Điều đáng nói là, mặc dù quan hệ giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy lạp diễn ra vào thời kỳ cổ đại, nhưng vì tính chất và tầm quan trọng của nó đối với văn hóa thế giới, do đó đề tài về giao l
Trang 1- -
LÊ THỊ SINH HIỀN
GIAO LƯU VĂN HÓA ẤN ĐỘ-HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2021
Trang 2UNIVERSITY OF SOCIAL SCIENCES AND HUMANITIES
LE THI SINH HIEN
INDIAN-GREEK CULTURAL EXCHANGES IN ANCIENT TIMES
A dissertation submitted for the degree of Doctor of Philosophy
Ho Chi Minh City - 2021
Trang 3- -
LÊ THỊ SINH HIỀN
GIAO LƯU VĂN HÓA ẤN ĐỘ-HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Ngành Văn hóa học
Mã số: 9229040
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS ĐẶNG VĂN THẮNG PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
1 PGS.TS ĐỖ THU HÀ
2 TS LÊ THỊ HẰNG NGA PHẢN BIỆN
1 PGS.TS ĐỖ THU HÀ
2 TS ĐINH THỊ DUNG
3 TS ĐÀO MINH HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2021
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ nhiệm Khoa Đông Phương học đã khích lệ, động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng Văn Thắng, người Thầy đã tận tâm hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến và luận điểm khoa học trong suốt quá trình tôi thực hiện luận án
Tôi vô cùng biết ơn quý Thầy, Cô Khoa Văn Hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi cũng cảm tạ quý đồng nghiệp, các bạn đồng môn đã chia sẻ và động viên tôi trong thời gian qua
Tôi luôn nhớ ơn ba mẹ và những người thân trong gia đình đã khuyến khích và tạo điều kiện trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Sau cùng tôi cũng xin chân thành biết ơn những học giả, nhà nghiên cứu
đi trước trong và ngoài nước đã cung cấp cho tôi những kiến thức, tầm nhìn sâu rộng cùng những luận cứ khoa học về đề tài
Lê Thị Sinh Hiền
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Lê Thị Sinh Hiền
Trang 6GIỚI THIỆU
Ấn Độ và Hy Lạp là hai nền văn hóa lớn của nhân loại Giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp đã diễn ra trong khoảng mười thế kỷ được chia làm hai giai đoạn: tiền và hậu cuộc chinh phạt phương Đông của Alexander Đại đế Đặc biệt, từ sau cuộc Đông chinh, mối quan hệ giao lưu giữa hai nền văn hóa này trở nên sôi động và mạnh mẽ hơn giai đoạn trước đó do bối cảnh lịch sử và sự phát triển của xã hội, văn hóa lúc bấy giờ Nhu cầu hàng hóa, tiêu dùng thúc đẩy phát triển thương mại Đông-Tây qua con đường Tơ lụa Sự phát triển xã hội làm nảy sinh những tư tưởng mới và con người tìm kiếm những giá trị mới để giải quyết các vấn đề xã hội phát triển đặt ra Công cuộc hoằng dương Phật pháp của vua Ashoka đến các nước phương Tây như Địa Trung Hải và Hy Lạp góp phần giúp Hy Lạp tiếp xúc với Ấn Độ Ngoài ra, việc người Hy Lạp sinh sống
ở phương Đông, Viễn Đông, Đại Hạ (Bactria), Trung Á và Ấn Độ cũng giúp giao lưu văn hóa Đông-Tây được diễn ra Sự gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Ấn
Độ và Hy Lạp vào thời cổ đại đã tạo ra những thành tố văn hóa mới và để lại cho thế giới nhiều di sản tinh thần giá trị vẫn còn ứng dụng trong thực tiễn ngày nay Các giá trị đó gồm tư tưởng, triết học, tôn giáo, thiên văn và mỹ thuật
Đề tài Luận án được tiếp cận theo hướng liên ngành, phân tích và lý giải những yếu tố văn hóa tương đồng giữa Ấn Độ và Hy Lạp thể hiện qua nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc, triết học, thiên văn và toán học Văn hóa tương đồng giữa Ấn Độ và Hy Lạp là do tiếp xúc trực tiếp giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại và tính chất giao lưu giữa hai nền văn hóa là tự nguyện, không bắt buộc, không đồng hóa Kết quả của sự giao lưu đó là cả hai nền văn hóa được làm giàu thêm, phong phú thêm và bổ sung những hạn mục còn thiếu của mỗi nền văn hóa
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG xiii
DANH MỤC CÁC TÊN RIÊNG 14
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3.1 Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp qua nhóm công trình nghiên cứu so sánh song song những điểm tương đồng và dị biệt 3
3.2 Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp qua nhóm công trình nghiên cứu so sánh ảnh hưởng 9
3.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án 19
3.4 Những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ 22
3.5 Nhiệm vụ của luận án 23
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
4.1 Đối tượng nghiên cứu 23
4.2 Phạm vi nghiên cứu 24
5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và lý thuyết nghiên cứu 27
5.1 Câu hỏi nghiên cứu 27
5.2 Giả thuyết nghiên cứu 28
5.3 Lý thuyết nghiên cứu 28
6 Phương pháp nghiên cứu 32
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 34
8 Nguồn tài liệu 35
9 Bố cục của luận án 36
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN GIAO LƯU VĂN HÓA ẤN ĐỘ-HY LẠP THỜI CỔ ĐẠI 38
1.1 Cơ sở lý luận 38
1.1.1 Khái niệm giao lưu văn hóa và các khái niệm liên quan 38
1.1.2 Văn hóa so sánh 50
1.2 Cơ sở thực tiễn 54
1.2.1 Tọa độ văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại 54
1.2.2 Cơ sở xác lập những điểm đương đồng văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp 65
Trang 81.2.3 Bối cảnh giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại 67
Tiểu kết chương 1 76
CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG HY LẠP CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ 78
2.1 Yếu tố Hy Lạp trong các tác phẩm kinh điển của Ấn Độ 78
2.1.1 Yuga Purana 78
2.1.2 Mahabharata 83
2.2 Ảnh hưởng Hy Lạp đối với mỹ thuật Ấn Độ 89
2.2.1 Nghệ thuật Điêu khắc 89
2.2.2 Ảnh hưởng của Hy Lạp đối với nghệ thuật đúc tiền Ấn Độ 97
2.2.3 Ảnh hưởng của Hy Lạp đến kiến trúc Ấn Độ 106
2.3 Ảnh hưởng Hy Lạp đối với thiên văn học Ấn Độ 113
Tiểu kết chương 2 129
CHƯƠNG 3 SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA HY LẠP 131
3.1 Ảnh hưởng Ấn Độ đến triết học Hy Lạp 131
3.1.1 Ảnh hưởng của Triết học Hindu giáo đối với Hy Lạp 134
3.1.2 Ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đối với Hy Lạp 151
3.2 Ảnh hưởng Ấn Độ đối với toán học Hy Lạp 176
Tiểu kết chương 3 183
KẾT LUẬN 185
TÀI LIỆU THAM KHẢO 190
DANH MỤC BÀI BÁO VÀ THAM LUẬN KHOA HỌC 206
LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 206
PHỤ LỤC 1
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
CHƯƠNG 1
Hình 1.1 Vùng Đồng bằng sông Ấn-Hằng 1
Hình 1.2 Văn minh sông Ấn 1
Hình 1.3 Bản đồ không gian văn hóa Ấn Độ 2
Hình 1.4 Bản đồ địa lý Hy Lạp cổ đại 2
Hình 1.5 Bản đồ các quốc gia thành bang Hy Lạp thế kỷ V TCN 3
Hình 1.6 Không gian văn hóa từ Hy Lạp cổ đại đến Pakistan 3
Hình 1.7 Bản đồ Ấn Độ tham gia vào con đường Tơ lụa 5
Hình 1.8 Bản đồ các vùng đất Alexander chinh phục 5
CHƯƠNG 2 Hình 2.1 Minh văn trụ đá Ashoka số 7 6
Hình 2.1 Đức Phật khổ hạnh, Pakistan, Gandhara, tk II CN, 8
Hình 2.2 Tượng Phật Gandhara, tìm thấy ở Bactria 9
Hình 2.3 Tăng sĩ Ajivika đứng tư thế bất đối xứng (Contrapposto), hang động Baraba, thời kỳ Maurya 9
Hình 2.4 Nữ thần Athena và chim đại bàng, nặng 17.05g, đường kính 23mm, Athens, 454-431 TCN 10
Hình 2.5 Đồng bạc Corinth, nặng 2.47g, đường kính 13.5mm, 350-300 TCN 10
Hình 2.6 Đồng bạc Thrace, thần Hermes và dê, 400-350 TCN 10
Hình 2.7 Đồng vàng Kushan, vua Kanishka và Shiva, bò đực, nặng 15.41 gram, dày 27.50 mm, năm 105-130 CN 12
Hình 2.8 Đồng vàng Kushan, Vasudeva II và nữ thần Ardoksho ôm sừng sung túc cornucopia, 7.78 gm, 20 mm, 290-310 CN 12
Hình 2.9 Đồng vàng Gupta, vua Kumaragupta I cưỡi ngựa và Laksmi ngồi tay cầm hoa sen, nặng 8.25gm, đường kính 20mm, 415-455 CN 13
Hình 2.10 Đồng vàng Gupta, Vua Samudragupta, Ngựa hiến tế và hoàng hậu đứng tay trái cầm cái khăn, nặng 7.37gm, đường kính 23mmm, 335-375 CN 13
Hình 2.11 Kỵ binh Athen trong trận Corinth, 394 TCN 13
Hình 2.12 Đóng móng cho bò, Punjab, 1925 14
Hình 2.131 Đầu Cột Corinth,TK 5 TCN, Athens 15
CHƯƠNG 3 Hình 3.1 Bảng niên đại của đức Phật 26
Hình 3.2 Bảng đất sét Plimpton 322 ghi lại định lý Pythagoras 26
Hình 3.3 Án thờ Veda qua biểu tượng chim ưng 27
Hình 3.4 Mô phỏng án thờ Veda qua biểu tượng chim ưng và lễ vật thờ cúng 27
Trang 10TƯ LIỆU HIỆN VẬT KHẢO SÁT
Hình 1 Thần Apollo đá hoa, cao 2.24m, 117-138 CN, Bảo tàng Vatican 30
Hình 2 Người cầm giáo đứng tư thế bất đối xứng (Contrapposto) , đá hoa, cao 2.12m, phiên bản La Mã từ một bản gốc bằng đồng, 440 TCN 30
Hình 3 Nữ thần Athena, đứng tư thế bất đối xứng, đá hoa, cao 2.18m, phiên bản La Mã, tk 2 CN 31
Hình 4 Nữ thần Sức khỏe (Hope Hygeia), đứng tư thế bất đối xứng 31
Hình 5 Athena Parthenos đứng tư thế contrapposto, bằng ngà voi và vàng, cao 11.5m, đền thờ Parthenon, Athens, 438 TCN 32
Hình 6 Nữ thần Athena Lemnia đứng tư thế contrapposto 32
Hình 7 Đức Phật đản sinh 32
Hình 8 Đức Phật nhập niết bàn (Nirvana), Gandhara, tk I-V CN 32
Hình 9 Đầu tượng Alexander 33
Hình 10 Đầu tượng đức Phật, đá phiến, Gandhara, TK II - III CN 33
