MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn đề: 1.1 Sự ra đời và phát triển của chính sách bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay. Trong những năm gần đây, chúng ta đã phải chứng kiến không biết bao nhiêu sự thay đổi của môi trường như động đất, sóng thần, núi lửa, sạt lở đất,… Có rất nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng biến đổi khí hậu hay ô nhiễm môi trường mà chúng ta có thể kể đến dưới đây: Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, như cầu sống của con người tăng lên. Để đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống, con người chúng ta buộc phải không ngừng lao động, tìm kiếm việc làm,… Các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải đề tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy giúp ích cho cuộc sống sinh hoạt của con người rất nhiều nhưng đồng thời những hoạt động này đã góp phần vào việc làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường (không khí, đất, nước,…) ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu. Ngoài ra, lượng rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt ngày một nhiều, cùng với các biện pháp xử lí rác thải chưa được triển khai hiệu quả, đồng nghĩa với tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ngày một nặng nề,… Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều lí do khiến ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu trở thành một vấn đề nóng bỏng, nhận được nhiều sự quan tâm của toàn thể xã hội hiện nay. Để giải quyết vấn đề này, nhà nước ta đã đề ra một số chính sách về bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu. Dưới đây, ta sẽ cùng tìm hiểu và phân tích, đánh giá hoạt động hoạch định, tổ chức ấy. 1.2 Thực trạng, tính cấp thiết của việc xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu: Ô nhiễm môi trường gồm 3 loại ô nhiễm chính, đó là: ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường nước và ô nhiễm môi trường đất. Trong đó,mức độ ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các thành phố lớn, khu đô thị, những vùng đông dân cư, khu công nghiệp và các làng nghề là nghiêm trọng nhất. Ô nhiễm môi trường không khí: ( Theo một nghiên cứu được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos) Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe. Trên cơ sở tiêu chuẩn cho phép của thế giới về đánh giá chất lượng không khí (Air Quality Index AQI), nếu mức độ sạch của không khí từ 150200 điểm thì đã bị coi là ô nhiễm, từ 201300 thì coi là cực kỳ cấp bách, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân.Trong khi đó, tại Việt Nam, hai khu vực ô nhiễm nhất là Hà Nội và TP HCM, chỉ số trong ngày lúc nào cũng ở mức 152156. Còn vào giờ giao thông cao điểm phải lên tới gần 200. Bụi PM10 (bụi khí, loại hạt vỡ cỡ rất nhỏ, bay lơ lửng trong không khí, có thể xuyên qua các loại khẩu trang để lọt vào và đọng lại trong phổi, gây bệnh về đường hô hấp cho người hít phải) cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO. Ở Hà Nội, theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, 72% hộ gia đình có người mắc bệnh do ô nhiễm không khí. Đây là tỷ lệ quá cao so với các khu vực khác trong cả nước, bởi Hà Nội và TP.HCM được nhận định là hai thành phố ô nhiễm không khí nặng nhất. Ô nhiễm môi trường nước: Hệ thống nước ở Việt Nam có hơn 2360 con sông, suối dài hơn 10km và hàng nghìn hồ, ao. Đây là nơi cư trú, nguồn nước sinh hoạt của các sinh vật, thực vật và cả con người. Tuy nhiên, hệ thống này đang bị ô nhiễm nặng nề. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt. ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,49 và hàm lượng NH4 là 4mg1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu… (Theo: “Hiện trạng môi trường nước tại Việt Nam” moitruongdeal.com). Theo thống kê và đánh giá của bộ Y tế và Bộ Tài nguyên môi trường, trung bình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém và gần 200.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới phát hiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụng nước ô nhiễm. Ô nhiễm môi trường đất: Trích báo cáo của trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia: “Hiện nay ở khu vực nông thôn, môi trường đất chủ yếu bị ô nhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững. Hàng năm ước tính tổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng 2,5 3 triệu tấn, trong đó có đến 50 70% không được cây trồng sử dụng thải ra môi trường.Còn ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề, môi trường đất cũng bị ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinh hoạt..Đặc biệt, môi trường đất ở một số nơi đang bị ô nhiễm do chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh. Cụ thể như tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa (Đồng Nai) và sân bay Phù Cát (Bình Định) vẫn còn tồn dư hàng trăm nghìn m3 đất và bùn bị nhiễm chất độc da cam với hàm lượng dioxin gấp hàng trăm, hàng nghìn lần so với nồng độ cho phép, tiếp tục tác động xấu đến sức khỏe con người và môi trường tại các khu vực lân cận. Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên với lượng đất bị xói mòn hàng năm lên tới 33,8 150,5 tấnha. Đồng thời còn có khoảng 9,3 triệu ha đất, chiếm 28% diện tích tự nhiên có liên quan đến hoang mạc hóa, trong đó 2 triệu ha đang sử dụng bị thoái hóa nặng và 2 triệu ha khác đang có nguy cơ thoái hóa cao”.
