1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận khoa học chính sách công phân tích các chính sách thời phong kiến

34 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Các Chính Sách Thời Phong Kiến Việt Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Khoa Học Chính Sách Công
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 62,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khácnhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách củaChính phủ, chính sách của chính quyền địa p

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN: KHOA HỌC CHÍNH SÁCH CÔNG

Đề tài:

PHÂN TÍCH CÁC CHÍNH SÁCH THỜI PHONG KIẾN

VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1:LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG 2

1 Các quan điểm về chính sách công 2

2 Nhìn nhận 3

3 Đặc trưng cơ bản 3

4 Bản chất của chính sách công 6

5 Vai trò của chính sách công 6

CHƯƠNG 2:CÁC CHÍNH SÁCH THỜI PHONG KIẾN TIÊU BIỂU VIỆT NAM 11

1 Chính sách văn hoá của triều Nguyễn trong bối cảnh đất nước thế kỷ XIX 11

2 Chính sách chống tham nhũng thời phong kiến Việt Nam 18

3 Chính sách dân tộc của các Vương triều phong kiến Việt Nam 21

CHƯƠNG 3:Ý NGHĨA CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG 27

KẾT LUẬN 30

DANH MỤC THAM KHẢO 32

Trang 3

MỞ ĐẦU

Chính sách là chương tŕnh hành động do các nhà lănh đạo hay nhà quản

lư đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của ḿnh

Theo James Anderson: "Chính sách là một quá tŕnh hành động có mụcđích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà

họ quan tâm"

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khácnhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách củaChính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ,chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanhnghiệp…

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ranhững chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanhnghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết nhữngvấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, v́vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuytrên thực tế khái niệm "chính sách tư" hầu như không được sử dụng

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máynhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi làchính sách công Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung,nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mụctiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lư của Nhà nước

Trang 4

CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG

1 Các quan điểm về chính sách công

Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chínhsách công” được sử dụng rất phổ biến Có thể nêu ra một số quan niệm sau:

- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành(Peter Aucoin, 1971)

- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhaucủa một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọncác mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978)

- Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm(Thomas R Dye, 1984)

- Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởngmột cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter,1990)

- Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quanlẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nướchay các quan chức nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)

- Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện cácchương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L Cochran andEloise F Malone, 1995)

- Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động củachính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnhhưởng tới đời sống của công dân (B Guy Peters, 1999)

- Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chínhphủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sáchcông là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì(Clarke E Cochran, et al, 1999)

Trang 5

- Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhânhoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề(James Anderson, 2003).

- Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động củachính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cáchthức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng nhưcác quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chươngtrình (Kraft and Furlong, 2004)

2 Nhìn nhận

Thứ nhất, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước,

do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nóichung của mỗi nước

Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động

cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch

vụ công cộng cho nền kinh tế

Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để:

(i) Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh

tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; (ii) Quản lý nguồnlực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xãhội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Nói cách khác chính sáchcông là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch định chính sách, xácđịnh mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong việc sửdụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước

3 Đặc trưng cơ bản

Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Nếu chủ thể

ban hành các "chính sách tư" có thể là các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chínhtrị – xă hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết hoạt độngtrong phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó th́ chủ thể ban hànhchính sách công chỉ có thể là các cơ quan trong bộ máy nhà nước Vấn đề ở đây

là các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành chính sách công,

Trang 6

vừa là chủ thể ban hành "chính sách tư" Sự khác biệt là ở chỗ các "chính sáchtư" do các cơ quan nhà nước ban hành là những chính sách chỉ nhằm giải quyếtnhững vấn đề thuộc về nội bộ cơ quan đó, không có hiệu lực thi hành bên ngoàiphạm vi cơ quan.