Hình 11 Đầu tượng Đức Phật, Mathura, TK V CN 33
Hình 12 Đầu tượng Đức Phật, Amaravati, tk I-II CN 33
Hình 13 Đầu tượng đức Phật, sa thạch, Sarnath, tk V CN, Bảo tàng Quốc gia Ấn Độ 34
Hình 14 Đức Phật và cấc Bồ tát, Gupta, TK V-VI CN, miền Đông Ấn Độ 34
Hình 15 Kim Cương Thủ (Vajrapani) và Đức Phật, cao 40 cm, Bảo tàng Berlin 34
Hình 16 Đức Phật, Gandhara, Thung lũng Bamiyan, Afghanistan, 507-554 CN 34
Hình 17 Yaksha đứng thẳng, Sa thạch, cao 2.64m, Uttar Pradesh, TK II TCN, 35
Hình 18 Yaksha Parkham đứng tư thế contrapossto, cao 2.62m, sa thạch, TK III TCN, Maurya 35
Hình 19 Yakshi, cao 96.5 cm, Gandhara, TK I-II CN 35
Hình 20 Yakshi, Sa thạch đỏ, Tường rào Amaravati, TK II CN 35
Hình 21 Yakshi đứng trên hoa sen úp ngược, tay phải cầm chùm nho (bên trái), đá phiến xám, cao 48 cm và Yakshi cầm chim (bên phải) kiểu thức nữ thần Athena, đá phiến xanh 36
Hình 22 Tượng bán thân Yakshi, sa thạch, cao 33.6 cm, Mathura, thời kỳ Kushan, TK II CN, Bảo tàng Kyoto, Nhật Bản 36
Hình 23 Hariti (Ha Lợi Đế) cầm chùm nho 36
Hình 24 Hariti (Ha Lợi Đế) trong trang phục chiton Hy Lạp 36
Hình 25 Demeter-Hariti ôm chiếc sừng sung túc cornucopia, Sirkap (Taxila), đá phiến xám, cao 11.8 cm, Bảo tàng Karachi 37
Hình 26 Nữ thần Laksmi cầm chiếc sừng sung túc cornucopia, Gandhara 37
Hình 27 Nữ thần Laksmi, tìm thấy ở Kashmir, trong trang phục Peplos Hy Lạp, tư thế bất đối xứng (contrapposto), tay trái cầm hoa sen cách điệu thành sừng dê sung túc (cornucopia trong thần thoại Hy Lạp) 37
Hình 28 Thần Shiva trong trang phục chiến binh Hy Lạp, đá phiến, 16.8 x 10.5 x 6.8 cm, Gandhara, TK II CN, Bảo tàng Nghệ thuật châu Á, Berlin 37
Hình 29 Tượng danh y Hippocrate bằng đồng 38
Hình 30 Thần Shiva, đá bazan, Maharashtra, TK VI CN 38
Hình 31 Vishnu trong tư thế kiết già, bốn tay, một tay cầm chiếc sừng sung túc, đá xám 38
Hình 32 Nữ thần Laksmi cầm hoa sen, đá phiến xám, 16.5 x 9 x 9 cm, Gandhara, Bảo tàng Anh 38
Hình 33 Đồng tiền, chất liệu đồng, thời kỳ Maurya 39
Trang 11Hình 34 Đồng tiền, chất liệu bạc, thời kỳ Maurya 39Hình 35 Tiền đồng, thời Kosala, 425-465 TCN 39Hình 36 Tiền đồng, Kurushetra, 350-315 TCN 39Hình 37 Đồng bạc, thần Zeus ở một mặt và vua Philip cưỡi ngựa ở mặt còn lại, đường kính 2.8cm, nặng 13.92gm, 359-336 TCN 39Hình 38 Tiền vàng, Chandragupta-II cưỡi ngựa ở một mặt và nữ thần Laksmi ở mặt
còn lại, thời kỳ Gupta 39
Hình 39 Chausathi Jogini Temple, Hirapur, Đền thờ Nữ thần bang Odisha, Ấn Độ 40Hình 40 Chausath Yogini Temple, Mitawali, Ấn Độ 40Hình 41 Minh văn phát hiện ở Mathura chỉ kỷ nguyên của người Yavana là năm thứ
116, có nghĩa là người Hy Lạp cai trị ở Mathura đến khoảng năm 60 TCN 41Hình 42 Thần Herakles, Mathura, Bảo tàng Kolkota 41Hình 43 Bản đồ hoằng hóa Phật pháp của Ashoka đến vương quốc Hy Lạp hóa và khu vực người Hy Lạp sinh sống ở vùng Tây bắc Ấn Độ 42Hình 44 Bản đồ hoằng hóa Phật pháp của Ashoka đến Athens, Antioch ở Hy Lạp và Alexandria, Ai Cập 42
Trang 12Bảng 2.1 Sự chuyển biến tâm lý trong các Puranas (Thần tích)
đối với người Yavanas (người Hy Lạp)
Bảng 2.4 Bảng cung hoàng đạo của Lalande so sánh với cung
hoàng đạo trong Ramayana
tr.118
Bảng 3.1 Sự tương đồng của cỗ xe song mã trong Phaedrus và
cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad
tr.139
Bảng 3.2 Đặc tính các nguyên tử của Aristotle và triết học
Vaisesika
tr.147
Bảng 3.4 So sánh trạng thái tinh thần của Pyrrho và Tứ vô lượng
Trang 13DANH MỤC CÁC TÊN RIÊNG Tên tiếng
Anh
Tên tiếng Việt
Achilles A sin
Aphrodite Nữ thần Sắc đẹp (Hy Lạp)
Apollo Thần Mặt trời (Hy Lạp)
Athena Nữ thần Trí tuệ và Chiến tranh (Hy Lạp)
Hariti Ha Lợi Đế (Ấn Độ) - Hoan hỷ mẫu
Hera Nữ thần Hera (Vợ của thần Dớt, Hy Lạp)
Poseidon Thần Biển (Hy Lạp)
Sakyamuni Đức Phật
Sanskrit Phạn ngữ
Shiva Thần Hủy diệt và sáng tạo (Ấn Độ)
Trang 14Vishnu Thần Bảo vệ (Ấn Độ)
Yaksha/
Yakshi
Nam Dạ xoa/ nữ dạ xoa (Ấn Độ)
Zeus Thần Dớt (Thần cai quản bầu trời Hy Lạp)
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ấn Độ được xem là một quốc gia có bề dày lịch sử và nền văn hóa liên tục, văn minh nhân loại với nhiều đóng góp cho văn hóa thế giới Trong khi đó, Hy Lạp lại được xem là cái nôi của văn hóa phương Tây Hai nền văn hóa lớn này
đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo các học giả Chỉ riêng văn hóa Ấn Độ cũng đã thu hút các học giả thế giới và Việt Nam nghiên cứu trên nhiều phương diện, lĩnh vực Ở Việt Nam, nội dung nghiên cứu về Ấn Độ
và Hy Lạp một cách riêng biệt khá phong phú và trải rộng trên các bình diện văn hóa, lịch sử, chính trị-xã hội, triết học, tôn giáo, văn học, thần thoại, sử thi, nghệ thuật, v.v Nội dung về giao lưu văn hóa thì có các công trình nghiên cứu
về mối quan hệ giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Ấn Độ và Đông Nam Á Một số công trình nghiên cứu sự ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Việt Nam như văn hóa Óc Eo và Champa Một số công trình nghiên cứu giao lưu văn hóa Ấn
Độ và phương Tây nói chung nhưng ở thời kỳ cận hiện đại Cũng có một số công trình sử học bàn về sự tiếp xúc giữa Ấn Độ và Hy Lạp qua cuộc xâm lăng
Ấn Độ của Ba Tư và Alexander Đại đế Tuy nhiên, mối quan hệ và giao lưu của hai nền văn hóa này cũng như những ảnh hưởng và biến đổi văn hóa của chúng sau khi tiếp xúc chưa được quan tâm làm rõ Xét thấy, công trình nghiên cứu giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ với phương Tây, chủ yếu với Hy Lạp thời cổ
đại còn rất khiêm tốn Vì vậy, đề tài luận án “Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp
thời cổ đại” mong muốn lấp được một phần nhỏ khoảng trống này
Sự ra đời và phát triển của văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp là kết quả của sự giao lưu văn hóa ở cấp độ khu vực và châu lục Từ thời cổ đại, Ấn Độ và Hy Lạp đã không ngừng giao lưu, học tập, tiếp thu những tri thức mới để làm giàu và phong phú thêm văn hóa truyền thống của mình Lịch sử đã cho thấy, không có nền văn hóa nào có thể phát triển nhanh và vượt bậc mà không có sự giao lưu với nền văn hóa khác Ấn Độ và Hy Lạp không chỉ giao lưu văn hóa với các nền văn hóa khác như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ba Tư, mà còn giao lưu với nhau Thể
Trang 16hiện rõ nét nhất của quan hệ giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp đó chính là các
tư tưởng triết học, tôn giáo, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và đúc tiền xu, văn học, toán học và thiên văn học, v.v
Ấn Độ là một quốc gia đa văn hoá và đa tộc người, mỗi tộc người đều góp phần vào bức tranh văn hoá chung của Ấn Độ những nét văn hoá tiêu biểu và độc đáo Thêm vào đó là những yếu tố văn hoá ngoại sinh đã góp phần tạo nên một nền văn hoá Ấn Độ đặc sắc và có tầm ảnh hưởng sâu rộng không những đối với văn hoá Ấn Độ nói riêng mà còn đối với văn hoá các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á nói chung Việc nghiên cứu văn hoá Ấn Độ và sự lan tỏa của nền văn hóa này được các học giả trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, nhưng để khám phá những yếu tố văn hoá ngoại sinh trong văn hóa Ấn Độ qua quá trình
giao lưu văn hóa sẽ là một sự tiếp nối các nhà nghiên cứu đi trước Đề tài “Giao
lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại” được các học giả phương Tây tiếp cận
dưới góc nhìn lịch sử, khảo cổ học, ngôn ngữ học, nghệ thuật học, triết học, văn học, Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận đề tài qua lăng kính văn hóa học Do đó, việc nghiên cứu đề tài nói trên dưới góc nhìn văn hóa học là rất cần thiết
Điều đáng nói là, mặc dù quan hệ giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy lạp diễn ra vào thời kỳ cổ đại, nhưng vì tính chất và tầm quan trọng của nó đối với văn hóa thế giới, do đó đề tài về giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các học giả từ cổ chí kim, cả thế giới và Ấn Độ trong năm năm gần đây, đã cho thấy tính cấp thiết của đề tài
Ngoài ra, bản thân người nghiên cứu đã có năm năm học tập về ngôn ngữ và văn hóa tại Ấn Độ và mười lăm năm công tác trong ngành Ấn Độ học, được tiếp xúc và làm việc trực tiếp với người Ấn Độ Việc nghiên cứu văn hóa Ấn Độ, đặc biệt đặt đối tượng trong mối quan hệ với Hy Lạp để nghiên cứu là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu đề tài luận án, nếu thành công sẽ có ý nghĩa khoa học
và thực tiễn góp phần vào việc tìm hiểu mối quan hệ Ấn Đô và Hy Lạp thời cổ
đại Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Giao lưu văn
hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời Cổ đại” để nghiên cứu và hoàn thành luận án Tiến sĩ
Trang 17ngành Văn hóa học nhằm đóng góp góc nhìn của nhà nghiên cứu Việt Nam vào mảng đề tài vẫn còn tranh luận và thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trên thế giới, kể cả học giả Ấn Độ
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận án là