Trang 1đề nóng bỏng, nhận được nhiều sự quan tâm của toàn thể xã hội hiện nay Đểgiải quyết vấn đề này, nhà nước ta đã đề ra một số chính sách về bảo vệ môitrường và chống biến đổi khí hậu Dưới đây, ta sẽ cùng tìm hiểu và phân tích,đánh giá hoạt động hoạch định, tổ chức ấy.
1.2 Thực trạng, tính cấp thiết của việc xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu:
Ô nhiễm môi trường gồm 3 loại ô nhiễm chính, đó là: ô nhiễm môitrường không khí, ô nhiễm môi trường nước và ô nhiễm môi trường đất.Trong đó,mức độ ô nhiễm môi trường không khí, đặc biệt tại các thành phố
Trang 2lớn, khu đô thị, những vùng đông dân cư, khu công nghiệp và các làng nghề
là nghiêm trọng nhất
Ô nhiễm môi trường không khí: ( Theo một nghiên cứu được công bố
tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos) Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có chất
lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Trên cơ
sở tiêu chuẩn cho phép của thế giới về đánh giá chất lượng không khí (AirQuality Index- AQI), nếu mức độ sạch của không khí từ 150-200 điểm thì đã
bị coi là ô nhiễm, từ 201-300 thì coi là cực kỳ cấp bách, sẽ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sức khỏe của người dân.Trong khi đó, tại Việt Nam, hai khu vực ônhiễm nhất là Hà Nội và TP HCM, chỉ số trong ngày lúc nào cũng ở mức152-156 Còn vào giờ giao thông cao điểm phải lên tới gần 200 Bụi PM10(bụi khí, loại hạt vỡ cỡ rất nhỏ, bay lơ lửng trong không khí, có thể xuyên quacác loại khẩu trang để lọt vào và đọng lại trong phổi, gây bệnh về đường hôhấp cho người hít phải) cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO Ở Hà Nội,theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, 72% hộ gia đình có người mắc bệnh do ônhiễm không khí Đây là tỷ lệ quá cao so với các khu vực khác trong cả nước,bởi Hà Nội và TP.HCM được nhận định là hai thành phố ô nhiễm không khínặng nhất
Ô nhiễm môi trường nước: Hệ thống nước ở Việt Nam có hơn 2360
con sông, suối dài hơn 10km và hàng nghìn hồ, ao Đây là nơi cư trú, nguồnnước sinh hoạt của các sinh vật, thực vật và cả con người Tuy nhiên, hệthống này đang bị ô nhiễm nặng nề Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thànhphố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp vớitổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt,nhuộm, dệt ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ
sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạntổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưulượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4
là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…
Trang 3(Theo: “Hiện trạng môi trường nước tại Việt Nam”- moitruongdeal.com).