Chính sách công do Nhà nước ban hành nên có thể coi chính sách công làchính sách của Nhà nước Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyềntrong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương cáccấp…

Ở nước ta, trên sách báo, chúng ta thường gặp cụm từ "chính sách củaĐảng và Nhà nước", v́ vậy có ư kiến cho rằng, Đảng cũng là chủ thể ban hànhchính sách công Điều này có thể giải thích bằng thực tế đặc thù của nước ta ởViệt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lănh đạo Nhà nước,lănh đạo xă hội Đảng lănh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra cương lĩnh,chiến lược, các định hướng chính sách – đó chính là những căn cứ chỉ đạo đểNhà nước ban hành các chính sách công Như vậy, về thực chất, các chính sáchcông là do Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam (chủ yếu là Chính phủ

đề ra) Các chính sách này là sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các địnhhướng chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhândân ta

Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là

chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn Chính sách công không chỉ thể hiện

dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó, mà c ̣n bao gồmnhững hành vi thực hiện các dự định nói trên

Chính sách công trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sáchnhằm làm thay đổi hoặc duy tŕ một hiện trạng nào đó Song, nếu chính sách chỉ

là những dự định, dù được ghi thành văn bản th́ nó vẫn chưa phải là một chínhsách Chính sách công c ̣n phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nóitrên và đưa lại những kết quả thực tế

Nhiều người thường hiểu chính sách công một cách đơn giản là những chủtrương của Nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ Nếu không có việc

Trang 7

thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định th́ những chủ trương đóchỉ là những khẩu hiệu mà thôi.

Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra

trong đời sống kinh tế – xă hội theo những mục tiêu xác định Chính sách công

là một quá tŕnh hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định Khác với cácloại công cụ quản lư khác như chiến lược, kế hoạch của Nhà nước là nhữngchương tŕnh hành động tổng quát bao quát một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế – xăhội, đặc điểm của chính sách công là chúng được đề ra và được thực hiện nhằmgiải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan lẫn nhau đang đặt ra trong đời sống

xă hội Chính sách công chỉ xuất hiện trước khi đó đă tồn tại hoặc có nguy cơchắc chắn xuất hiện một vấn đề cần giải quyết Vấn đề chính sách được hiểu làmột mâu thuẫn hoặc một nhu cầu thay đổi hiện trạng xuất hiện trong đời sốngkinh tế – xă hội đ ̣i hỏi Nhà nước sử dụng quyền lực công để giải quyết Có thểnói, vấn đề chính sách là hạt nhân xuyên suốt toàn bộ quy tŕnh chính sách (baogồm các giai đoạn hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách) Việc giải quyếtnhững vấn đề nói trên nhằm vào những mục tiêu mà Nhà nước mong muốn đạtđược

Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.

Trước hết, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với cácquyết định hành chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạmpháp luật của Nhà nước Khái niệm quyết định ở đây có ư nghĩa rộng hơn, nó cóthể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước Các quyết định này

có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cả những ư tưởng củacác nhà lănh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ Song, chính sáchkhông đồng nghĩa với một đạo luật riêng biệt hay một văn bản nào đó Chínhsách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyếtmột vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nướcban hành và thực thi trong một thời gian dài Một chính sách có thể được thể chếhóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lư cho việc thực thi, song nó

Trang 8

c ̣n bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tínhđịnh hướng, kích thích phát triển.

4 Bản chất của chính sách công

CSC là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng, phản ánh bảnchất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại; đồngthời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị phục vụcho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân Nhà nước dựa trên nềntảng nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân ban hành CSC.Ngoài mục đích phục vụ cho lợi ích của giai cấp, của đảng cẩm quyền còn đểmưu cầu lợi ích cho người dân và xã hội CSC được hoạch định bởi đảng chínhtrị nhưng do chính phủ xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện Bản chất củaCSC la công cụ để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiệncác hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quátrình phát triển thiệp vào mọi hành vi xã hội trong quá trình phát triển

