CHƯƠNG 3. SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA HY LẠP
3.1. Ảnh hưởng Ấn Độ đến triết học Hy Lạp
3.1.2. Ảnh hưởng của Triết học Phật giáo đối với Hy Lạp
Pyrrho được một số học giả phương Tây gọi là đức Phật Hy Lạp (Greek Đức Phật). Thuật ngữ Greek Đức Phật được Christopher I. Beckwith (2015) sử dụng trong công trình Greek Đức Phật: Pyrrho’s Encounter with Early Buddhism in Central Asia (Đức Phật Hy Lạp: Cuộc gặp gỡ của Pyrrho với Phật giáo thời kỳ đầu). Song thuật ngữ này trước đó đã được Nikos Dimou, Oellina Boudas sử dụng trong công trình Pyrrho & Influence of Hellenism on Buddhism (Pyrrho và sự ảnh hưởng của Hy Lạp hóa đối với Phật giáo) xuất bản ở Athens vào năm 1984. Giữa Beckwith và Nikos Dimou, Oellina Boudas có sự đối lập, trong đó Beckwith nghiên cứu sự ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ đối với Hy Lạp còn các học giả Hy Lạp lại nhấn mạnh vào thời kỳ Hy Lạp hóa đã ảnh hưởng đến Phật giáo Ấn Độ. Hướng nghiên cứu của các học giả trên đã cho thấy mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa Ấn Độ với Hy Lạp và ngược lại.
Pyrrho (360-270 TCN), sinh trưởng ở Elis, một thành phố của Hy Lạp, là nhà tư tưởng sáng lập ra chủ nghĩa Pyrrho (Pyrrhonism) hay chủ nghĩa Hoài nghi (Scepticism). Pyrrho được cho là cùng với thầy mình là Anaxarchus, một
triết gia dân chủ, theo đoàn quân viễn chinh của Alexander đến Ấn Độ và đã lưu trú tại Gandhara từ năm 330 đến 225 TCN. Trong thời gian này, Pyrrho đã tiếp xúc với những tu sĩ Phật giáo khổ hạnh mà người Hy Lạp thời đó gọi họ là
‘Gymnosophists’. Sinh thời, Pyrrho là một họa sĩ, ông bắt đầu theo triết gia Anaxarchus học tập và nghiên cứu triết học. Đến khi tiếp xúc với các Gymnosophists (nhà tu khổ hạnh), Pyrrho thực sự tìm được chân lý, ông đã bị những lời dạy của đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) chinh phục, đặc biệt là thuyết đặc tính của mọi vật là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Khi trở về Hy Lạp, Pyrrho sáng lập trường phái triết học mới, trường phái Pyrrhonism và được biết đến ở Hy Lạp cũng như trên thế giới như là trường phái Hoài nghi (Scepticism).
Pyrrho vừa là nhà sáng lập chủ nghĩa Pyrrhonism vừa là đại diện tiêu biểu nhất của trường phái này. Pyrrhonism ra đời, được Aenesidemus (thế kỷ I TCN) và Sextus Empiricus (thế kỷ II-III CN) phát triển và kéo dài đến thời kỳ Phục hưng ở phương Tây, cho thấy sức ảnh hưởng sâu rộng của trường phái này.
Chủ nghĩa Hoài nghi có tiếng Hy Lạp là Skeptikos; Skeptomai có nghĩa là Tôi thẩm tra, chỉ những triết gia từ chối những lập trường giáo điều (Dogmatism) và dấn thân vào những việc tra cứu, nghiên cứu, suy xét, thẩm tra (skepsis) những câu hỏi, tìm tòi khám phá về sự vật, hiện tượng và con người (Nguyễn Văn Khương, 2008). Về sự ra đời, bối cảnh xã hội, lịch sử và tư tưởng của chủ nghĩa Hoài nghi đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu như Schmitt (1972) và Popkin (1979) bàn về tác động lịch sử đối với chủ nghĩa Hoài nghi cổ đại, Fogelin (1994) xem xét chủ nghĩa Hoài nghi Pyrrhonism dưới ánh sáng của nhận thức luận cận đại, Han Kinson (1995) nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Hoài nghi cổ đại, trong khi Ann (1986, 1996), Burnyeat (1984) và Bett (1993) nghiên cứu so sánh chủ nghĩa Hoài nghi cổ đại và chủ nghĩa Hoài nghi hiện đại.