Theo thống kê và đánh giá của bộ Y tế và Bộ Tài nguyên môi trường, trungbình mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước vàđiều kiện vệ sinh kém và gần 200.000 trường hợp mắc bệnh ung thư mới pháthiện, mà một trong những nguyên nhân chính là sử dụng nước ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường đất: Trích báo cáo của trung tâm khí tượng thủy
văn quốc gia: “Hiện nay ở khu vực nông thôn, môi trường đất chủ yếu bị ônhiễm do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu bền vững Hàng năm ước tínhtổng lượng phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoảng2,5 - 3 triệu tấn, trong đó có đến 50 - 70% không được cây trồng sử dụng thải
ra môi trường.Còn ở các vùng quanh đô thị, khu công nghiệp và làng nghề,môi trường đất cũng bị ô nhiễm do các chất thải từ hoạt động sản xuất, sinhhoạt Đặc biệt, môi trường đất ở một số nơi đang bị ô nhiễm do chất độc hóahọc tồn lưu sau chiến tranh Cụ thể như tại sân bay Đà Nẵng, Biên Hòa (ĐồngNai) và sân bay Phù Cát (Bình Định) vẫn còn tồn dư hàng trăm nghìn m3 đất
và bùn bị nhiễm chất độc da cam với hàm lượng dioxin gấp hàng trăm, hàngnghìn lần so với nồng độ cho phép, tiếp tục tác động xấu đến sức khỏe conngười và môi trường tại các khu vực lân cận Các tỉnh miền núi phía Bắc vàTây Nguyên với lượng đất bị xói mòn hàng năm lên tới 33,8 - 150,5 tấn/ha.Đồng thời còn có khoảng 9,3 triệu ha đất, chiếm 28% diện tích tự nhiên cóliên quan đến hoang mạc hóa, trong đó 2 triệu ha đang sử dụng bị thoái hóanặng và 2 triệu ha khác đang có nguy cơ thoái hóa cao”
Biến đổi khí hậu: Từ đầu năm 2015 đến nay, lượng mưa ở khu vực
Nam Trung Bộ đã thiếu hụt tới 30- 50% so với lượng mưa trung bình củanhiều năm, còn đối với khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ thiếu hụtkhoảng 10- 20% Về lượng dòng chảy, ở khu vực Bắc Bộ thấp hơn trung bìnhnhiều năm từ 20- 70%, khu vực Trung Bộ và Tây Nguyên thiếu hụt 20- 60%,
thậm chí có nơi lên tới hơn 80% như Nghệ An và Khánh Hòa (Theo nhận định của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống thiên tai) Theo Thông
Trang 4báo Quốc gia về Biến đổi khí hậu ở Việt Nam cho thấy (so với năm 1990) :
Năm 2010 nhiệt độ tăng thêm 0.3 đến 0.5 độ C; Mực nước biển tăng thêm 9
cm Đến năm 2050, nhiệt độ dự tính tăng thêm từ 1.1 đến 1.8 độ C; Mực nướcbiển tăng thêm 33 cm Biến đổi khí hậu kéo theo hiện tượng El Nino làmgiảm từ 20 đến 25% lương mưa ở khu vực miền Trung- Tây Nguyên, gây rahạn hán kéo dài Trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình trên phạm vi cả nước
ta đã tăng khoảng 0,5 độ C/năm Riêng năm 2015, do tác động của hiện tượngEl-Nino, nền nhiệt độ tăng khoảng 0,5-1 độ C so với trung bình nhiều năm và
có số ngày nắng nóng kéo dài hơn Lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc
và tăng ở phía Nam lãnh thổ Trên khu vực Biển Đông, bão và áp thấp nhiệtđới có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta Đặc biệt, tần suất hoạtđộng của bão mạnh, siêu bão ngày càng gia tăng với mức độ ảnh hưởng lớn;mùa mưa bão sẽ kết thúc muộn hơn so với trước đây Hạn hán, nắng nóng có
xu thế tăng lên và không đồng đều giữa các khu vực, nhất là ở Trung Bộ và
Nam Bộ.Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong 5
quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu Trong đó, lĩnh vực
dễ bị tổn thương nhất là tài nguyên nước, khu vực ven biển và ngành nôngnghiệp Chỉ tính trong 10 năm (2001-2010), thiên tai đã làm 9.500 người chết
và mất tích, thiệt hại về kinh tế là 1,5% GDP/năm Kịch bản biến đổi khí hậu
và nước biển dâng cho thấy, vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình củanước ta sẽ tăng 2-3 độ C, kéo theo đó mực nước biển có thể dâng lên khoảng1m Khi đó hậu quả là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngập 39% diệntích, riêng TP Hồ Chí Minh ngập 20% diện tích; các tỉnh ven biển ở Đồngbằng sông Hồng ngập 10%; các tỉnh miền Trung là 3% Đồng thời, sẽ có 10-12% dân số của nước ta chịu tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu, tổn thất
về kinh tế sẽ là 10% GDP/năm. Đây là những con số rất đáng báo động Do
đó, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa sống còn
hiện nay (Nguồn: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới)
Trang 51.3 Mục đích của việc phân tích các chính sách này:
Khi thực hiện phân tích, đánh giá hoạt động hoạch định và tổ chức thựchiện những chính sách bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu ở ViệtNam, chúng ta tập trung vào những mục đích chính như sau: Đánh giá xemchính sách đó có được ban hành ra để hướng tới phục vụ lợi ích cộng đồnghay một bộ phân nhất định trong công chúng hay không.Giúp nhận biết cácmối liên hệ của văn bản cuả chính sách xã hội sẽ ban hành với những văn bảncùng lĩnh vực, từ đó tăng hiệu quả Đánh giá những chính sách được phân tích
đã thực hiện đúng vai trò về hoạch định và tổ chức thực hiện chưa Ví dụ nhưkhi hoạch định chính sách ấy, nhà nước đã đặt ra mục tiêu, giải pháp cụ thể vàđúng đắn hay chưa Bên cạnh đó, khi tổ chức thực hiện những chính sách đó,nhà nước và các cơ quan liên quan, có trách nhiệm đã tổ chức thực hiện nhưthế nào, hiệu quả ra sao, đạt được những ưu điểm gì, còn mắc phải những hạnchế ra sao Từ những đánh giá, phân tích trên, cuối cùng sẽ đưa ra kết luậnchung, những kiến nghị về chính sách đó