CSC là ý chí chính trị của đảng cầm quyền, được thể hiện cụ thể là cácquyết sách, quyết định chính trị của nhà nước Các quyết định này nhằm duy trìtình trạng xã hội hoặc giải quyết các vấn để xã hội, đáp ứng nhu cầu của ngườidân Ý chí chính trị của đảng cầm quyển được cụ thể hóa thành chính sách,thông qua đó thiết lập mối quan hệ giữa đảng, nhà nước với người dân Thôngqua CSC đảng cầm quyền dẫn dắt các quan hệ trong xã hội theo định hướng củađảng Các cá nhân trong xã hội là những đối tượng trực tiếp thụ hưởng và thựchiện chính sách Vì vậy, chính sách chỉ có hiệu lực, hiệu quả thực sự khi đượccác cá nhân trong xã hội tiếp nhận và thực hiện Để đạt được điều đó thì điềukiện tối thiểu là CSC phải minh bạch, ổn định, dễ hiểu và vai trò chủ thể thựchiện CSC phải là công chúng, mặc dù người khởi xướng chính sách là nhà nước

5 Vai trò của chính sách công

Vai trò cơ bản của CSC thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhànước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triểncủa nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân Dưới góc độquản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng CSC như một công cụ quan trọng

Trang 9

tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng củanhà nước Ngoài vai trò cơ bản này, CSC còn có vai trò cụ thể sau:

Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh

tế - xã hội,

Do chính sách phản ánh thái độ, cách xử sự của nhà nước đối với một vấn

đề công, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của nhà nước lên các chủ thểtrong xã hội, giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà nhà nướcmong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu

cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể kinh tế, xã hội hoạt động theo địnhhướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu pháttriển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía nhà nước hay xã hội Điểu đó cónghĩa là, cùng với mục tiêu định hướng, cách thức tác động của CSC cũng cóvai trò định hướng cho các chủ thể hành động

Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã

hội theo mục tiêu chung

Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung, nhà nướcphải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại có những cách thứctác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần như:miễn giảm thuế, tạo cơ hội tiếp cận với nguồn vốn có lãi suất ưu đãi, ban hànhnhững thủ tục hành chính đơn giản và các chế độ ưu đãi đặc biệt khác, Sự tácđộng của CSC không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể hànhđộng theo ý chí của nhà nước Chẳng hạn, để tăng cường đầu tư vào nền kinh tế,Nhà nước ta ban hành chính sách khuyến khích các chủ thể trong nước và nướcngoài tích cực đầu tư vào các ngành, lĩnh vực hay những vùng cần được ưu tiênphát triển

Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của

nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thịtrường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sảnxuất kinhdoanh, không ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất ượng

Trang 10

sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ đó mà cả

xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởnq lợi như: hàng hóa và dịch vụtăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, thương hiệu, mẫu mã, chấtlượng ngày càng tược nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ Nhưng, sự vậnhành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực mà các nhà kinh tế gọi

là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường như: độc quyền trong sảnxuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênh lệchgiàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổn định kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cá bé gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân Trong tình hình đó,nhà nước phải sử dụng hệ thống CSC để giải quyết những vấn đề bất cập vềkinh tế, khắc phục những thất bại của thị trường thông qua trợ cấp, cung ứngdịch vụ công cho người dân do các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sựnghiệp công hay hội, tổ chức phi chính phủ thực hiện

Thứ tư, tạo lập các cân đối trong phát triển.

Để kinh tế - xã hội phát triển một cách ổn định bền vững, nhà nước phảidùng chính sách để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng -tiền, cung - cầu, xuất - nhập khẩu, tiết kiệm - tiêu dùng, Đồng thời, nhà nướccòn dùng chính sách để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa cácvùng miền của đất nước

Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong xã hội

Nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng cácnguồn lực cho phát triển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng vềlượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhien

và xã hội của một quốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chínhyếu của nhà nước Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, nhànước thông qua các chính sách thực hiện kiểm soát qué trình khai thác, sử dụngtài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội, ví dụ như chính sáchxây dựng vùng kinh tế mới, chính sách xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất,chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường

Trang 11

Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội.