Pyrrhonism ra đời trong bối cảnh thực tế khủng hoảng xã hội vào cuối thế kỷ IV TCN ở Hy Lạp, đặt trọng tâm vào các vấn đề đạo đức-thực tiễn nhằm chống lại khuynh hướng nghiên cứu tồn tại và tư duy, tự nhiên và xã hội về mặt lý luận đang diễn ra. Phái Ngụy biện (Sophistike), được xem là tiền đề cho sự
ra đời của Chủ nghĩa Hoài nghi (Scepticism), Sophistike là trào lưu triết học rất thịnh hành từ thế kỷ V-IV TCN, trong đó nghệ thuật hùng biện được coi trọng trong đời sống xã hội và những ai có tài hùng biện, tranh luận được mọi người thán phục và xem đó là biểu tượng của sự thông thái (Nguyễn Văn Khương, 2008). Khuynh hướng này không chú trọng đến chân lý và mục đích tối thượng của con người. Pyrrhonism ra đời thể hiện tinh thần sắc bén chống lại chủ nghĩa giáo điều, ngụy biện, mở ra con đường dẫn tới tư tưởng biện chứng về chân lý tương đối, đối lập với chân lý tuyệt đối, đặc biệt là nhấn mạnh vào con người, xem con người là chủ thể hoài nghi về sự tồn tại của thế giới, để có ứng xử hợp lý với tự nhiên và thái độ sống ôn hòa trong xã hội. Do vậy, trên phương diện nhận thức luận, Pyrrhonism đặt vấn đề rằng “Con người có thể đạt tới chân lý hay không?”. Pyrrho đã đặt ra 3 nan đề mang tính kinh điển của chủ nghĩa Hoài nghi: một là đặc tính của sự vật, hiện tượng (nature of pragmata (ethical matters, affairs, topics)) là gì?, hai là sự chọn lựa thái độ (attitude) của con người đối với sự vật, hiện tượng như thế nào? và ba là những người có thái độ này sẽ đạt được kết quả gì (outcome)? Đây là sự lựa chọn lập trường sống, thái độ và mục đích sống của con người trong những bối cảnh văn hóa nhất định của lịch sử để đạt được hạnh phúc.
Pyrrho cũng như các triết gia thời kỳ Hy Lạp hóa quan tâm đến vấn đề hạnh phúc của con người hay trạng thái hạnh phúc, bình thản, tĩnh tâm (ataraxia), vì theo Pyrrho, chúng ta không thể xác định được sự vật do nó không ổn định, thường biến đổi và sinh ra những bất đồng. Do đó, chủ nghĩa Pyrrhonism kêu gọi mọi người hãy không đưa ra bất kỳ một suy xét dứt khoát nào về các sự vật.
Những người theo chủ nghĩa Hoài nghi cho rằng con người không thể vượt ra khỏi giới hạn những cảm giác của mình và cũng không xác định được là trong số cảm giác ấy cảm giác nào là thật. Lập trường của Pyrrho là không quan điểm, không lý thuyết (tiếng Anh: No views, no theories; tiếng Hy Lạp: adoxastous) hay kiềm chế sự phán đoán (epoche) giúp con người có thái độ bàng quan đối với sự vật, dẫn đến chỗ làm cho con người thoát khỏi sự hoài nghi và đạt đến một trạng thái bình thản trong tâm hồn (ataraxia). Thái độ sống yên ổn, tốt nhất
là không nhận xét bất cứ cái gì, bởi vì Pyrrho cho rằng: “Cái thiện cao nhất là không nên nhận xét bất cứ gì. Có như vậy thì linh hồn mới được yên ổn” (Hà Thúc Minh, 2000, tr.115). Do vậy, ataraxia (tinh thần thanh thản nhờ epoche) không chỉ là trạng thái hạnh phúc nhất của con người mà còn là con đường để đạt tới trạng thái giải thoát trong tâm hồn (eudaimonia), con người được tự do, không bị trói buộc bởi những thuộc tính của sự vật. Theo Pyrrhonism, quan điểm của con người về những sự vật không xác thực, phi dẫn chứng (non- evident) đó là giáo điều (dogma) sẽ ngăn cản con người đạt đến sự giải thoát trong tâm hồn (eudaimonia). Tư tưởng của Pyrrho được cho là chịu ảnh hưởng bởi Phật giáo thời kỳ đầu (Early Buddhism) theo quan điểm của Beckwith (2015).