2 Thao tác hóa khái niệm:
2.1 Khái niệm chính sách:
Chính sách xã hội bao gồm tập hợp các chính sách, là sự thể chế hóa,
cụ thể hóa các giải pháp của nhà nước trong giải quyết vấn đề xã hội liên quanđến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư trên cơ sở phù hợp với quan điểm,đường lối của Đảng nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triểntoàn diện con người, văn hóa truyền thống
2.2 Khái niệm hoạch định chính sách xã hội:
Hoạch định chính sách xã hội là giai đoạn đầu tiên, có tính quyết định
đối với toàn bộ giai đoạn khác và sự hình thành của một chính sách Hoạchđịnh chính sách xã hội là quá trình bao gồm việc nghiên cứu, đề ra một chínhsách với các mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết vấn đề chính sách
và việc thể chế hóa chính sách đó (Trích Đề cương bài giảng Chính sách xã hội- Biên soạn TS Nhạc Phan Linh)
Trang 62.3 Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách xã hội:
Tổ chức thực hiện chính sách xã hội là quá trình tổ chức và thúc đẩy
các hoạt động áp dụng các chính sách xã hội vào cuộc sống nhằm tạo ra kếtquả thực tế thông qua các hoạt động có tổ chức của các cơ quan chức năngnhà nước về quản lí xã hội, nhằm hiện thực hóa các mục tiêu mà chính sách
xã hội đề ra (Trích Đề cương bài giảng Chính sách xã hội- Biên soạn TS Nhạc Phan Linh)
2.4 Khái niệm phân tích chính sách xã hội:
Phân tích chính sách có thể định nghĩa như là quá trình xem xét, so
sánh, đánh giá mục tiêu, nội dung và các ảnh hưởng của chính sách đối vớicác đối tượng của chính sách cũng như đối với các vấn đề kinh tế, chính trị,
xã hội liên quan Để từ đó đưa ra những lời khuyên (kiến nghị)về chính sách
xã hội (Trích Đề cương bài giảng Chính sách xã hội- Biên soạn TS Nhạc Phan Linh)
2.5 Khái niệm ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng
thời các tính chất Vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây táchại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác Ô nhiễm môi trường chủ yếu
do hoạt động của con người gây ra Ngoài ra, ô nhiễm còn do 1 số hoạt động
của tự nhiên khác có tác động tới môi trường (Trích: Wiki)
2.6 Khái niệm biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,
thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi cácnguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằngthập kỷ hay hàng triệu năm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quânhay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình Sựbiến đổi khí hậu có thế giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuấthiện trên toàn Địa Cầu Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữcảnh chính sách môi trường, biến đổi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi
Trang 7khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu (Trích: Wiki)
2.7 Chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường:
Theo Luật Bảo vệ môi trường, chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định cụ thể như: Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi
để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt độngbảo vệ môi trường Ðẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp ápdụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ýthức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường Sử dụng hợp lý,tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng táitạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải Ưu tiên giải quyếtcác vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môitrường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suythoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư Ðầu tư bảo vệ môitrường là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môitrường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sáchnhà nước hằng năm Ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạtđộng bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợphài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường chophát triển Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, ápdụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môitrường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường Mở rộng vànâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế vềbảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tácquốc tế về bảo vệ môi trường Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường;tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướngchính quy, hiện đại
Trang 8PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH
1 Những chính sách bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay:
Trích chương I điều 5 của luật Bảo vệ môi trường:
“ Điều 5 Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường
1 Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
2 Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để xây dựng kỷ cương và văn hóa bảo vệ môi trường.