Thông qua các chính sách, nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hìnhthành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động như: chính sáchphát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học và công nghệ,thị trường bất động sản, phát triển cơ sở hạ tầng

Các chính sách là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà nhà nước

sử dụng để quản lý kinh tế vĩ mô, chúng có chức năng chung là tạo ra nhữngkích thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối chiến lược của đảng cầm quyềnthành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi ngườitrong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu

bộ phận mà chính sách hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triểnkinh tế quốc dân

Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách kinh tế là bộ phậnnăng động nhất, có độ nhạy bén cao trước những biến động trong đời sống kinh

tế - xã hội của đất nưốc nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra.Thực tiễn nước ta và nhiều nước trên thế giới cho thấy phần lớn những thànhcông trong công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đều bắt nguồn từ việc lựa chọn

và áp dụng những chính sách kinh tế thích hợp, có năng suất cao để khai thác tối

ưu các lợi thế so sánh của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồnnhân lực, vốn, công nghệ, thị trường, kết cấu hạ tầng Có một hệ thống chínhsách kinh tế đồng bộ, phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước trong từngthời kỳ lịch sử nhất định sẽ là bảo đảm vững chắc cho sự vận hành của cơ chếthị trường năng động, hiệu quả Nhờ đó có thể khơi dậy các nguồn tiềm năng,phát huy tính tích cực, sáng tạo vã ý chí vươn lên làm cho dân giàu, nước mạnhcủa tầng lớp dân cư Ngược lại, chỉ cần một chính sách kinh tế sai lầm, sẽ gây raphản ứng tiêu cực dây chuyền đến các chính sách kinh tế khác, cũng như đếncác bộ phận khác của cơ chế quảr lý kinh tế, làm giảm hiệu quả của các cơ chếquản lý kinh tế, triệt tiêu động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành.

Trang 12

Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách không chỉ vàkhông thể do một cơ quan nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia củanhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cámân Vì vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt độnggiữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân,góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi CSC.

Trang 13

CHƯƠNG 2:

CÁC CHÍNH SÁCH THỜI PHONG KIẾN TIÊU BIỂU VIỆT NAM

1 Chính sách văn hoá của triều Nguyễn trong bối cảnh đất nước thế

kỷ XIX

1.1 Bối cảnh quốc tế

Việc phát minh ra máy hơi nước ở Anh cuối thế kỷ XVIII đã đánh dấu sự

ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp Một quá trình công nghiệp hóa diễn rarầm rộ ở Châu Âu đã làm thay đổi cách thức sản xuất từ lao động bằng tay sang

sử dụng máy móc và từng bước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh;

từ sản xuất quy mô nhỏ lên sản xuất quy mô lớn với sự ra đời của các nhà máy

và các khu công nghiệp, khiến cho loài người trong vòng chưa đầy một trămnăm, có thể sáng tạo nên một lực lượng vật chất to lớn hơn và độ sộ hơn tất cảcác thế hệ trước cộng lại, theo đánh giá của C.Mác và Ph Ănghen trong Tuyênngôn của Đảng Cộng sản Hệ quả là đời sống xã hội có những thay đổi lớn lao:hình thành các giai cấp xã hội mới (giai cấp tư sản và giai cấp vô sản), dân sốtăng nhanh, đô thị phát triển, pháp lý hóa chế độ gia đình một vợ một chồng…Chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu đã bành trướng ra khắp thế giới, một mặt để cướpcác nguồn nhiên liệu ở các vùng đất nước chưa được khai thác, mặt khác đểchiếm các thị trường tiêu thụ ở những nước đông dân cư Châu Á đất rộng ngườiđông, nơi có nền kinh tế, chính trị lạc hậu trở thành miếng mồi béo bở cho cácnước tư bản phương Tây

Đến những năm đầu thế kỷ XIX, các nước châu Á, trong đó có Việt Namphải đối mặt với nguy cơ bị biến thành thuộc địa của các nước tư bản châu Âu.Nhưng những thử thách của lịch sử không chỉ đến từ ngoài biên giới mà trongbản thân mỗi quốc gia châu Âu lúc này đều bộc lộ hàng loạt các vấn đề đòi hỏiphải được giải quyết

