giống có tính đa số để làm dữ liệu cơ sở, lưu trữ những dữ liệu thiểu sốnhưng mang tính đặc biệt để đối chiếu sau này, khi dữ liệu cơ sở có vấn đề.Tính khách quan và trung thực khi lọc thông tin là điều đặc biệt quan trọng.Nếu người xử lý thông tin chịu ảnh hưởng của thế lực nào đó, dấu thông tinhoặc làm sai lệch thông tin thì người quyết định chính sách sẽ cho ra nhữngquyết định sai, lợi ích của người được khảo sát không được đáp ứng Do đó,kết quả khảo sát, nghiên cứu cần được công bố công khai, những ai có nhucầu đều có quyền xem phiếu điều tra gốc
Các nguyên nhân của vấn đề dưới cách nhìn của một chuyên gia phântích chính sách có thể khác với cách nhìn của một phóng viên, chuyên giathống kê, điều tra xã hội học, người dân Chẳng hạn, cùng một vấn đề nhiềungười sống dưới mức nghèo, chuyên gia phân tích chính sách có thể nhìn ranhững câu chuyện khác như giải quyết công ăn việc làm, phổ cập giáo dục,dạy nghề miễn phí để tăng cường khả năng kiếm việc, tự vươn lên một cáchcăn bản cho người nghèo
1.2.3 Đặt ra mục tiêu và tìm giải pháp
Sau khi đã xác định được nguyên nhân của vấn đề, bước này nhằm tìm
ra phương thức thích hợp nhất để khắc phục các nguyên nhân đó, đặt ra cácmục tiêu cụ thể, khả thi nhằm giải quyết vấn đề
Từ những nguyên nhân đã được định vị ở bước trước, các mục tiêuhướng đến xử lý những nguyên nhân đó Điều quan trọng nhất là cơ quanphân tích chính sách phải chỉ cho được đâu là mục tiêu chính, đâu là mục tiêuphụ khi giải quyết vấn đề Xác định mục tiêu càng rõ thì giải pháp càng chínhxác Do đó, mục tiêu càng được lượng hoá, càng trọng tâm, càng tinh, càngtốt Phải đặt ra được những mục tiêu và kết quả cụ thể
Trang 12Từ mục tiêu đề ra dẫn đến việc trù liệu và xây dựng các giải pháp cóthể phù hợp Việc chọn lựa giải pháp trong kịch bản của nghị viện hoặc ngườiđứng đầu hành pháp về sau có đúng hay không tuỳ thuộc vào mức độ hợp lý
và chính xác của bước đề xuất chọn lựa giải pháp này Việc tìm kiếm giảipháp cho mục tiêu đề ra bao giờ cũng bắt đầu bằng so sánh hiện trạng vớikinh nghiệm, lý thuyết đã được tổng kết cộng với thông tin đã thu thập được
ở đây có các phương án sau: một là, mục tiêu vừa có thông tin đầy đủ, vừa có
lý thuyết đã được tổng kết thì dễ suy ra giải pháp hơn Nhưng lưu ý rằng, cầnđiều chỉnh những thói quen thành nếp đi kèm với những quy định, chính sáchđang tồn tại Hai là, đã có thông tin đầy đủ, nhưng chưa có lý thuyết để ứngdụng thì kinh nghiệm, tiền lệ là cơ sở để đưa ra giải pháp Tuy nhiên, cầntránh cứng nhắc khi vận dụng kinh nghiệm hoặc vận dụng bừa bãi, khôngchọn lọc, có thể làm cho cái sai chồng lên cái sai Ba là, đã có lý thuyết tổngkết, nhưng thông tin không đầy đủ so với lý thuyết yêu cầu Lúc này, khôngnên máy móc áp dụng lý thuyết; cần có những giải pháp gọn nhẹ, thích ứngcao, có thể điều chỉnh nhanh; bổ sung thông tin, khi có bằng chứng xác thực
về sự thay đổi của hoàn cảnh, không ngần ngại điều chỉnh giải pháp Bốn là,khi thiếu cả thông tin, thiếu lý thuyết, lại không có tiền lệ, cần có những giảipháp với khả năng thích ứng cao, có thể điều chỉnh dễ dàng, chi phí thấp
Có thể gộp các giải pháp thành năm nhóm: thông tin (ví dụ, thông tinquy hoạch đất); nâng cao năng lực của các bên liên quan để họ có thể làmnhững việc đạt được mục đích của chính sách (ví dụ, nâng cao năng lực củacán bộ địa chính); các công cụ kinh tế như thuế, phí, chi tiêu công; các biệnpháp về tổ chức (ví dụ, bảo đảm sự độc lập của toà án; hoặc xã hội hoá dịch
vụ công trong lĩnh vực đất đai); các quy phạm xã hội (tục lệ, đạo đức); cácbiện pháp hành chính (ví dụ, sửa đổi thủ tục thương thuyết đền bù của chínhquyền); quy định pháp luật (ví dụ, bổ sung các quy định về thủ tục công khai
và thời điểm ấn định mức giải tỏa, đền bù)
Trang 13Các nhóm giải pháp này không đứng tách biệt, mà có mối quan hệ vớinhau và bổ sung cho nhau Cần cân nhắc để lựa chọn các giải pháp đã nêu ra
để đề xuất giải pháp Giải pháp làm luật chưa chắc đã tốt nhất, mà thường làtốn kém nhất Có thể tham khảo giải pháp tương tự của nước ngoài, nhưngkhông nên máy móc sao chép Khi tìm kiếm giải pháp, cần tính đến nhữngthay đổi trong tương lai của dân số, kinh tế, công nghệ và những rủi ro kèmtheo những thay đổi đó Đặc biệt, phương án giữ nguyên trạng thường đượcnhấn mạnh khi cân nhắc giải pháp Câu hỏi cần giải đáp là: điều gì sẽ xảy ranếu chính phủ không có biện pháp can thiệp thêm?
Để đề xuất cấp có thẩm quyền chọn lựa giải pháp, cơ quan phân tíchchính sách cần tiến hành đánh giá các giải pháp, bởi lẽ không phải giải phápnào cũng tốt như nhau, cho nên việc đánh giá nhằm loại suy, chọn đúng giảipháp tối ưu Nội dung chính của việc đánh giá xoay quanh định lượng rủi ro,chi phí và lợi ích mà từng giải pháp có thể tạo ra khi nó trở thành quy địnhpháp luật để làm sao lợi ích phải lớn hơn chi phí Quá trình so sánh nhữngđánh giá này với kết quả đặt ra ban đầu có thể phân hạng được các giải pháp