3 Bảo tồn đa dạng sinh học; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch và năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải.
4 Ưu tiên xử lý vấn đề môi trường bức xúc, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường nguồn nước; chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường.
5 Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách với tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môi trường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọng điểm trong bảo vệ môi trường.
6 Ưu đãi, hỗ trợ về tài chính, đất đai cho hoạt động bảo vệ môi trường, cơ sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môi trường.
7 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường.
8 Phát triển khoa học, công nghệ môi trường; ưu tiên nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường; áp dụng tiêu chuẩn môi trường đáp ứng yêu cầu tốt hơn
về bảo vệ môi trường.
Trang 99 Gắn kết các hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên với ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường.
10 Nhà nước ghi nhận, tôn vinh cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường.
11 Mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường; thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường.”
Chính sách thuế bảo vệ môi trường (Nguồn: http://vanban.chinhphu.vn/)
Thuế bảo vệ môi trường: Luật Thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội
Khóa XII, Kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15/11/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012, là văn bản duy nhất điều chỉnh một cách trực tiếp vào các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Với mục đích không khuyến khích một số hoạt
động sản xuất kinh doanh có sản phẩm ảnh hưởng đến môi trường, nên thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao đối với các mặt hàng như thuốc lá, ô tô,…
Thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế này có liên quan trực tiếp đến lợi
ích của doanh nghiệp Do đó, thông qua những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào việc bảo vệ môi trường bằng cách áp dụng các biện pháp kỹ thuật hiện đại nhằm giảm thiểu các chất gây ô nhiễm thải ra môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp về mặt tài chính trong việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường.
Thuế tài nguyên: Thuế tài nguyên đánh vào các tổ chức, cá nhân có
hoạt động khai thác tài nguyên bao gồm các hoạt động khai thác khoáng sản, kim loại và không kim loại, dầu mỏ, khí đốt, sản phẩm của rừng tự nhiên và các loại tài nguyên thiên nhiên khác.
Ngoài ra còn có các chính sách liên quan như chính sách về phòngchống và kiểm soát ô nhiễm; Chính sách về bảo tồn thiên nhiên và đa dạngsinh học; Một số chính sách pháp luật về quản lí tài nguyên (Luật quản lý tàinguyên nước,Luật địa chất và khoáng sản, Luật Đất đai 2003, Luật Thuỷ sản2003,Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004,…); Chính sách về ứng phó với
Trang 10biến đổi khí hậu; Một số chính sách, pháp luật trực tiếp liên quan đến biến đổi khí hậu được ban hành như chỉ thị số 35 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ
chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên Hợpquốc về Biến đổi Khí hậu (năm 2005); Nghị quyết số 60 của Chính phủ giao
Bộ Tài nguyên & Môi trường chủ trì, xây dựng Chương trình mục tiêu quốcgia ứng phó với biến đổi khí hậu (năm 2007),Chương trình mục tiêu quốc giaứng phó với biến đổi khí hậu (năm 2008), Chiến lược quốc gia về biến đổi khíhậu (năm 2011), Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (năm 2012);…
2 Phân tích, đánh giá hoạt động hoạch định chính sách:
Hoạch định và tổ chức thực hiện là giai đoạn, hoạt động mang tínhquyết định đến sự thành công của chính sách xã hội Để có thể thực hiệnthành công việc hoạch định và tổ chức chính sách xã hội cần nhiều giai đoạnphức tạp, đòi hỏi sự cẩn thận, chính xác, dựa trên các cơ sở hoạch định chínhsách cùng với những yếu tố ảnh hưởng và điều kiện thực thi chính sách xãhội Cần phải có tầm nhìn xa trong việc hoạch định chính sách cũng như sựtính toán chính xác, khả năng điều hành, quản lí để có thể tổ chức thực hiệnđược thành công một chính sách Chính vì tính quan trọng và phức tạp củaquá trình hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách rất lớn mà dung lượng bài