- Tìm hiểu mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp qua so sánh đối chiếu và so sánh ảnh hưởng các yếu tố văn hóa nội sinh và ngoại sinh của hai nền văn hóa nhằm chỉ ra yếu tố văn hóa tương đồng giữa Ấn Độ và Hy Lạp
- Xác lập nguồn gốc và lý giải cơ sở của sự tương đồng: sự tương đồng văn hóa
đó là do phát minh độc lập hay do giao lưu; từ đó thấy được mối giao lưu Ấn
Độ và Hy Lạp là một chiều hay ảnh hưởng qua lại;
- Xác định nguồn phát và chủ thể tiếp nhận, hay sự tương đồng là do cả hai thừa hưởng từ một nguồn văn hóa gốc, văn hóa mẹ
cổ đại sẽ được chia theo hai nội dung sau:
3.1 Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp qua nhóm công trình nghiên cứu so sánh song song những điểm tương đồng và dị biệt
Các công trình tiếng Việt
Mặc dù Ấn Độ rất đặc sắc và có nhiều đóng góp cho nền văn hóa thế giới nhưng ở Việt Nam, nó chỉ được chú ý đến dưới góc nhìn lịch sử qua công trình lịch sử của Vũ Dương Ninh (1995) Tương tự, Lương Ninh (2009) công bố công
trình về lịch sử Ấn Độ mang tên Lịch sử thế giới cổ đại Trong công trình này,
Lương Ninh và nhóm tác giả đã dành hẳn một chương nói về Ấn Độ cổ đại từ khởi đầu cho đến thế kỷ III CN Các tác giả đã khái quát điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý của đất nước Ấn Độ và việc các học giả phương Tây phát hiện ra nền văn minh Harappa lần đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX mở đường cho các nhà khảo
Trang 18cổ học Ấn Độ tiến hành khai quật tại hai thành phố Harappa và Mohendjo Daro,
và đưa đến kết luận về nền văn minh này Lương Ninh (2009) cũng đã đề cập đến triều đại Maurya (321-232 TCN), sự thống nhất Ấn Độ cũng như các thành tựu của triều đại này Đặc biệt, sự phân liệt và chuyển biến trên bán đảo Ấn Độ giai đoạn (232 TCN – 320 CN) được tác giả trình bày khá chi tiết và phân tích súc tích Tác giả đã cho thấy sự tiếp xúc và giao lưu giữa Ấn Độ và Hy Lạp qua chiến tranh và giao thương, đánh giá cao vai trò của cuộc Đông chinh của Alexander Đại đế:
“Cuộc chinh phục của Alexander đến lưu vực sông Ấn đã đem lại hệ quả rất có ý nghĩa đối với Ấn Độ: đã thúc đẩy quan hệ văn hóa và giao thương Đông–Tây, đã xóa sạch những quốc gia Ấn Độ ở vùng Tây–Bắc tạo điều kiện thuận lợi cho việc chinh phục lưu vực sông Indus sau này của vương triều Maurya.” (Lương Ninh và các tác giả, 2009, tr.98)
Sự tiếp xúc giữa Ấn Độ và Hy Lạp còn được khẳng định qua các cuộc chiến tranh khi người Ấn Độ tham gia quân đội Ba Tư trong các cuộc giao tranh với quân đội Hy Lạp (486-465 TCN) (Vũ Dương Ninh, 1995, tr.41; Lương Ninh,
2009, tr.98) Bên cạnh đó, những cuộc chiến giữa các tộc người Ấn Độ và đoàn quân viễn chinh của Alexander ở vùng Tây Bắc, Ấn Độ cũng góp phần cho sự tiếp xúc và giao lưu Ấn Độ-Hy Lạp Lương Ninh và các tác giả (2009) đã cho
rằng: “Người Hi Lạp quen mặc hàng len thô dệt bằng lông cừu, đã tỏ ra vô cùng
thán phục vải trắng dệt sợi bông của người Ấn Độ.” (tr.98) Đặc biệt hơn cả,
tác giả cũng chỉ ra sự “kết giao hòa hiếu” giữa vương triều Maurya và Seleucus (Ba Tư) do tướng Hy Lạp cai quản bằng hôn phối Các tác giả cho rằng:
“Cũng trong quan hệ hòa hiếu này, một nhà ngoại giao của vương triều Seleucus là Megasthens được cử đến công cán bên cạnh vương triều Maurya, đã viết tác phẩm Indika, nước Ấn Độ, cung cấp nhiều hiểu biết về đất nước và con người của bán đảo.” (Lương Ninh và các tác giả, 2009, tr.99)
Ngoài ra, Lương Ninh và các tác giả cũng chỉ ra sự tiếp xúc và giao lưu sâu sắc giữa Ấn Độ và Hy Lạp qua dẫn chứng sự xâm nhập Ấn Độ thành công của
Trang 19quân Hy Lạp với việc thành lập vương triều Hy Lạp trên đất Ấn Độ và do vua
Hy Lạp cai trị:
“Tướng Hi Lạp là Diodotus trở thành vua đầu tiên của Bactria đã mở đầu việc vượt qua dãy Hindu Kush xâm nhập đất Ấn Độ Tiếp đó, Demetrus II chiếm toàn bộ lưu vực sông Indus và lại còn tiến xa hơn về phía đông nam, chiếm vùng Kutch Ông vua cuối cùng của triều đại này là Menander hoặc gọi theo cách Ấn Độ là Milanda, trị vì vào những năm 155-130 TCN tiến quân về phía đông, tấn công vùng sông Hằng và chạm đến kinh đô của Magadha (Ma Kiệt Đà) là Pataliputra.” (Lương Ninh và các tác giả, 2009, tr.106)
Nhìn chung, các học giả Việt Nam chỉ ra sự tiếp xúc giữa người Ấn Độ và người Hy Lạp ban đầu là do chiến tranh, dẫn đến giao lưu chính trị và giao lưu thương mại Tuy nhiên, giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Ấn Độ và Hy Lạp chưa được các nhà sử học quan tâm làm rõ Trong khi đó, giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp nhìn từ phương diện văn học thì có một số các công trình nghiên
cứu so sánh về sử thi Ấn Độ và sử thi Hy Lạp như Thủ pháp so sánh trong sử
thi Iliad – Odyssey, sử thi Ramayana, những điểm chung và riêng của Phạm
Phương Chi (2003); Oedipus Ấn Độ (Phan Thu Hiền dịch, 2008), Những anh
hùng nửa trần tục – nửa thần linh và sự triển khai lí tưởng về một kiểu mẫu anh hùng trong sử thi Mahabharata (Ấn Độ) của Phan Thu Hiền (2009), Về quan niệm nhân vật anh hùng trong sử thi Ấn Độ nhìn từ góc độ so sánh của Lê Thị
Bích Thủy (2012); Sự tương đồng và khác biệt về ý chí và sức mạnh của nhân
vật anh hùng trong một số sử thi Hi Lạp và Ấn Độ của Nguyễn Thị Quỳnh Như
(2014)
Các nghiên cứu trên tập trung khai thác thủ pháp nghệ thuật và nhân vật anh hùng trong sử thi Ấn Độ và Hy Lạp Dưới góc độ nghiên cứu so sánh song song những điểm tương đồng và dị biệt với sử thi Hy Lạp, làm nổi bật hình tượng nhân vật anh hùng trong các sử thi Ấn Độ Cụ thể hơn, Phan Thu Hiền (2009)
đã viết: “So sánh với Iliad để làm sáng tỏ đặc trưng trong quan niệm nghệ thuật
về con người nói chung, người anh hùng nói riêng của sử thi Ấn Độ.” Lê Thị
Trang 20Bích Thủy (2012) và Nguyễn Thị Quỳnh Như (2014) tập trung so sánh hình tượng nhân vật anh hùng qua các phương diện vẻ đẹp ngoại hình và vẻ đẹp phẩm chất, đức hạnh, sức mạnh, tài năng và trí tuệ Qua so sánh, tác giả cố gắng lý giải những điểm tương đồng và dị biệt của nhân vật anh hùng qua sử thi Ấn Độ
và Hy Lạp Theo tác giả, sự tương đồng là do tương đồng về thời đại anh hùng,
tư duy thần thoại và về thể loại; trong khi sự dị biệt là do sự khác nhau về hệ tư tưởng giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, khác nhau về tôn giáo và cơ
sở lịch sử xã hội Các tác giả bỏ qua yếu tố giao lưu văn hóa của Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại
Trong khi đó, công trình Oedipus Ấn Độ do Phan Thu Hiền dịch đã nghiên
cứu so sánh văn học Ấn Độ và văn học Hy Lạp Công trình đã chỉ ra những kiểu thức Hy Lạp trong thần thoại Ấn Độ và gọi kiểu thức đặc sắc này là “Oedipus
Ấn Độ” Sự tương đồng thể hiện qua các kiểu thức về các quan hệ gia đình như cùng giới tính thì căm ghét nhau, khác giới tính thì hấp dẫn nhau Con trai thèm muốn mẹ và tấn công cha như Oedipus, con gái yêu cha và căm ghét mẹ như Electra là những kiểu thức Hy Lạp Trong khi ở kiểu thức Ấn Độ thì cha áp chế, tấn công con trai và thèm khát con gái, mẹ thèm muốn con trai và đày ải con gái (Phan Thu Hiền dịch, 2008, Phần khái quát) Mặc dù tác giả công trình không đưa ra lời giải thích cho sự tương đồng trên, công trình chỉ nhằm mục đích so sánh song song, tuy nhiên có thể loại suy được rằng kiểu thức Ấn Độ là do sự vay mượn từ kiểu thức Hy Lạp vì tác giả cho rằng:
“Trong những bản kể ban đầu chúng ta có thể thấy những dấu vết hoặc những thành tố Hy Lạp… những bản kể muộn hơn và phổ biến hơn lại thay đổi các dấu vết, các yếu tố ấy thành kiểu thức Oedipus Ấn Độ Thí
dụ, trong bản Ramayana sớm nhất, Sita là con gái của Ravana khi sinh ra
bị lời nguyền rủa mang cái chết cho cha mình Bản sau này của Valmiki
- bản nổi tiếng nhất và lan truyền rộng rãi nhất thì không hề có đoạn này (Phan Thu Hiền dịch, 2008)
Các công trình tiếng Anh
Trang 21Lal (2004) trong công trình Yavanas in the ancient Indian inscriptions
(Yavanas trong các minh văn Ấn Độ cổ đại) đã bàn luận nguồn gốc và ý nghĩa
của thuật ngữ Yavanas Yavanas, theo tác giả, được người Ấn Độ dùng để chỉ
người Hy Lạp ở Ấn Độ Lal (2004) khảo sát các minh văn trên các trụ đá của vua Ashoka ở khắp nước Ấn Độ từ Bắc đến Nam (Trụ đá số V và XIII ở Peshawa, Tây Bắc, trụ đá số II ở Gujarat, v.v.) và các chùa hang như Karle để chỉ ra sự hiện diện của người Hy Lạp ở tiểu lục địa Ấn Độ Việc người Hy Lạp đến Ấn Độ còn được chứng minh qua công trình của Parmar (2015) khi tác giả nghiên cứu công trình Geography (Địa Lý) của Strabo Parmar dựa vào các công trình của các nhà du hành Hy Lạp, nhà sử học của Alexander, các sứ giả Hy Lạp
ở Ấn Độ để so sánh cứ liệu về Ấn Độ Mặc dù tác giả không đặt đối tượng nghiên cứu của mình dưới góc nhìn giao lưu văn hóa nhưng những thông tin và phân tích của tác giả cho thấy sự giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại:
Ấn Độ trong văn chương Hy Lạp và các vị thần Hy Lạp (Dionysus và Heracles)