Phật giáo thời kỳ đầu
Phật giáo thời kỳ đầu được xác định vào giai đoạn từ khi đức Phật thành đạo, nhập diệt đến giai đoạn tiền Phật giáo Đại thừa (Mahayanism). Lúc này, Phật giáo còn nguyên thủy, chưa phân phái. Tuy nhiên, thời đại của đức Phật vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa thống nhất giữa các học giả, nhà nghiên cứu và kể cả kinh điển của các tông phái Phật giáo. Điển hình là Hirahawa Akỉra trong công trình Nguồn gốc của Phật giáo Đại thừa cho rằng sự khác nhau giữa các kinh điển về tiểu sử của đức Phật hiện vẫn còn tồn tại, ví dụ như Đại sự (Mahavastu) của Đại chúng bộ, kinh Phật bản hạnh tập của Pháp tạng bộ và kinh Phổ diệu (Lalitavistara) của Nhất thiết hữu bộ (Hirahawa Akira, 2018, tr.66). Sarao (1995) trong công trình A text book of the philosophy of Theravada Buddhism (Quyển sách về triết học Phật giáo Theravada) nghiên cứu về bối cảnh xã hội Ấn Độ tại thời điểm ra đời của Phật giáo và nguồn gốc của tôn giáo này cũng không đưa ra thời gian cụ thể nào mà chỉ viết rằng: “Khoảng thế kỷ VI-V TCN đánh dấu giai đoạn lịch sử của Ấn Độ. Giai đoạn này chứng kiến sự ra đời của 62 tín ngưỡng và Phật giáo là một tín ngưỡng quan trọng nhất trong số đó (tr.15). Tác giả cũng cho rằng nguyên nhân và nguồn gốc của Phật giáo là vấn đề vẫn còn đang tranh cãi. Phật giáo thời kỳ đầu được đánh dấu bởi 3 lần kết tập kinh điển: Lần thứ nhất được tổ chức ngay sau khi đức Phật nhập niết
bàn, các đệ tử của Ngài cùng nhau tụ họp, tranh luận và tuyển chọn những nội dung phù hợp để truyền tụng. Kỳ kết tập lần thứ nhất do ngài Ca Diếp (Mahakassapa) khởi sự nhằm trùng tuyên lại những lời dạy của đức Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) (Sarao, 1995, tr. 53; Thích Giác Đức, 2013). Sự kết tập kinh điển lần đầu tiên này tập hợp giới tạng và kinh tạng được ghi lại trong luật tạng (Vinaya Pitaka) khoảng năm 486 TCN, vì vậy đây là mốc đức Phật viên tịch; Kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai được cho là vào khoảng năm 338 TCN (có tài liệu cho rằng vào khoảng 443-379 TCN, 60 hoặc 70 năm sau khi đức Phật viên tịch) phân ra Đại chúng bộ (Mahasanghika) và Phật giáo Nikaya (Phật giáo Bộ phái) (Hirakawa Akira, 2018, tr.58), nguyên nhân là do có sự mâu thuẫn trong giáo đoàn về vấn đề giữ giới luật; Kỳ kết tập kinh điển lần thứ ba vào thời kỳ trị vị của vua Ashoka (297-250 TCN hoặc 325 TCN), Moggaliputta Tissa tổ chức biên soạn Tam tạng. Ashoka gửi các nhà truyền đạo đến chín vùng khác nhau, đáng chú ý là nhà vua đã gửi hoàng thái tử Ma Sẩn Đà (Mihinda) đem luật tạng truyền sang nước Sư Tử (Srilanka tức Tích Lan) (Thiện Kiến Luật Tỳ- bà-sa, quyển I và II, dẫn theo Thích Phước Sơn, 1997, tr.6). Kỳ kết tập lần thứ tư được vua Kanishka triều đại Kushan tổ chức tại Kashmir vào năm 78 CN và Tạm tạng được lưu trên các lá đồng, phần lớn đều bị thất lạc. Tuy nhiên, thời kỳ này đánh dấu sự sinh khởi của Mahayanism. Thế kỷ II CN Nagarjuna (Long Thọ) thuyết về Tính Không và Trung Quán Tông (Madhyamaka); Asanga (Vô Trước) thuyết về Duy Thức Tông (Yogacara) và Phật Di Lặc; Vasubandhu (Thế Thân) thuyết về Tam Thế Phật và đề cao vai trò của Phật A Di Đà và Di Lạc.
Vì vậy, việc xác định Phật giáo thời kỳ đầu vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tư tưởng triết học của Pyrrho.