viết có hạn nên dưới đây, ta đi vào đánh giá, phân tích một số khía cạnh, cơ
sở, yếu tố ảnh hưởng, điều kiện thực thi cũng như một trong số những quátrình thực hiện việc hoạch định và tổ chức thực hiên chính sách của nhà nước
về bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay
2.1 Phân tích, đánh giá về các cơ sở hoạch định:
Căn cứ khoa học nhân văn: Tính khoa học nhân văn thể hiện ở việc
khi hoạch định, thiêt kế chính sách phải coi trọng yếu tố con người Các chínhsách xã hội phải đặt con người ở vị trí trung tâm, xuất phát từ con người và
phục vụ con người (Trích Đề cương bài giảng Chính sách xã hội- Biên soạn
TS Nhạc Phan Linh) Như ta thấy, chính sách của nhà nước về bảo vệ môi
trường và chống biến đổi khí hậu nhằm mục tiêu quan trọng nhất đó là khắc
Trang 11phục và hạn chế, ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ởViệt Nam Đề ra mục tiêu và chính sách như vậy cốt cũng để phục vụ và nângcao nhu cầu sống của con người Bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậucũng đồng nghĩa với việc bảo vệ môi trường sống của con người Thực hiệnthành công chính sách, môi trường phát triển tốt, ngăn chặn được những hậuquả của tình trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường kéo theo chấtlượng sống của con người được nâng cao, là cơ hội phát triển của nền kinh tế,
y tế, văn hóa- xã hội,… Nói chung, chính sách của nhà nước về bảo vệ môitrường và phòng chống biến đổi khí hậu đã được hoạch định thành công trên
cơ sở căn cứ khoa học nhân văn
Tính hệ thống: Khi hoạch định chính sách về bảo vệ môi trường và
chống biến đổi khí hậu, các nhà hoạch định chính sách đã thể hiện được tính
hệ thống trong chính sách này qua mối quan hệ với một số chính sách liênquan như chính sách giáo dục đào tạo, chính sách về thuế, cấp vốn, chính sáchthuế bảo vệ môi trường,… Ví dụ như vào ngày 28/08/2014 đã ban hành quyếtđịnh số 48/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Về chính sách hỗ trợ hộnghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung; Thể hiệnqua quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thốnggiáo dục quốc dân”
Kinh tế - xã hội năm 2015 diễn ra trong bối cảnh thị trường toàn cầu cónhững bất ổn, kinh tế thế giới vẫn đối mặt với nhiều rủi ro lớn với các nhân tốkhó lường Ở trong nước, giá cả trên thị trường thế giới biến động, nhất là giádầu giảm gây áp lực đến cân đối ngân sách Nhà nước Về tốc độ tăng trưởng
và phát triển kinh tế của nước ta trong năm 2015 nhìn chung đều có xu hướnggia tăng về các lĩnh vực khác nhau như: tốc độ tăng tổng sản phẩm trongnước, tốc độ tăng trưởng về nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp và thủy-
hải sản, (Tham khảo nguồn: “Thống kê về tình hình kinh tế- xã hội” của Tổng cục thống kê năm 2015) Thế nhưng, mức sống và thu nhập của người
Trang 12dân lao động khi tham gia vào chính sách chưa cao (GDP tính theo ngang giásức mua chỉ khoảng 5.200 USD; so với GDP Philippine 6.300 USD, GDP
Trung Quốc là 8.154 USD,…) Dựa vào tình hình kinh tế , khả năng đáp ứng tài chính, thu nhập và mức sống của dân cư và người lao động khi tham gia vào chính sách xã hội mà các nhà hoạch định chính sách đã điều
chỉnh các hoạt động, hoạch định chính sách cho phù hợp Ví dụ như chínhsách đã được thể chế hóa bằng việc đưa ra những luật, nghị định có liên quannhư luật thuế thu nhập doanh nghiệp về việc cụ thể hóa chính sách như đã nêu
ở phần 1: Những chính sách bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khíhậu ở Việt Nam hiện nay, đó là: đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo
vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sáchvới tỷ lệ tăng dần theo tăng trưởng chung; các nguồn kinh phí bảo vệ môitrường được quản lý thống nhất và ưu tiên sử dụng cho các lĩnh vực trọngđiểm trong bảo vệ môi trường; ưu đãi, hỗ trợ về tài chính, đất đai cho hoạtđộng bảo vệ môi trường, cơ sở sản xuất, kinh doanh thân thiện với môitrường
Ngoài ra, chính sách này đều đã dựa trên các cơ sở khác như định hướng chính trị và những quy định pháp luật hiện hành trong hoạch định
chính sách xã hội như đường lối, chính sách của Đảng, hệ thống pháp luật cùa
nhà nước,…;tính lịch sử trong hoạch định chính sách xã hội.