Nhìn chung, đến thế kỷ XIX, các nước trong khu vực châu Á đều trở nênsuy yếu cả về kinh tế và chính trị, xã hội Các quốc gia như Cao Miên, Xiêm…

từ lâu đã không thuộc phạm vi, hình mẫu tham chiếu, học hỏi của các triều đình

Trang 14

phong kiến Đại Việt Còn Trung Hoa thế kỷ XIX dẫu vẫn khoác áo "Thiên triều"trong chính sách bang giao của triều Nguyễn nhưng cũng không đủ sức, đủ trí đểđương đầu với phương Tây Không phải đến triều Tự Đức, nước Đại Nam mớiphải đối mặt với Pháp và Trung Hoa, mà sự lựa chọn mô hình phát triển nào đãđặt ra ngay từ khi vua Gia Long khai sáng vương triều Nguyễn vào năm 1802.

1.2 Tình hình trong nước

Triều Nguyễn được thiết lập trong một bối cảnh lịch sử đầy biến động Sựtranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn,Tây Sơn - Nguyễn đã đưa đến những hệ quả hết sức bất lợi cho sự phát triển củamột quốc gia: loạn ly và chia cắt, cát cứ và phân lập, chiến tranh bao gồm cả nộichiến và chống ngoại xâm…

Nhà Nguyễn sau khi đánh bại triều Tây Sơn, làm chủ một lãnh thổ thốngnhất gồm Đàng Trong, Đàng Ngoài cũ Đến năm 1802, lần đầu tiên sau gần 300năm, đất nước được thống nhất trọn vẹn, nhưng không phải trên quy mô nhưđiểm xuất phát của nó Thừa hưởng thành quả đấu tranh của các thế hệ ngườiViệt Nam kiên cường, bền bỉ, lần đầu tiên trong lịch sử, lãnh thổ Việt Nam đã

mở rộng nhất, trải dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau

Tuy nhiên, triều đình nhà Nguyễn đứng trước nhiều vấn đề của thời đại vàđất nước đặt ra, trong đó có những vấn đề liên quan trực tiếp đến văn hóa:

Về mặt chính trị, nhiệm vụ đầu tiên mà vị vua khai sáng một triều đại phảigiải quyết là thiết lập một bộ máy quản lý, điều hành đất nước Một khó khănlớn về chính trị của triều Nguyễn là xây dựng chính quyền địa phương Năm

1802, khi làm chủ được Bắc hà và quyết định xem Phú Xuân là quốc đô, triềuNguyễn lập ra 2 trấn Bắc Thành và Gia Định, tổ chức chính quyền địa phươnggần như tồn tại 2 khu vực độc lập ở bắc và nam Ngoài việc chia sẻ vinh quang

và quyền lực cho các công thần như các nhà nghiên cứu thường nhận định thìviệc phân chia 2 trấn Bắc Thành và Gia Định phần nào cũng phản ánh việcthống nhất đất nước trên mọi phương diện không phải là công việc một sớm mộtchiều Bước đầu, vị vua đầu triều Nguyễn đã tạm chấp nhận tình trạng "kẻ Bắc

Trang 15

người Nam" Tuy nhiên, đó chỉ là một giải pháp có tính chất quá độ, "quyềnnghi đặt tạm" như nhận định của Minh Mạng, gây nhiều khó khăn cho sự thốngtrị của nhà Nguyễn Phải đến năm 1831 - 1832, khi Minh Mạng tiến hành mộtcuộc cải cách hành chính địa phương, tình trạng các tổng trấn mới được xoá bỏ.