ở Ấn Độ là hai bình diện được tác giả tập trung nghiên cứu và phân tích sâu sắc Trong khi Lal (2004) nghiên cứu yếu tố Hy Lạp được thể hiện qua các minh văn
Ấn Độ, Parmar (2015) nghiên cứu yếu tố Ấn Độ trong văn chương Hy Lạp Có thể nói, Parmar đã tiếp nối hướng nghiên cứu của hai học giả Ấn Độ Mohan
Mishra và Narttam Mishra (2012) trong công trình India in Alien eyes (Ấn Độ
trong mắt của những người xa lạ) Mohan Mishra và Narttam Mishra đã dựa vào những ghi chép của sử gia Herodotus, nhà địa lý Strabo, nhà chiêm bái Huyền Trang, nhà thám hiểm đến Ấn Độ cũng như các nhà du hành Islam,
Macro Polo, những người Anh đầu tiên ở Ấn Độ
Đáng chú ý, công trình Classical Discovery of India: Contributions of the
Ancient Greeks and Romans to the Discovery of History and Civilization of India (Phát hiện cổ điển về Ấn Độ: Sự đóng góp của người Hy Lạp và người La
Mã cổ đại đối với sự phát hiện lịch sử và văn minh Ấn Độ) của tác giả GP Singh được Gyan Publishing House xuất bản năm 2018 là công trình mới nhất liên quan đến đề tài của luận án Công trình hệ thống hóa và khái quát nhiều bình diện của văn hóa cổ Ấn Độ và đã phân tích quá trình tiếp xúc dẫn đến sự giao
Trang 22lưu giữa Ấn Độ và Ba Tư, chỉ ra mối quan hệ hữu hảo về ngoại giao giữa triều đại Maurya và các quốc gia Hy Lạp hóa Công trình của GP Singh cung cấp nhiều thông tin mới, cập nhật về đề tài, cho thấy chủ đề giao lưu văn hóa này luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả từ cổ chí kim Tuy nhiên, sự cai trị của các triều đại Hy Lạp ở Ấn Độ không được tác giả chú trọng, tác giả chỉ dành 10 trang từ trang 477 đến 487 để miêu tả giai đoạn này, vì vậy, theo chúng tôi sự đóng góp của các triều đại Hy Lạp đối với văn hóa Ấn Độ được tác giả nghiên cứu một cách khái quát, do đó cần tập trung nghiên cứu làm
rõ giai đoạn giao lưu này
Ngược về thế kỷ XX, có công trình “The Greeks in Bactria and India”
(Người Hy Lạp ở Bactria và Ấn Độ) của William Woodthorpe Tarn (1938) gồm
539 trang chia đều ở 9 chương Trong đó, tác giả đã chỉ ra sự giao lưu giữa Ấn
Độ và Hy Lạp trên nhiều phương diện như kinh tế, xã hội, chính trị, văn học và
tư tưởng Tarn đã bàn về vua Menander và vương quốc của ông ở Ấn Độ, các thành bang Hy Lạp ở Viễn Đông, đặc biệt là đặc điểm và tổ chức của vương triều Menander cũng như thái độ của ông đối với Phật giáo Qua đó tác giả đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho đề tài Tarn (1938) phân tích sự ảnh hưởng qua lại giữa hai nền văn minh Ấn Độ và Hy Lạp Ông dùng thuật ngữ
Indianization (Ấn Độ hóa) để chỉ hiện tượng người Hy Lạp bị chinh phục bởi
văn hóa Ấn Độ Bên cạnh đó còn có rất nhiều bằng chứng cho thấy Ấn Độ bị ảnh hưởng bởi Hy Lạp trên các phương diện như ngôn ngữ, điêu khắc, văn học
và tư tưởng
Công trình Ancient India and Greece: A Study of their cultural contacts
(Hy Lạp và Ấn Độ cổ đại: Nghiên cứu tiếp xúc văn hóa), tác giả Chapeka (1977)
đã giới thiệu sơ lược về sự tiếp xúc văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp thể hiện qua các bình diện chính trị, nghệ thuật, khoa học, văn học, tôn giáo và triết học Dựa vào công trình của các học giả như Keith, Tarn, Banerjee và Jairajbhoy với góc nhìn sử học, tác giả đã phân tích sự giao lưu về chính trị giữa triều đại Maurya với các vua Ấn-Hy Lạp và mối quan hệ giữa trường phái nghệ thuật Gandhara
và Mathura, Gandhara và Dravidian Chapeka thừa nhận sự ảnh hưởng của Hy
Trang 23Lạp đến nhiều mặt của văn hóa Ấn Độ nhưng lại cho rằng người Hy Lạp bị Ấn
Độ đồng hóa (assimilated) hay Ấn Độ hóa (Indianized) Chúng tôi cho rằng
công trình Ancient India and Greece: A Study of Their Cultural Contacts chỉ
mang tính chất tham khảo vì công trình chỉ vỏn vẹn 82 trang, không có hình ảnh minh họa, chưa cung cấp bằng chứng khoa học Công trình cũng chưa chỉ ra được bản chất của sự giao lưu: giao lưu tự nhiên, tự nguyện hay bắt buộc Bản chất của sự giao lưu có thể là cho và nhận (give-and-take), ảnh hưởng qua lại (mutual influence) hoặc vay mượn (borrowing)
Công trình India and Greece: Connections and Parallels (Ấn Độ và Hy
Lạp: Những mối liên hệ và sự tương đồng), tác giả Saryu Doshi do trường Đại học Michigan giới thiệu năm 1985 đã so sánh song song và chỉ ra những sự tương đồng của hai nền văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp Đặc biệt là về văn hóa tinh thần, Doshi (1985) chỉ ra sự giống nhau giữa trường phái Khắc kỷ (Stoicism)
và Aristotle của triết học Hy Lạp và trường phái khổ hạnh (Ascetism) của triết học Ấn Độ Sự tương đồng giữa hai trường phái được tác giả cho là kết quả của
sự giao lưu “interchange” và ảnh hưởng qua lại (mutual influence), hay (reciprocal influences) (tr.viii) Tuy nhiên, công trình là kết quả của cuộc hội thảo do chính phủ Ấn Độ và Hy Lạp tổ chức vào năm 1984 ở Delphi nhằm thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước; vì vậy nghiên cứu sinh cho rằng thiếu
sự khách quan và nhận định khoa học của các học giả, nhà nghiên cứu
3.2 Giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp qua nhóm công trình nghiên cứu so sánh ảnh hưởng
3.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu yếu tố Ấn Độ trong văn hóa Hy Lạp
Các công trình tiếng Việt
Các công trình của học giả Việt Nam có quan điểm cho rằng Ấn Độ ảnh
hưởng văn hóa thế giới, đặc biệt là phương Tây có công trình Hành trình về
phương Đông (Journey to the East) của tác giả Baird T Spalding (1857-1953)
xuất bản năm 1924 ở Ấn Độ được Nguyên Phong dịch và phóng tác và được
Nhà xuất bản người Việt công bố tại Việt Nam năm 1988, Những tiếp xúc ban
đầu giữa Ấn Độ và phương Tây của Đỗ Thu Hà (2000) đăng trong kỷ yếu của
Trang 24Hội thảo Khoa học Đông phương học Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức tại
Hà Nội và Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ đối với châu Âu, Tạp chí Nghiên cứu châu Âu, số 3 (45), 2002 cùng tác giả và Đặc trưng văn hóa Ấn Độ và ảnh
hưởng của nó với thế giới và Việt Nam của Nguyễn Hoài Văn (2017)
Trong đó, Hành trình về phương Đông kể về những trải nghiệm của một
đoàn khoa học gồm các chuyên gia hàng đầu của Hội Khoa học Hoàng gia Anh được cử sang Ấn Độ để nghiên cứu về huyền học và những khả năng siêu nhiên của con người Suốt hai năm trời các thành viên trong đoàn rong ruổi khắp các đền, chùa Ấn Độ, chứng kiến nhiều pháp thuật, nhiều cảnh mê tín dị đoan, thậm chí lừa đảo của nhiều pháp sư, đạo sĩ dỏm Cuối cùng, họ được tiếp xúc với những vị chân tu thông thái sống ẩn dật ở thị trấn hay trên rặng Tuyết Sơn Nhờ thế, các nhà khoa hoc Anh được chứng kiến, trải nghiệm, hiểu biết sâu sắc về các khoa học cổ xưa và bí truyền của văn hóa Ấn Độ như yoga, thiền định, thuật chiêm tinh, các phép dưỡng sinh và chữa bệnh, những kiến thức về nhân duyên, nghiệp báo, luật nhân quả, cõi sống và cõi chết Tuy nhiên, công trình của
Nguyên Phong được dựa trên nguyên tác Life and Teaching of the Masters of
the Far East (Cuộc đời và sự nghiệp truyền đạo của những người Thầy ở Viễn
Đông) của tác giả Baird T Spalding Nguyên tác kể về hành trình của mười một nhà khoa học đến vùng Viễn Đông vào năm 1894 với mục tiêu tìm kiếm những bậc chân sư Trải qua hơn ba năm ở Ấn Độ, các nhà khoa học đã gặp được bậc chân sư và tận mắt chứng kiến những điều kỳ diệu mà trước đó họ chưa bao giờ nhìn thấy và không thể tin nổi Họ đã đi từ hoài nghi đến hoàn toàn bị thuyết phục và tin tưởng Một vài người trong số họ đã quyết định ở lại trải nghiệm cuộc sống giống như các bậc chân sư Ấn Độ, trong đó có nhà khoa học và là tác giả của quyển sách Baird T Spalding Công trình cho thấy mãi đến thế kỷ XIX, những hiểu biết của người phương Tây đối với phương Đông vẫn còn hạn chế và xa lạ Khi tiếp xúc trực tiếp và thực nghiệm, các nhà khoa học phương Tây hoàn toàn bị Ấn Độ chinh phục và làm cho thán phục
Trong khi đó, Đỗ Thu Hà (2000) lại nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa phương Tây nói chung vào thời kỳ Trung cổ trở về sau và tác
Trang 25giả khẳng định: “Trong suốt thời kỳ Trung cổ, có rất ít hoặc không có gì liên hệ
trực tiếp giữa Ấn Độ và phương Tây.” (tr.463) Theo tác giả thì người phương
Tây đến với Ấn Độ ban đầu chỉ là sự tình cờ nhưng dần dần họ đã bị lôi cuốn bởi chiều sâu tâm linh của nền văn hóa và văn minh Ấn Độ Mối liên hệ liên quan trực tiếp giữa Ấn Độ và phương Tây được thiết lập lần đầu tiên kể từ thời
kỳ suy tàn của đế chế La Mã vào năm 1498, Vasco Da Gama đi thuyền buồm tới cảng Calicut, mở ra thời kỳ giao lưu văn hóa Đông-Tây Tư tưởng triết học trong Upanishad và văn học của Ấn Độ đã ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Đức, Pháp, Anh, v.v…
Tương tự, Nguyễn Hoài Văn (2017) trong bài viết Đặc trưng văn hóa Ấn
Độ và ảnh hưởng của nó đối với thế giới và Việt Nam, khi bàn về “tinh thần Ấn
Độ” đã cho rằng: ‘Văn hóa Ấn Độ tiếp nhận, đồng hóa nhiều yếu tố văn hóa
ngoại nhập đồng thời cũng lan tỏa rộng rãi ảnh hưởng của mình ra thế giới.’