2.2 Phân tích đánh giá về quá trình hoạch định:
Trước tiên, ta nhận thấy chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường
đã xác định được vấn đề chính sách- một vấn đề rất quan trọng, được người
dân đặc biệt quan tâm, mang tính thời sự, đó là ô nhiễm môi trường và chốngbiến đổi khí hậu ở nước ta hiện nay Đối với những nước đang đi trên conđường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với sự phát triển của kinh tế, cácngành công nghiệp,… là sự ô nhiễm nặng nề của môi trường dẫn đến tìnhtrạng biến đổi khí hậu cùng nhiều hậu quả khác vô cùng nghiêm trọng, vấn đềchính sách này là một phần nguyên nhân gây kìm hãm và cản trở sự phát triển
Trang 13xã hội (cụ thể hơn đã được nêu rõ tại mục 1: Đặt vấn đề, phần 1.2: Thựctrạng)
Mục tiêu của chính sách trong quá trình hoạch định của được nhà nước
đề ra rõ ràng, đó là: ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái
và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây
ra Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học; Khắcphục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng,phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môitrường; Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoàgiữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường,mọi người đều có ý thức bảovệ môi trường, sống thân thiện với thiên
nhiên ( Tham khảo nguồn:” Những nội dung cơ bản trong bảo vệ môi trường
tự nhiên ở Việt Nam hiện nay” -tapchicongsan.org.vn)
Thông qua và quyết định chính sách: Chính sách được thể chế hóa
thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môitrường và phòng chống biến đổi khí hậu, cụ thể như: Quyết định Số: 589/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh định hướng phát triển thoát nước đô thị vàkhu công nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2050, ban hành ngày06/04/2016; Ngày 10/03/2016 ban hành thông tư quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về môi trường, có hiệu lực 01/05/2016; Nghị định số 12/2016/NĐ-CP củaChính phủ : Về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản, ban hànhngày 19/02/2016; Ngày 19/01/2016 ban hành quyết định số 01/2016/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ : Về cơ chế, quy trình hỗ trợ kinh phí cho các địaphương để khắc phục hậu quả thiên tai; Ngày 16/12/2015 ban hành thông tư48/2015/TT-BNNPTNT hướng dẫn chi tiết điều kiện hoạt động dịch vụ bảo
vệ thực vật; …
Bên cạnh việc nhìn nhận đúng đắn, xác định được vấn đề chính sách vàmục tiêu của chính sách, hoạch định qua quá trình hoạch định chính sách nóitrên, quá trình hoạch chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường đã thực
Trang 14hiện xây dựng các phương án chính sách phù hợp theo các nguyên tắc của quá trình hoạch định chính sách, lựa chọn được phương án chính sách tối
ưu hợp lí.