Tuy nhiên, lịch sử niên đại đức Phật chưa nhận được sự đồng thuận giữa các học giả và nhà nghiên cứu Phật giáo. Năm 1988, một hội nghị chuyên đề về “The Dating of the Historical Đức Phật” (Niên đại của đức Phật lịch sử) được tổ chức ở Gottingen, Đức. Tại hội nghị, các học giả và các nhóm chuyên gia nghiên cứu đề xuất ngày đức Phật viên tịch vào khoảng 486-261 TCN và nhận được sự đồng thuận trong giới nghiên cứu. Sở dĩ niên đại đức Phật khó
xác định vì từ lúc đản sinh, kết hôn, xuất gia tu khổ hạnh, cuối cùng đức Phật nhận chân giá trị và đạt được giải thoát; ngài đi hoằng pháp suốt 49 năm. Đặc biệt trong suốt thời gian đức Phật giảng đạo, hóa độ đệ tử bằng các bài thuyết pháp, không có ghi chép nào. Tất cả các kinh điển Theravada, Hinayana, Mahayana, cũng như các truyền thống khác là do các đệ tử Phật tập hợp và biên soạn. Do đó khó tránh khỏi sự áp đặt những quan điểm và chú giải những lời gốc Phật dạy của các tông phái và truyền thống Phật giáo. Mặc dù Phật giáo trải qua 4 kỳ kết tập kinh điển tính từ khi đức Phật viên tịch cho đến thời đại Kushan (thế kỷ I CN), kỳ kết tập thứ 3 vào thời đại vua Ashoka thì mới có hệ thống và ghi chép những lời Phật dạy. Thời gian từ khi đức Phật viên tịch đến thời đại Ashoka là khoảng thời gian không có nhiều thay đổi trong giáo lý Phật giáo và mọi thứ cũng dường như chìm vào quên lãng, cho đến khi vua Ashoka cải đạo sang Phật giáo, ủng hộ và khuếch trương tôn giáo này. Những lời dạy của đức Phật và Dharma của vua Ashoka được khắc trên các trụ đá, vách đá, hang động trên khắp đất nước Ấn Độ. Lúc bấy giờ, Phật giáo mới được hồi sinh và được truyền bá ra khỏi biên giới Ấn Độ. Do vậy mà không khỏi tồn tại những suy luận khác nhau về niên đại thực sự của đức Phật. Nhìn chung, có hai biên niên về thời đại đức Phật: Một là, biên niên của các nguồn Ấn Độ, Trung Quốc và Tây Tạng, được các nhà nghiên cứu gọi là Biên niên ngắn (Short chronology) và hai là biên niên dựa vào bản ghi chép của Sinhalese (Tích Lan), được gọi là Biên niên dài (Long chronology). Biên niên thứ nhất được xem là biên niên Ấn Độ và biên niên thứ hai là biên niên Tích Lan. Theo Biên niên Tích Lan, tức Phật giáo Nguyên thủy, đức Phật viên tịch khoảng 544 hoặc 543 TCN. Nhưng khi các nhà nghiên cứu xác định được thời đại của vua Ashoka, họ nhận thấy có sự sai sót về niên đại đức Phật và cho điều chỉnh niên đại vào khoảng 487-486 TCN và được biết đến như là biên niên dài được điều chỉnh (Corrected long chronology). Tuy nhiên, theo các kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu và truyền thống Theravada (Biên niên Ấn Độ), đức Phật viên tịch khoảng 100 năm trước khi Asoka lên ngôi, do đó, đức Phật nhập niết bàn vào khoảng 370-368 TCN (Violatti, 2013; Douglas, 2017). Pyrrho đến Ấn Độ khoảng 330 TCN và ở
Gandhara năm năm từ 330 đến 225 TCN, cách thời đại đức Phật chỉ có khoảng 40 năm và trước thời đại Ashoka. Việc xác định niên đại đức Phật viên tịch chỉ cách thời đại Ashoka 100 năm giúp tìm hiểu Phật giáo thời kỳ này được chính xác và làm sáng rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với triết gia Pyrrho.
Ở Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan đến niên đại đản sinh của thái tử Tất Đạt Đa (Siddhartha) và niên đại nhập diệt của đức Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni) chưa thống nhất: Theo Thích Thanh Kiểm (1971) trong công trình Lược sử Phật giáo Ấn Độ, cho rằng đức Phật đản sinh vào năm 624 TCN và nhập diệt năm 544, thọ 80 tuổi; trong khi đó Vân Thanh (1974) trong công trình Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam đề xuất năm đản sinh là 563 TCN và năm nhập diệt là 483 TCN (tr.22). Niên đại đức Phật mà Vân Thanh đề xuất thì trùng khớp với niên đại đản sinh và nhập diệt ghi trong sử Pipavamsa của Nam phương Phật giáo, đó là 563-483 TCN và Trần Ngọc Thêm (1997), Đỗ Thu Hà (2019) lại cho rằng đức Phật nhập diệt vào năm 486 TCN (tr.26). Trong khi năm nhập diệt của đức Phật theo Thích Thanh Kiểm thì giống với Huyền Cương (1997) trong công trình Thử bàn về cách tính Phật lịch và Phật giáo Nam phương: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan lấy năm đức Phật nhập niết bàn (năm 544 TCN) làm lễ kỷ niệm (Thích Thanh Kiểm, 1971, tr.31-41). Nguyễn Công Lý (1997) trong công trình Bàn về Phật Lịch đã căn cứ vào các truyền thuyết về đức Phật Thích Ca được đa số các nhà Phật học thừa nhận đã đề xuất năm nhập diệt là 544 TCN.