Tác giả đã chỉ ra sự tiếp xúc và giao lưu của Ấn Độ với thế giới bên ngoài qua
ba cửa ngõ:
“Một là qua hướng Tây Bắc, Ấn Độ đã thường xuyên tiếp xúc, đón nhận những ảnh hưởng của các tộc người ở cao nguyên Afghanistan, Iran, Trung Cận Đông và Địa Trung Hải; hai là cửa ngõ Đông Bắc tiếp xúc với thế giới
da vàng, và ba là đường biển tiếp xúc với các chủng tộc có da màu sẫm.”(tr.103)
Những cuộc giao lưu ở cửa ngõ Tây Bắc về tính chất được tác giả đánh giá
“một mặt là tự nhiên, mặt khác do cưỡng bức” Về địa lý, địa hình nơi đây nổi
tiếng với ngọn đèo Khyber, kết nối vùng Kabul và Peshawar, và là cửa ngõ tiếp xúc với các tộc người và đạo quân xâm lược từ bên ngoài vào tiểu lục địa Ấn
Độ Nguyễn Hoài Văn (2017) đã nhận định: “Ấn Độ đã tồn tại trong lịch sử
như một đất nước vừa mang tính chất đóng kín vừa mang tính chất giao lưu.”
Song, công trình của Nguyễn Hoài Văn không tập trung vào đề tài giao lưu văn hóa ở Ấn Độ mà chỉ khái quát giai đoạn này và đưa ra một số nhận định đánh giá xác đáng về sự đóng góp của giai đoạn giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và các quốc gia Hy Lạp hóa vào sự phong phú của nền văn hóa Ấn mà thôi Ngược
Trang 26lại, Nguyễn Hoài Văn nhấn mạnh sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đối với văn hóa thế giới nói chung trong đó có Việt Nam Về nội dung nghệ thuật, Lương Ninh (1994) và Lê Thị Liên (2006) đã phân tích chi tiết về nghệ thuật Phật giáo
và Hindu giáo ở Đông Nam Á và ở Đồng bằng sông Cửu Long Thế nhưng, các tác giả chỉ xem xét những tiếp biến và ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ ở Đông Nam Á và Đồng bằng sông Cửu Long, chứ chưa giải quyết sự hình thành và các yếu tố ngoại sinh của mỹ học Ấn Độ
Các công trình tiếng Anh
Pococke (1862) trong công trình India and Greece: or truth in mythology (Ấn Độ và Hy Lạp: hay chân lý trong huyền thoại) khẳng định rằng Ấn Độ ảnh
hưởng Hy Lạp về mọi mặt từ ngôn ngữ, triết học, tôn giáo, sông, núi, các tộc người, tầng lớp trí thức, thể chế chính trị,… Tác giả cung cấp nhiều bằng chứng cho thấy Hy Lạp đã từng là thuộc địa của Ấn Độ Pococke (1862) so sánh trường hợp thuộc địa Ấn Độ ở Hy Lạp với trường hợp Saxons ở Anh (tr.19) Tuy nhiên, quan điểm của tác giả chưa nhận được sự đồng thuận của các nhà nghiên cứu thế giới khi cho rằng Ấn Độ từng cai trị Hy Lạp trong lịch sử
Công trình Greek image of the Indian society (Cảm nhận của người Hy Lạp
về xã hội Ấn Độ) của tác giả Arora (1982) cho rằng người Hy Lạp bắt đầu tiếp xúc với người Ấn Độ vào triều đại của đế chế Ba Tư Khi cả hai cùng phục vụ trong triều đại này, người Hy Lạp có cơ hội và điều kiện học tập người Ấn Độ
và chính những người Hy Lạp ở Ionia đã giúp lan tỏa tư tưởng Ấn Độ Arora
đã tham khảo các tài liệu ghi chép về Ấn Độ của những nhà du hành và sử gia
Hy Lạp để chỉ ra sự giao lưu tiếp xúc giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại Theo tác giả, khi Alexander và đoàn quân của ông đến Ấn Độ đã đụng độ với những người Bà la môn Những người Bà la môn chia thành hai nhóm: nhóm phản đối
sự xâm lược của Alexander và nhóm những nhà thông thái “wise-men” Tác giả cho rằng chính những nhà thông thái Ấn Độ đã ảnh hưởng những kẻ xâm lược (tr.472) Tuy nhiên, công trình nghiên cứu dưới góc nhìn lịch sử, mà chưa phân tích và xem xét vấn đề dưới góc nhìn văn hóa, đặc biệt là giao lưu tiếp biến văn hóa
Trang 27Có thể nói công trình The Greek Experience of India: from Alexander to the
Indo-Greeks của Richard Stoneman (2019) là công trình mới nhất và cập nhật
liên quan đến đề tài luận án Vào tháng 1 năm 1784, Hiệp Hội Châu Á Bengal
được thành lập tại Calcutta, William Jones (1746-1794) được bổ nhiệm làm Chủ
tịch (Harisha, 2019, tr.6) Hiệp hội đã ra mắt Tạp chí Asiatic Research Journal
(Tạp chí Nghiên cứu Châu Á) để xuất bản các bài viết về tôn giáo so sánh, nghiên cứu so sánh ngôn ngữ, văn hóa Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ William Jones, Chủ tịch Hội, nghiên cứu và đã phát hiện ra rằng vua Chandragupta của Ấn Độ
cổ đại không ai khác hơn là vua Sandrokottos được đề cập trong nhiều tài liệu của Hy Lạp Điều này đã cung cấp cho các nhà Ấn Độ học cơ sở quan trọng để nghiên cứu so sánh ảnh hưởng giữa Ấn Độ và Hy Lạp Stoneman đã nghiên cứu giai đoạn tiếp xúc Ấn Độ và Hy Lạp trong và sau cuộc Đông chinh của Alexander Công trình của Stoneman có thể làm thay đổi định kiến của phương Tây về Ấn Độ bằng việc so sánh nguồn tài liệu Ấn Độ và nguồn tài liệu Hy Lạp Stoneman cho rằng cuộc Đông chinh của Alexander đã giúp thúc đẩy giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp diễn ra mạnh mẽ Mặc dù Stoneman nhấn mạnh sự ảnh hưởng của Ấn Độ đối với tư tưởng Hy Lạp, nhưng tác giả bác bỏ quan điểm tái sinh của Pythagoras và nguồn gốc linh hồn của Plato chịu sự ảnh hưởng của
Ấn Độ
3.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu yếu tố Hy Lạp trong văn hóa Ấn Độ
Các công trình tiếng Việt
Nhóm công trình nghiên cứu theo hướng Hy Lạp ảnh hưởng Ấn Độ ở Việt Nam còn khá khiêm tốn, cho thấy các học giả Việt Nam chưa quan tâm đến
mảng đề tài này Trong khi đó, bài viết Ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp lên
nét điêu khắc của Phật giáo (Quảng Anh, 2011), đã bàn luận khá sâu sắc về “mỹ
lệ Hy Lạp” và sự lan tỏa của nghệ thuật Phật giáo ở một vùng rộng lớn từ vùng
Gandhara (thuộc miền Bắc Ấn Độ xưa), đến Trung Đông, rồi Trung Hoa và Nhật Bản và con đường Tơ lụa đóng vai trò quan trọng cho sự lan tỏa này Mặc
dù tác giả cho rằng: “Nghệ thuật Hy Lạp đã truyền đi dọc theo đường Tơ lụa từ
Hy Lạp qua nhiều thành thị đến miền Bắc Ấn Độ, rồi sang Trung Hoa và Nhật
Trang 28Bản bằng hai đường chính yếu: một là đường ngang qua Ấn Độ, một đi lên phía Bắc tới Hắc Hải”, tác giả đã không bình luận gì thêm về sự ảnh hưởng của mỹ thuật Hy Lạp đến nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ khi lan tỏa đến miền Bắc của đất nước này Xét về mặt chủ thể, rõ ràng Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo, nhưng ai
là chủ nhân của nghệ thuật Phật giáo? Trong nền nghệ thuật này, chúng ta thấy
có sự xuất hiện đậm nét của những đặc điểm nghệ thuật Hy Lạp Những câu hỏi liên quan đến sự hình thành, phát triển của nghệ thuật Phật giáo qua sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa diễn ra ở đây còn bỏ ngỏ chưa được giải quyết một cách thấu đáo Hơn nữa, tác giả cũng bỏ qua các yếu tố nội tại, nguyên nhân dẫn đến
sự hình thành và ảnh hưởng của nghệ thuật Phật giáo ở Ấn Độ là do sự thống trị của các triều đại Hy Lạp và nửa Hy Lạp (Indo-Greek) ở Gandhara, miền Bắc
Ấn Độ Mặt khác, công trình ‘Ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp lên nét điêu
khắc của Phật giáo’ chỉ ở dạng một bài báo nên không thể nghiên cứu chuyên
sâu và giải quyết vấn đề một cách thấu đáo
Các công trình tiếng Anh
Công trình The Influence of Greek Classics on Indian Culture in Ancient
Era (Sự ảnh hưởng của cổ điển Hy Lạp đối với văn hóa Ấn Độ thời cổ đại) của
ba học giả Trung Quốc Shumaila Firdos Yu, Wenjie Xu, và Sangyi (2017) cho rằng người Hy Lạp cổ đại là những nhà phát minh sản sinh ra nhiều yếu tố văn minh hơn bất kỳ dân tộc nào trên thế giới Các công trình nghệ thuật và tư tưởng
Hy Lạp được xem như là những hình mẫu chuẩn mực của thành tựu Các tác giả cho rằng Hy Lạp đã ảnh hưởng nhiều mặt đến văn hóa Ấn Độ bao gồm nghệ thuật, ngôn ngữ và văn hóa, trong đó, quan trọng nhất là sự phát triển tôn giáo
ở Ấn Độ là kết quả của sự tiếp xúc, giao lưu giữa Ấn Độ và Hy Lạp Các tác giả
lý giải nhân tố ảnh hưởng của Hy Lạp đối với Ấn Độ Theo quan điểm của các tác giả, Ấn Độ với xã hội-chính trị kém phát triển hơn Hy Lạp đã bị Hy Lạp ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vực đời sống và những dấu ấn Hy Lạp có thể vẫn còn hiện diện trong xã hội Ấn Độ ngày nay (tr.204) Tuy nhiên, nhận định này của các tác giả đúng nhưng chưa đủ và khá chủ quan khi cho rằng Ấn Độ có xã hội-chính trị kém phát triển Các tác giả đã quên rằng với hơn 5000 năm lịch sử,
Trang 29Ấn Độ đã đóng góp cho nhân loại và văn hóa thế giới nhiều giá trị vẫn tồn tại đến ngày nay Đó là các giá trị tôn giáo (Phật giáo, Hindu giáo và Jain giáo), giá trị triết học (Veda và Upanishad), Yoga, thiên văn và y học,… Vì vậy, rất cần thiết nghiên cứu vấn đề để đánh giá mối giao lưu Ấn Độ và Hy Lạp một cách đúng đắn, đầy đủ và khách quan hơn