3 Phân tích, đánh giá hoạt động tổ chức thực hiện chính sách:
Tương tự như hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện chính sách làmột quá trình quan trọng trong việc đưa chính sách áp dụng vào thực tế, đòihỏi nhiều kĩ năng thực tế, trình độ và nhiều yếu tố quan trọng khác Cụ thểnhư để tiến hành đưa chính sách bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậuvào đời sống một cách phù hợp nhất với tình hình kinh tế- chính trị- văn hóa
xã hội hay điều kiện sống của người dân để thực hiện chính sách sao cho hợp
lí, đạt hiệu quả cao nhất có thể, có rất nhiều các yếu tố gây ảnh hưởng đến quátrình tổ chức thực hiện chính sách này như tính phức tạp của vấn đề xã hộicần giải quyết mà ở đây là việc giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường vàphòng chống biến đổi khí hậu ở Việt Nam Đây là một vấn đề không hề đơngiản, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều lĩnh vực, cơ quan ban hành, huy độngnguồn lực, nguồn vốn không nhỏ Vậy nên vấn đề cần giải quyết của chínhsách này có tính phức tạp cao Ngoài ra còn có những yếu tố ảnh hưởng đếnviệc tổ chức thực hiện chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường vàchống biến đổi khí hậu ở Việt Nam có thể kể đến như: trình độ dân trí trong
xã hội; khả năng kinh tế của quốc gia; trình độ công nghệ của quốc gia; tìnhhình chính trị, tình hình quốc tế; bộ máy và đội ngũ công chức,viên chức làmnhiệm vụ, thủ tục hành chính; khả năng tài chính cho tổ chức thực hiện chínhsách; sự đồng thuận của nhân dân
3.1 Phân tích đánh giá về các điều kiện thực thi chính sách:
Để thực thi chính sách không phải là điều đơn giản bởi có nhiều yếu tố,điều kiện xung quanh quá trình này Từ những điều kiện liên quan như thựcthi chính sách làm sao phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, mức sống củanhân dân, phải đáp ứng được tính dân chủ đến các điều kiện về bộ máy quản
lí, nhà lãnh đạo,… Tuy còn mắc phải một số hạn chế nhưng chính sách về bảo
Trang 15vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu đã đáp ứng được đa phần nhữngđiều kiện kể trên
Trước hết, như đã đề cập ở những phần trên và qua nhiều bài báo,phóng sự,… chúng ta đều hiểu được phần nào sự cấp thiết, tính thời sự củavấn đề chính sách này- vấn đề bảo vệ môi trường, phòng chống biến đổi khíhậu Vậy nên, khi đưa ra chính sách về bảo vệ môi trường và phòng chống
biến đổi khí hậu, Nhà nước ta xác định được sự phù hợp với cuộc sống của
chính sách Nhận thấy rõ mục tiêu ngăn chặn, phòng chống các nguồn gây ônhiễm môi trường; khắc phục, cải tạo những khu vực bị ô nhiễm; giảm nhẹmức độ suy thoái, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, đa dạng dinh học; tăngcường khả năng chủ động ứng phó biến đổi khí hậu;… đã thể hiện tính khả thicủa chính sách này Không những vậy, Nhà nước đề ra chính sách về bảo vệmôi trường và phòng chống biến đổi khí hậu với những giải pháp phù hợp vớithực tiễn, khả thi và đã đi vào hoạt động, được phê duyệt và thu hồi lại nhiềukết quả, phản ánh tốt, sự đồng tình của nhân dân ví dụ như chương trình hànhđộng thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và phát triển nôngthôn; hay vào ngày 14/3/2016, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã ban hành Quyết định số 819/QĐ-BNN-KHCN phê duyệt Kế hoạchhành động ứng phó với biến đổi khí hậu ngành nông nghiệp và phát triểnnông thôn giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2050; chương trình mụctiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu;…
Tổ chức thực hiện chính sách về bảo vệ môi trường và phòng chống
biến đổi khí hậu đã đảm bảo được tính dân chủ Điều này được khẳng định
qua việc lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương và Lãnh đạo Bộ Tài nguyên vàMôi trường đã tổ chức nhiều cuộc trao đổi, thảo luận và triển khai các kếhoạch, nội dung phối hợp công tác phục vụ xây dựng chủ trương, đường lối,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền nâng cao nhậnthức của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về lĩnh vực tài nguyên -môi trường Nhà nước đặc biệt chú trọng việc tổ chức, đẩy mạnh và tăng