Nếu lấy mốc thời gian trong sử Pipavamsa của Nam phương Phật giáo, đó là năm 483 TCN đức Phật nhập niết bàn và đối chiếu với thời gian Pyrrho đến Ấn Độ vào khoảng 330-325 TCN, có thể loại suy Phật giáo mà Pyrrho đã tiếp xúc cách thời kỳ đức Phật còn tại thế khoảng 150 năm. Nếu lấy mốc năm nhập diệt của đức Phật là 544 TCN được đa số các nhà Phật học thừa nhận sẽ cách thời đại của Pyrrho khoảng 210 năm. Trong khoảng thời gian 150 đến 210 năm, Phật giáo vẫn chưa có nhiều thay đổi lớn. Phật giáo chưa có nhiều phân phái cho đến khi Phật giáo Mahayana được giới thiệu ở Ấn Độ.
Có thể nói, giai đoạn từ khi đức Phật thành đạo cho đến kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất tại thành Vương Xá (Rajagaha), Phật giáo chưa phân chia bộ phái,
thời kỳ này chỉ có một Phật giáo duy nhất, đó là Phật giáo Nguyên thủy (Theravada) (Thích Giác Đức, 2013). Cũng có nhiều ý kiến xoay quanh kỳ Kết tập lần thứ nhất vì nhiều lý do. Các học giả phương Tây dựa vào các nguồn sử liệu đã nghi ngờ đến tính xác thực của kỳ Kết tập lần đầu. Theo Cornu (2006), trong lần kết tập thứ hai nhằm chỉnh đốn giới luật đã đề cập đến lần kết tập thứ nhất, đây có thể là một cái cớ để thông báo cho các vị tỳ kheo (Bhikkhu) biết rằng giới luật được quy định từ trước, có nghĩa là đã được nêu lên trong lần kết tập thứ nhất, qua đó lên án một số tỳ kheo phạm giới (tr.147). Trong khi đó Sarao, một giáo sư Phật học Ấn Độ tại trường Đại học New Delhi cũng không tin có kỳ kết tập kinh điển lần đầu vì ông cho rằng Bộ Tạng kinh (Tipitaka) đồ sộ bao gồm Kinh tạng (Sutta) và Luật tạng (Vinaya) khó có thể biên soạn trong thời gian ngắn chỉ trong vòng hai hoặc ba tháng (Sarao, 1995, tr.61).
Phật giáo thời kỳ đầu không hề đề cập đến trường phái Hinayana hay Mahayana. Hai thuật ngữ này chỉ xuất hiện khi Phật giáo phân thành hai nhánh căn bản: Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Triết học Phật giáo thời kỳ đầu bao gồm mười một trường phái, trong đó Thưọng Tọa Bộ (Theravada) và Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada) là tiêu biểu nhất.
Nhìn chung, triết học Phật giáo thời kỳ này chỉ đề cập đến sự thật tương đối (Samvrti Satya), có nghĩa là chỉ nói đến lĩnh vực vô thường, khổ, vô ngã của tất cả những sự vật duyên sanh. Sự thật tuyệt đối (Paramartha Satya) không được tìm thấy trong các kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu. Những học thuyết chính của Phật giáo lúc này là Tứ Đế, Mười hai Nhân duyên, Ngũ uẩn, Nghiệp, Tái sanh, Niết Bàn v.v. Những học thuyết này được cắt nghĩa theo những khía cạnh tương đối. Sự thực hành của tăng sĩ là giới, định và tuệ. Hai trường phái triết học tiêu biểu nhất của Phật giáo thời kỳ đầu là trường phái Thượng Tọa Bộ (Theravada) được cho là chính thống vì nó được đức Phật trực tiếp giảng dạy tại vườn Nai ở Sarnath, Ấn Độ. Kinh điển của trường phái này là 5 bộ Nikayas: Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh và Tiểu Bộ kinh.
Thượng Tọa Bộ không tin vào sự thật tuyệt đối (Absolute truth); họ chỉ tin sự thật tương đối (Relative truth). Theo họ, vũ trụ được cấu tạo bởi đất, nước, lửa,