Trước đây, khi chưa nhận thức đầy đủ về nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ, một nhà phê bình nghệ thuật có tầm ảnh hưởng lúc bấy giờ là John Ruskin (1811-
1900) cho rằng nghệ thuật Ấn Độ là “nguyên mẫu của nghệ thuật xấu xí trên
toàn trái đất” (Ruskin, 1872, tr 200) Tuy nhiên, James Fergusson, một nhà
nghiên cứu tiên phong và chuyên gia nghiên cứu về nghệ thuật Ấn Độ đã phát hiện ra rằng không chỉ trường phái nghệ thuật Gandhara mà nghệ thuật Amaravati cũng chịu sự ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp (Fergusson, 1873, tr 6) Cùng đồng thuận với quan điểm của James Fergusson, một nhà nghiên cứu
uy tín về khảo cổ học Ấn Độ là Alexander Cunningham trong các công trình
nghiên cứu của mình cũng cho rằng: “Tác phẩm điêu khắc Ấn Độ tốt nhất chỉ
có ý nghĩa trong phạm vi mà nó giống như các mẫu vật của nghệ thuật Hy Lạp”
(the finest Indian sculpture was significant only to the extent that it resembled specimens of Greek art (Cunningham, 1854, tr.125-26) Các nhà nghiên cứu cho thấy sự phát triển trong nghệ thuật Ấn Độ từ những hình mẫu xấu xí đến hình mẫu hoàn hảo nhờ vào yếu tố Hy Lạp Không chỉ dừng lại ở bình diện
nghệ thuật, trong công trình “Hellenism in Ancient India” (Hy Lạp hóa ở Ấn Độ
cổ đại), Gauranga Nath Banerjee (1920) đã phân tích và đánh giá sự ảnh hưởng của nền văn hóa Hy Lạp đối với văn hóa Ấn Độ trên các bình diện như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, nghệ thuật đúc tiền, chiêm tinh học, toán học, y học, nghệ thuật chữ viết, văn học, kịch nghệ, tôn giáo, triết học, và thần thoại Ông cho rằng Hy Lạp đã góp phần dù nhỏ vào nền văn minh của Ấn Độ cổ đại:
“Greece has played a part, but no means a predominant part, in the civilization
of ancient India.” (tr.26) Tuy nhiên, Hy Lạp không những ảnh hưởng Ấn Độ
mà Hy Lạp cũng bị Ấn Độ chinh phục, nhưng vấn đề chưa được tác giả quan tâm làm rõ
Trang 30Trong khi Banerjee (1920) cho rằng sự giao lưu với phương Tây là động lực thúc đẩy sự phát triển của nghệ thuật bản địa Ấn Độ và sự ra đời của triều đại Maurya đã cho thấy sự phục hưng của Ấn Độ sau thời gian dài hỗn loạn do chiến tranh và cũng là kết quả gián tiếp của cuộc Đông chinh của Alexander (Banerjee, 1920, tr.23) Một số học giả như Havell (1908) và Coomarswamy (1956) cho rằng nghệ thuật Ấn Độ mang yếu tố nội sinh và sự giao lưu giữa Ấn
Độ và Hy Lạp là do vấn đề chiến tranh và thương mại mà thôi Tương tự, Smith (1908) cũng cho rằng cuộc Đông chinh của Alexander Đại Đế không ảnh hưởng
gì đến văn hóa Ấn Độ Ấn Độ không hề bị Hy Lạp hóa khi tất cả sự cai trị của
Hy Lạp kết thúc ở đây (Smith, 1908, tr 110) Vấn đề còn nhiều tranh cãi và chưa có sự thống nhất giữa các học giả Trong khi Havell (1908) và Coomarswamy (1956) vừa công nhận sự giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ với Hy Lạp nhưng lại vừa phủ nhận mối giao lưu này khi cho rằng đó là do chiến tranh
và thương mại mang lại Nhưng ở khía cạnh nào đó thì mối giao lưu văn hóa
Ấn Độ-Hy Lạp là sự tất yếu cho dù tự nguyện hay cưỡng bức
Công trình của Coomarswamy (1974) về ‘The Influence of Greek on Indian
Art’ (Ảnh hưởng của Hy Lạp đối với nghệ thuật Ấn Độ) đã bình luận khá chi
tiết về nguồn gốc của nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ Ông đưa ra nhiều giả thuyết rằng: thứ nhất, nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ cổ đại làm từ vật liệu nhẹ như gỗ, đất sét, đất nung, vàng, đồng, tuyệt nhiên không có tác phẩm nào được làm tự chất liệu đá; thứ hai, nghệ thuật Ấn Độ có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật
vùng Địa Trung Hải và sự tương đồng này là do cùng gốc: “The Sources of
Mediterranean and Indian Decorative Art Are due rather to a Common Origin, than Borrowing in either Direction” (Vol.8, No.1 Winter,1974) Tương tự,
Coomarswamy cũng cho rằng nghệ thuật điêu khắc đá là do ảnh hưởng từ Hy Lạp Song, công trình của ông chỉ mới đưa ra nhận định sơ khởi và phỏng đoán chứ chưa đi sâu và làm rõ yếu tố Hy Lạp trong nghệ thuật Ấn Độ
Công trình “Hellenistic India” (Ấn Độ Hy Lạp hóa), tác giả Mairs (2006)
đã so sánh thời kỳ Hy Lạp ở Ấn Độ cổ đại và thời kỳ thuộc Anh của Ấn Độ Ông cho rằng Ấn Độ trong lịch sử đã từng là thuộc địa của Hy Lạp và chỉ ra
Trang 31mối quan hệ kẻ cai trị và người bị trị “relationship between colonizers and colonized” Giai đoạn Hy Lạp hóa “Hellenistic Period” vào khoảng 323-31 TCN, thuật ngữ này được dùng để chỉ sự pha trộn văn hóa giữa Hy Lạp và phương Đông khi người Hy Lạp bắt đầu định cư ở Ấn Độ và Trung Á Văn hóa
Hy Lạp không còn thuần túy mà giao lưu và tiếp biến văn hóa với các quốc gia
ở Tây Á, Trung Á, Nam Á, điển hình là Ấn Độ
Mairs (2006) đã sử dụng lý thuyết ‘Hậu Thuộc địa’ và phương pháp nghiên cứu lịch đại để tìm hiểu lịch sử Ấn Độ thời kỳ Hy Lạp hóa Ông dựa vào các nghiên cứu từ thế kỷ XVIII, XIX, XX và thời kỳ hiện đại về đề tài Ông chỉ ra các quan điểm đối lập về đề tài của học giả người Anh và học giả người Ấn Độ
Trong khi Tarn (1938) trong công trình The Greeks in Bactria and India khẳng
định các quốc gia Hy Lạp ở phương Đông và những vị vua của các triều đại
Ấn-Hy (Indo-Greek) là người Ấn-Hy Lạp, Narrain (1957) lại cho rằng vua của các triều đại đó là người Ấn Độ và khẳng định người Hy Lạp bị Ấn Độ chinh phục “They came, they saw, but India conquered” (Narrain, 1957, tr.18) Như vậy, có những quan điểm khác nhau giữa học giả phương Tây và học giả Ấn, và giữa các học giả phương Tây với nhau
Công trình “Foreign Influence on Indian Culture from c 600 B.C to A.D
320’’ (Ảnh hưởng nước ngoài đối với văn hóa Ấn Độ từ 600 TCN đến 320 CN),
tác giả Manjari Ukil (2006) phân tích sự xuất hiện của những người nước ngoài
ở Ấn Độ cổ đại và đóng góp của họ vào sự phát triển văn hóa, xã hội Ấn Độ Tác giả khẳng định nguồn gốc nước ngoài hoặc có yếu tố ngoại sinh của các vị thần Ấn Độ như Sakti Durga, Shiva, Krisna, Vishnu, Surya (thần Mặt trời), Laksmidevi và Skanda-Karttikeya (thần Chiến tranh) Ukil (2006) cho rằng trong số những người nước ngoài đến sinh sống ở Ấn Độ có người phương Tây,
đặc biệt là người Hy Lạp Thuật ngữ Meleccha xuất hiện trong các tài liệu văn
học, kinh điển (Phật giáo, Jain giáo và Bà La Môn giáo), Puranas (Thần tích),
sử thi Mahabharata và Ramayana để chỉ người nước ngoài và Yavanas dùng để
chỉ người Hy Lạp ở Ấn Độ (Ukil, 2006, tr.36) Ukil là một học giả người Ấn
Độ nhưng bà đã ủng hộ quan điểm rằng người phương Tây đã ảnh hưởng sâu
Trang 32sắc đến văn hóa Ấn Độ thể hiện ở ba phương diện chính đó là đời sống xã hội, nghệ thuật và tôn giáo Trong đó, sự ảnh hưởng đối với đời sống tôn giáo, tư tưởng của người Ấn Độ phải trải qua một thời gian dài và lâu nhất Bà còn cho rằng tín đồ Phật giáo là những người đầu tiên tiếp nhận các yếu tố ngoại sinh và sau đó là tín đồ Hindu giáo (Ukil, 2006, phần lời nói đầu)
Công trình The Impact of Ancient Greek Medicine in India: The Birth of
Unani Medicine (Sự ảnh hưởng của y học Hy Lạp cổ đại ở Ấn Độ: Nguồn gốc
của y học Unani) của Karamanou (2015), trường đại học Y, Athens nghiên cứu
và phân tích nguyên lý cùng với ứng dụng của y học Unani trong đời sống Tác giả cho rằng y học Unani có nguồn gốc của y học Hy Lạp và Ả Rập được Hippocrates, Galen và các y sĩ Ả Rập giảng dạy và ứng dụng Bên cạnh đó, sự phổ biến của y học Unani là do sự đồng hóa (assimilation) y học Hippocrates ở
Ấn Độ Nguyên tắc Hippocrates được Ấn Độ tiếp thu và biến cải trong khi vận dụng tư tưởng triết học và các yếu tố bản địa Y học Unani, hiện nay, không chỉ rất phổ biến với người dân ở Ấn Độ mà còn cả giới y học trên thế giới
Trong công trình “Intercourse between India and the Western World from
the Earliest Times to the Fall of Rome” (Sự Giao thoa văn hóa giữa Ấn Độ và
thế giới phương Tây từ buổi đầu cho đến sự sụp đổ của La Mã), tác giả Rawlinson (1916) đã bàn về giai đoạn Ba Tư cai trị ở Ấn Độ, triều đại Maurya cùng với sự tiếp xúc đầu tiên với người Hy Lạp Megasthenes, sau đó là các triều đại Hy Lạp, nửa Hy Lạp ở vùng Punjab và triều đại Ptolemies Đặc biệt, từ trang 155 đến 181 Rawlinson (1916) đã phân tích tỉ mỉ những ảnh hưởng của
sự giao thoa hay quan hệ (intercourse) văn hóa giữa Ấn Độ và phương Tây, cụ thể là Hy Lạp Ông đã khẳng định và đặt câu hỏi về mối quan hệ này:
“India was in more or less constant communication with the west Had this long intercourse of nearly ten centuries any influence upon the development of the art, literature, or thought of India?”