Triều Nguyễn được thiết lập sau khi đánh bại Tây Sơn Vị vua đầu tiêntriều Nguyễn sẽ phải giải quyết những vấn đề hậu chiến: Ứng xử ra sao với độingũ những công thần, võ tướng cả cuộc đời vào sinh ra tử cùng nhà vua sáng lậpnên một triều đại mới? Ứng xử như thế nào với những cựu thần của nhà Lê?Xây dựng đất nước trong thời bình đặt ra những yêu cầu mới đối với bộ máyquản lý đất nước, nó đòi hỏi không chỉ tăng về số lượng nhân sự mà còn phải giatăng về chất lượng và năng lực quản lý đa lĩnh vực

Quan hệ bang giao với các nước cũng là một vấn đề khác mà triềuNguyễn phải giải quyết Khác với các thế kỷ trước, đến thế kỷ XIX, quan hệbang giao không chỉ giới hạn trong phạm vi với các nước láng giềng quen thuộc

mà phải tính đến những vùng đất xa lạ hơn Các nước Âu Mỹ đã xuất hiện vớinhững đề nghị đặt quan hệ ngoại giao hoặc quan hệ thông thương Như vậy,trong chính sách ngoại giao của triều Nguyễn không chỉ có Xiêm La, VạnTượng, Ai Lao hay Trung Hoa nữa mà còn có các nước phương Tây như Anh,Pháp, Mỹ

Về mặt kinh tế, dưới thời Nguyễn, Việt Nam vẫn là một nước nôngnghiệp, công thương nghiệp hầu như không phát triển Chính sách của triều đình

là trọng nông Nguồn lợi số một của nhà nước là thu thuế điền, thuế đinh Nếunhư hơn 200 năm đàng trong, các chúa Nguyễn đã tạo nên những trải nghiệmmới trong lịch sử kinh tế của dân tộc khi chú ý đến việc phát triển kinh tế hànghóa nông nghiệp thì đến thời các vua Nguyễn, rất tiếc các kinh nghiệm đó khôngđược áp dụng Chiến tranh liên miên khiến người dân phiêu tán tứ xứ, ruộng đấtnhiều nơi trở nên hoang hoá Sự chú trọng đến công tác thủy lợi, đê điều, khaihoang lập ấp cùng chế độ doanh điền cũng là những nỗ lực đáng ghi nhận củatriều Nguyễn nhằm phát triển nông nghiệp Việc di dân đi khai khẩn những vùngđất mới cũng đặt ra những vấn đề văn hóa phải giải quyết

Trang 16

Đầu thế kỷ XIX điều kiện để phát triển thương nghiệp rất thuận lợi, đấtnước thống nhất, hệ thống giao thông Bắc Nam, liên tỉnh được sửa chữa, nhiềukênh sông được khai đào… Thế nhưng nhà nước phong kiến đã không biến các

cơ hội đó thành hiện thực Chính sách thuế khóa và thể lệ kiểm soát nghiêmngặt, phức tạp đã hạn chế sự phát triển thương nghiệp

Lo ngại trước nguy cơ bị xâm lược bởi các nước phương Tây, triều đìnhnhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương Việc buôn bán với nước ngoài chủyếu được tiến hành với các nước trong khu vực như Trung Hoa, Xiêm, Mã Lai

Và ngay cả với những đối tượng này, chính quyền phong kiến cũng luôn dèchừng, cảnh giác

Từ năm 1824, vua Minh Mạng có cho người tìm hiểu thị trường trong khuvực Thực tế, ông đã cử thuyền đem gạo, đường, lâm thổ sản… sang bán ởSingapore, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan… và mua về len, dạ, vũ khí, đạndược Nhưng việc buôn bán như vậy cũng không phải là phổ biến, càng khôngthể là đặc điểm nổi bật của ngoại thương nước nhà trong giai đoạn này

Sự phát triển hạn chế của công thương nghiệp ở nửa đầu thế kỷ XIXkhông tạo nên được những điều kiện cần thiết cho sự biến chuyển xã hội