(Ấn Độ ít nhiều tiếp xúc liên tục với phương Tây Sự giao thoa gần mười thế kỷ này có ảnh hưởng đến sự phát triển của nghệ thuật, văn học và tư tưởng của Ấn Độ không?) (Rawlinson, 1916, tr 155)
Trang 33Ông còn cho rằng Ấn Độ tiếp xúc với Hy Lạp trước và vào thời kỳ của Alexander có thể đã diễn ra một cách không trực tiếp mà thông qua Ba Tư Từ sau triều đại Maurya (Khổng Tước), sự tiếp xúc và giao lưu này diễn ra mạnh
mẽ và có tác động không nhỏ đến văn hóa Ấn Độ do các triều đại Hy Lạp và nửa Hy Lạp ở vùng Punjab mang lại (Rawlinson, 1916, tr 161) Tuy nhiên, tác giả nhấn mạnh sự giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và La Mã (Roman) nhiều hơn
và xem nhẹ giai đoạn giao lưu Ấn Độ-Hy Lạp từ thời đại vua Ashoka và sự ảnh hưởng của các triều đại Ấn-Hy Lạp (Indo-Greek) ở vùng Punjab
3.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Nhìn lại tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án, có thể rút ra những nhận xét sau:
Một là, có thể khẳng định rằng vấn đề giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời
cổ đại thực sự chưa được đề cập đến một cách có hệ thống và đầy đủ trong các công trình nghiên cứu giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại ở Việt Nam Trong khi đó, việc nghiên cứu về vấn đề giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp
đã thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới nói chung, giới nghiên cứu Ấn Độ và Hy Lạp nói riêng, với nhiều công trình được công bố qua cách tiếp cận đa chiều, nhiều góc cạnh Tuy nhiên, qua tìm hiểu nguồn tài liệu, chúng tôi nhận thấy, các công trình được phân tích còn mang tính chủ quan thể hiện rõ qua hai quan điểm: quan điểm cho rằng Ấn Độ ảnh hưởng Hy Lạp và quan điểm còn lại khẳng định Hy Lạp đã ảnh hưởng Ấn Độ trên nhiều phương diện Một số công trình khác chỉ tập trung nghiên cứu sự tương đồng và dị biệt trong văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp Điều đáng nói là, các công trình nghiên cứu của học giả phương Tây dựa trên quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm cho thấy những định kiến, chủ quan, do đó đã tác động không nhỏ đến việc nghiên cứu nhiều văn bản và tài liệu cổ của Ấn Độ Harisha (2016) đã lên tiếng phê phán rằng các học giả phương Tây dựa vào triết học và thần học của mình cùng với
tư cách quyền uy tối cao của chế độ thuộc địa đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình các diễn giải các kinh điển Veda và định hướng phương Đông
học trong 300 năm qua về học thuật (tr.4) Trong công trình của mình “Nghiên
Trang 34cứu Veda của Sri Aurobindo trong bối cảnh các nghiên cứu lấy châu Âu làm trung tâm”, Harisha đưa ra lời nhận xét xác đáng rằng khi phong tục và các nền
văn hóa đụng độ với nhau trong thời kỳ thực dân và các giai đoạn khó khăn của mỗi xã hội, việc tranh luận và trao đổi kiến thức sẽ không phải là giữa các nền văn hóa bình đẳng với nhau mà là giữa thực dân và người bị cai trị (Harisha,
2019, tr.5) Do đó, trên nền tảng các công trình của các học giả phương Tây, đề tài luận án cần được nghiên cứu để đưa ra những đánh giá và nhận xét đúng đắn, khách quan và khoa học
Hai là, vấn đề giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại rất phức tạp, bởi
vì bản thân nó vừa là vấn đề lịch sử vừa là vấn đề văn hóa Từ thời đại của Scylax đến Strabo, Ấn Độ được các nhà du hành, sử gia, triết gia và cả những
sứ giả Hy Lạp nghiên cứu và để lại nhiều công trình vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay Họ nghiên cứu lịch sử Ấn Độ, ngôn ngữ và văn học Sanskrit, nghệ thuật, kiến trúc, đền thờ, minh văn, tiền xu, hệ thống và đời sống làng xã Một
số tập trung nghiên cứu trường hợp như y học, minh văn, chiêm tinh học, v.v,… Trong thế kỷ XX nổi lên hướng tiếp cận khảo cổ học về đề tài giao lưu văn hóa nói chung và giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ với Hy Lạp thời cổ đại nói riêng Nhiều cuộc khai quật được tiến hành ở các di chỉ khảo cổ học ở Ấn Độ, Ai Cập,
Hy Lạp, Lưỡng Hà, Babylon, Thổ Nhĩ Kỳ và các địa điểm thuộc các quốc gia
Hy Lạp hóa Các nghiên cứu mong muốn khám phá những ảnh hưởng qua lại của hai nền văn hóa của thế giới này Giới nghiên cứu cổ điển tìm kiếm sự ảnh hưởng của Hy Lạp ở Ấn Độ, trong khi các nhà nghiên cứu Ấn Độ cố gắng chứng minh Hy Lạp đã từng tiếp xúc và giao lưu với Ấn Độ và đất nước được mệnh danh “Vương quốc tâm linh” đã ảnh hưởng đến Hy Lạp trên nhiều phương diện như ngôn ngữ, triết học, tôn giáo Điều đáng nói là, ngày càng có nhiều học giả người Ấn Độ đồng thuận với quan điểm rằng Hy Lạp đã ảnh hưởng đến văn hóa
Ấn Độ, đặc biệt là lĩnh vực nghệ thuật tạo hình Do đó, nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại cần được đặt trong tổng thể của khu vực
và trong tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến vấn đề giao lưu văn hóa để đưa ra những nhận định khoa học và khách quan
Trang 35Ba là, qua tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy ở Việt Nam còn một
khoảng trống trong khoa học rất lớn về vấn đề này Mặc dù giao lưu văn hóa
Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại được đông đảo các nhà khoa học nước ngoài quan tâm, nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, bình diện, nhưng các công trình nghiên cứu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào khía cạnh văn học, phần lớn so sánh sử thi Mahabharata và Ramayana của Ấn Độ với sử thi Iliad và Odeyssey của Hy Lạp Một số công trình tiếp cận dưới góc nhìn lịch sử hoặc bản thể luận, triết học, tôn giáo,… Trong khi đó, ở Ấn Độ, các nhà nghiên cứu và những người Hindu yêu nước đang nỗ lực để viết lại lịch sử văn hóa và chính trị của đất nước họ
Ở Việt Nam, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ về mối quan hệ giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại Điều này một phần là do sự hạn chế về nguồn tư liệu nên các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của Hy Lạp đối với nghệ thuật Ấn Độ chỉ mới đề cập một cách khái quát, căn bản, chung chung Các nghiên cứu về vấn đề giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp chưa thể hiện đầy đủ, cập nhật và phân tích các quan điểm khác nhau của giới nghiên cứu
Ấn Độ và thế giới về vấn đề Bên cạnh đó, các công trình về sự ảnh hưởng của
Ấn Độ đến triết học Hy Lạp cũng chưa được các học giả Việt Nam chú trọng và quan tâm Hơn thế nữa, các công trình nghiên cứu giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại qua cách tiếp cận liên ngành và văn hóa học so sánh thể hiện qua phương pháp so sánh song song, so sánh ảnh hưởng và so sánh xuyên văn hóa ở Việt Nam cũng rất hạn chế
Mặt khác, về góc độ lịch sử, ở Ấn Độ cổ đại, sau khi triều đại Maurya sụp
đổ, xã hội Ấn Độ chứng kiến sự ra đời của hàng loạt các triều đại Hy Lạp và nửa Hy Lạp (Indo-Greek) cai trị ở vùng Tây Bắc Ấn Các triều đại nước ngoài này đã đóng góp rất lớn vào lớp văn hóa Aryan ở Ấn Độ, góp phần vào việc định hình và làm phong phú cho lớp văn hóa này, nhưng chưa được các học giả Việt Nam quan tâm và nhìn nhận
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài với hy vọng nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề trên cơ sở tổng hợp các công
Trang 36trình của các nhà khoa học đi trước, so sánh và rút ra những nhận định khách quan
3.4 Những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ
Từ việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về vấn đề liên quan đến luận án, ngoài việc tiếp thu kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu kể trên, luận án cần tiếp tục làm rõ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, giới thuyết các khái niệm liên quan đến đề tài, trong đó khái niệm Giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa và văn hóa so sánh được phân tích và vận
dụng để triển khai nghiên cứu đề tài; xác định tọa độ văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp
cổ đại gồm không gian, chủ thể và thời gian văn hóa; phân tích bối cảnh và các nhân tố tác động đã dẫn đến mối giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ đại, trong đó, cuộc Đông chinh của Alexander, người Hy Lạp ở Ấn Độ, công cuộc hoằng dương Phật pháp của vua Ashoka và con đường Tơ lụa được xem xét và phân tích cụ thể Đây là những yếu tố mà các công trình đi trước còn bỏ ngỏ hoặc chưa chú ý nghiên cứu
Thứ hai, vận dụng lý thuyết Giao lưu và tiếp biến văn hóa, Đa hệ thống và Vùng văn hóa-lịch sử để phân tích một cách toàn diện quá trình giao lưu văn