Về mặt xã hội, cũng như ở các triều đại trước, dưới thời Nguyễn, xã hộiViệt Nam chia thành 2 giai cấp lớn: Thống trị và bị trị Việt Nam thế kỷ XIX lànước nông nghiệp, hầu hết nhân dân sống về nghề nông và đất đai là tư liệu sảnxuất quan trọng nhất Cho nên nói giai cấp trong xã hội giai đoạn này là nóinhững lớp người hoặc có hoặc không có (hay có rất ít) đất trong tay Như vậy,địa chủ và nông dân là hai giai cấp chính của xã hội Việt Nam thế kỷ XIX.Ngoài ra, còn có những tầng lớp không đông đúc, không thành giai cấp nhưngcũng cần phải được kể đến, đó là thợ thủ công, thương gia, nho sĩ

Nhà Nguyễn xây thành, đắp luỹ, dựng lăng tẩm… to và nhiều hơn bất cứtriều đại nào Sự xa hoa lãng phí của các vua chúa, quan lại hoàn toàn đối lậpvới đời sống ngày càng bị bần cùng hóa của nhân dân Cùng với nạn phu phentạp dịch, người dân còn phải hứng chịu thiên tai, bệnh dịch Mâu thuẫn (giai

Trang 17

cấp) trong xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Kết quả là phong trào nông dân lanrộng và diễn ra liên tục suốt nửa đầu thế kỷ XIX.

Một điểm đáng lưu ý là trong các cuộc khởi nghĩa nông dân, có rất nhiềucác cuộc khởi nghĩa của đồng bào dân tộc ít người ở miền núi phía Bắc, ở phíaTây Nam bộ Sự phản ứng của đồng bào dân tộc thiểu số phản ánh sự khôngthoả đáng trong chính sách dân tộc của triều đình Nguyễn

Về mặt văn hóa, đến triều Nguyễn, trên lãnh thổ nước ta có sự phân vùngvăn hóa với sự hiện diện của 3 trung tâm văn hóa lớn: Văn hoá Thăng Long, vănhóa Phú Xuân và văn hóa Gia Định, nó như một đặc điểm lớn của văn hóa ĐạiNam Tính địa phương đem lại sự phong phú, đa dạng nhưng mặt khác, nó cũnggây ra những trở ngại nhất định trong quá trình quản lý đất nước

Với đặc điểm lãnh thổ trải dài từ Bắc đến Nam, là nơi cư trú của nhiều tộcngười, lại trải qua một thời gian dài chia cắt nên phong tục, tập quán, lối sống,nếp sống, tôn giáo, tín ngưỡng… của các cộng đồng dân cư trong cả nước rấtphong phú

Khi người Việt tiến về phương Nam khai hoang, lập ấp mới, họ mangtheo văn hóa của quê hương mình, mang theo cả phương thức sản xuất, tâm thứccộng đồng làng xã, thậm chỉ cả tên đất tên làng, thần linh đến vùng đất mới Tại

đó, có sự gặp gỡ, giao thoa về lối sống, phong tục, tập quán giữa cư dân cũ và cưdân mới Kết quả là có thể làm xuất hiện đến những hiện tượng văn hóa mới

Giáo dục thi cử ở Bắc Bộ và Nam Bộ chịu ảnh hưởng của chiến tranh nên

đã có sự phát triển không đồng đều Nếu như ở Bắc Bộ, việc giáo dục, khoa cửdiễn ra thường xuyên, quy củ thì trái lại, ở Nam Bộ, giáo dục, khoa cử còn khálỏng lẻo Để đáp ứng nhu cầu kiện toàn bộ máy nhân sự quản lý đất nước, việcđẩy mạnh giáo dục thi cử trên quy mô toàn quốc trở thành yêu cầu cấp bách

1.3 Những yêu cầu đặt ra đối với chính sách văn hóa triều Nguyễn

Những yêu cầu lịch sử đặt ra này đối với vương triều Nguyễn là bảo vệvương triều, phục hồi, thống nhất quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, phát triểnkinh tế văn hoá, "mở cửa" cho đất nước vươn ra thế giới bên ngoài, kích thíchsản xuất hàng hóa và giao lưu trong nước, tiếp thu và vận dụng những luồng tư

Ngày đăng: 23/12/2023, 09:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w