hóa Ấn Độ-Hy Lạp giai đoạn từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ VI CN Đây là giai đoạn có nhiều biến chuyển trong văn hóa ở cả Ấn Độ và Hy Lạp nhờ vào giao lưu văn hóa, tuy nhiên các học giả đi trước chỉ tập trung vào một giai đoạn nào
đó hoặc cho rằng văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp được phát triển song song và đồng thời, vì vậy, chưa tập trung nghiên cứu hiện tượng giao lưu văn hóa và di sản của nó
Thứ ba, làm sáng tỏ bản chất của giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ
đại bằng cách phân tích các điều kiện xuất hiện và những đặc điểm, nội dung cơ bản của nó trong bối cảnh văn hóa xã hội cổ đại Qua khảo sát các công trình nghiên cứu đi trước, các học giả chưa quan tâm đến tính chất của giao lưu văn hóa, nên chưa có nhận định nào về mối quan hệ giao lưu văn hóa này Trong khi tính chất của giao lưu văn hóa rất quan trọng vì nó giúp đưa đến kết luận về nguồn phát và chủ thể tiếp nhận Ngoài ra, bên cạnh xác định nguồn phát và
Trang 37chủ thể tiếp nhận, luận án tập trung làm rõ chủ thể tiếp nhận, tại sao tiếp nhận
và tiếp nhận như thế nào Đây là nhiệm vụ trọng tâm của luận án
3.5 Nhiệm vụ của luận án
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, hệ thống nguồn tư liệu nghiên cứu về vấn đề giao lưu văn hóa Ấn Độ
- Hy Lạp thời cổ đại
Thứ hai, làm rõ bản chất của mối giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp: giao lưu một
chiều hay hai chiều, nguồn phát và chủ thể tiếp nhận, giao lưu trực tiếp hay qua nhân tố thứ ba, ảnh hưởng hay vay mượn
Thứ ba, làm rõ những yếu tố chính tác động hoặc chi phối mối quan hệ giao lưu
giữa Ấn Độ và Hy Lạp
Thứ tư, trình bày và phân tích những nội dung chính của mối giao lưu văn hóa
Ấn Độ-Hy Lạp, bao gồm những ảnh hưởng của Hy Lạp trong văn hóa Ấn Độ
và những tiếp biến từ Ấn Độ trong văn hóa Hy Lạp
Thứ năm, đánh giá chung những quan điểm của các học giả trên thế giới về mối
quan hệ giao lưu Ấn Độ-Hy Lạp; đồng thời đưa ra nhận định và quan điểm của nghiên cứu sinh về vấn đề của luận án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học đã định nghĩa từ giao lưu trong
giao lưu văn hóa là có sự tiếp xúc và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hai luồng khác nhau, trong đó có giao lưu văn hóa (Hoàng Phê, 2018, tr.496); trong khi
đó, từ văn hóa cũng theo từ điển này chỉ tổng thể nói chung những giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử (tr.1396) Do
đó, trong đề tài luận án, giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp được nghiên cứu hai chiều, một mặt Ấn Độ tiếp nhận từ Hy Lạp kỹ thuật thể hiện qua nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và đúc tiền, bên cạnh đó dấu ấn Hy Lạp cũng được thể hiện trong
Trang 38văn học Purana và sử thi Mahabharata; trong khi Hy Lạp tiếp nhận tư tưởng triết học Phật giáo và Hindu giáo cũng như toán học từ Ấn Độ
Vấn đề giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp vẫn còn nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu văn hóa Ấn Độ Một số học giả phương Tây như Cunningham (1854), Fergusson (1872), Rawlinson (1916), Banerjee (1920), … cho rằng Hy Lạp ảnh hưởng Ấn Độ; trong khi một số nhà nghiên cứu khác như Havell (1908), Smith (1908), Chapeka (1977) v.v lại đưa ra giả thiết rằng Ấn
Độ ảnh hưởng Hy Lạp, người Hy Lạp bị đồng hóa bởi Ấn Độ Do đó, mối giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp là một vấn đề văn hóa quan trọng, là đối tượng luận
án tập trung nghiên cứu
Về nội dung, luận án nghiên cứu giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời cổ
đại trên cơ sở tọa độ văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại cũng như bối cảnh thực tiễn như con đường Tơ lụa, cuộc xâm lăng của Alexander đến Ấn Độ và công cuộc hoằng dương Phật giáo của vua Ashoka Mối giao lưu văn hóa được phân tích qua hai phương diện: những tiếp biến yếu tố Hy Lạp trong văn hóa Ấn Độ thể hiện qua các tác phẩm kinh điển, trong mỹ thuật và thiên văn học Ấn Độ và những yếu tố Ấn Độ trong tư tưởng, triết học và toán học Hy Lạp Sở dĩ nội dung luận án giới hạn ở các bình diện văn hóa trên vì: mỹ thuật Ấn Độ rất đặc sắc thể hiện qua nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc và nghệ thuật đúc tiền đều được bảo tồn và lưu giữ tại các Bảo tàng Ấn Độ, Anh Quốc, Đức, Nhật Bản, Pakistan như các hiện vật quý và có thể tiếp cận nghiên cứu để tái hiện mối giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại Bên cạnh đó, các tác phẩm kinh điển
Ấn Độ bao gồm các lĩnh vực tôn giáo, tư tưởng, triết học, và thiên văn cũng được lưu giữ và được dịch thuật từ tiếng Phạn sang các ngôn ngữ trên thế giới,
là nguồn tài liệu cổ và quý giá lưu lại những minh chứng cho mối giao lưu văn
Trang 39hóa Ấn Độ-Hy Lạp thời kỳ cổ đại Đây là những bình diện thể hiện mối giao lưu văn hóa của hai dân tộc đậm đà và rõ nét nhất
Mặt khác, các khía cạnh chính trị-xã hội và kinh tế được đề cập và thảo luận trong luận án đóng vai trò là các nhân tố xúc tác, thúc đẩy góp phần giúp mối giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp diễn ra hoặc đóng vai trò là thành tố của quá trình giao lưu
Về phạm vi không gian địa lý của luận án, xuất phát từ vùng Tây Bắc Ấn
Độ, nơi được xem là cửa ngõ với ngọn đèo Khyber nổi tiếng, kết nối với vùng Kabul và Peshawar bao gồm vùng Gandhara, Taxila (thuộc Pakistan ngày nay)
và Punjab của Ấn Độ và lãnh thổ vương Quốc Ấn-Hy Lạp Vùng Tây Bắc cũng
là nơi thường xuyên tiếp xúc với Bactria (ngày nay là vùng Đông bắc Afghanistan) và đón nhận những đợt di cư của các tộc người ở cao nguyên Afghanistan, Iran, Trung Cận Đông, Trung Á, Tiểu Á và Địa Trung Hải Bên cạnh đó, phạm vi không gian địa lý của luận án cũng mở rộng đến miền Bắc và miền Trung Ấn, nơi tọa lạc các vương quốc cổ Ấn Độ như Magadha (Ma Kiệt Đà), Maurya (Khổng Tước), Kushan (Quý Sương) và Gupta (Cấp Đa) Tương
tự, đối với Hy Lạp, không gian nghiên cứu là vùng Hy Lạp hóa
Về phạm vi thời gian, luận án nghiên cứu giao lưu văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp
thời cổ đại Thời cổ đại của lịch sử thế giới được tính từ khi có con người trên trái đất đến sự xuất hiện của các tổ chức xã hội đầu tiên của loài người (Thị tộc,
Bộ lạc) kéo dài đến thời Sơ kì Trung cổ châu Âu (khoảng 600-1000) (Crawford, 1927; Thôi Liên Trọng, 2002) Tuy nhiên, phân kì lịch sử của mỗi quốc gia ở phương Đông và phương Tây khác nhau do đặc điểm đặc thù lịch sử hình thành của mỗi quốc gia dân tộc khác nhau
Đối với Hy Lạp, các nhà khoa học phân kì lịch sử cổ đại Hy Lạp thành 5
giai đoạn (Đặng Hữu Toàn, 2014, tr.236):
- Thế kỷ XXIII-XII TCN là nền văn minh Kriti-Minoi cùng với các tiểu quốc như Mycenes (hay văn hóa Mycenes), Argos, Tirynthe, v.v… Thời đại này kết thúc bởi cuộc chiến thành Troy và sự xâm lăng của các bộ lạc phương Bắc
Trang 40- Thế kỷ XI-IX TCN là thời đại Homer, còn được xem là “thời kì đen tối” do có hiện tượng thoái trào văn hóa, chữ viết bị biến mất, các nghề thủ công thất truyền
- Thế kỷ V-IV TCN được xem là giai đoạn cổ điển, thời đại phát triển đỉnh cao
của văn hóa Hy Lạp Thuật ngữ Cổ điển theo Hoàng Phê (2018) chỉ tác giả, tác
phẩm văn học, nghệ thuật có tính chất tiêu biểu của thời cổ (tr.256) Thời kì này được đánh dấu bởi nhiều thành tựu vĩ đại trong văn học, triết học và nghệ thuật
- Sau cùng là thời kì Hy Lạp hóa từ thế kỷ IV đến những năm 30 TCN Thời
kỳ này được đánh dấu bởi sự kiện vương quốc Macedonia chinh phục các nhà nước-thị thành của Hy Lạp và cuộc Đông chinh của Alexander
Đặng Hữu Toàn (2014) và một số học giả trên thế giới xem thời đại thống trị của La Mã ở Địa Trung Hải và sự sụp đổ của đế chế này vào năm 476 CN đánh dấu sự kết thúc của lịch sử Hy Lạp cổ đại
Đối với Ấn Độ, các nhà sử học phân kì lịch sử thành các giai đoạn sau:
- Thời Tiền sử và Cổ sử: từ khi có con người đến giữa thiên niên kỷ I TCN
- Thời kì Cổ đại: được tính từ thiên niên kỷ I TCN đến thế kỷ VI CN
- Thời Trung cổ: từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVIII và
- Thời Cận và Cận hiện đại: từ thế kỷ XVIII đến nay
Thời kì Cổ đại ở Ấn Độ đánh dấu nhiều sự kiện văn hóa, xã hội, triết học, tôn giáo quan trọng: Các tác phẩm văn học cổ điển, kinh Veda, triết học Upanishad Đặc biệt là, thế kỷ VI TCN, Phật giáo và Jain giáo ra đời; tiếp theo đó là hiện tượng giao lưu, tiếp xúc qua cuộc Đông chinh của Alxexander đến Ấn Độ, người
Hy Lạp ở Ấn Độ gồm những tướng sĩ, binh lính và thương nhân, công cuộc hoằng dương Phật giáo của vua Ashoka (Ashoka) đến các nước lân cận và Địa