Ảnh hưởng của Hy Lạp đối với nghệ thuật đúc tiền Ấn Độ

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 111 - 120)

CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG HY LẠP CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ

2.2. Ảnh hưởng Hy Lạp đối với mỹ thuật Ấn Độ

2.2.2. Ảnh hưởng của Hy Lạp đối với nghệ thuật đúc tiền Ấn Độ

Bên cạnh nghệ thuật điêu khắc, Hy Lạp còn ảnh hưởng đối với chạm khắc trong đúc tiền của Ấn Độ. Hy Lạp cổ đại sở hữu nền mỹ thuật phát triển rực rỡ và phong phú. Cũng giống như nghệ thuật điêu khắc và hội họa, nghệ thuật điêu khắc trên đồng tiền Hy Lạp trải qua các giai đoạn phát triển từ thời kỳ Cổ phong, Cổ điển đến thời kỳ Hy Lạp hóa. Hội họa Hy Lạp thể hiện ở các tác phẩm tranh tường, bích họa, chân dung và đặc biệt là các tranh vẽ trên bình, lọ gốm. Tuy nhiên, các tác phẩm hiện nay không còn tồn tại, các nhà nghiên cứu có thể phục hiện các tác phẩm hội họa qua các di vật gốm của Hy Lạp và qua các tài liệu chữ viết. Ví dụ, qua các công trình của nhà văn Pliny được biết hội họa Hy Lạp là thời kỳ hoàng kim của lịch sử hội họa thế giới. Những danh họa của Hy Lạp cũng được nhắc đến như Parhasius (thế kỷ V TCN), Polygnotus (giữa thế kỷ V TCN) và Apelles (thế kỷ IV TCN). Apelles là họa sĩ riêng của Alexander, nổi tiếng với phối cảnh và các mảng đậm nhạt, trong khi Polygnotus làm việc tại Delphi và Athens có khả năng đặc biệt thể hiện trạng thái tâm lý của nhân vật qua các biểu hiện trên khuôn mặt trong các tác phẩm chân dung.

Parrhasius nổi tiếng với những bức họa miêu tả trận đánh của quái vật nhân mã trên tấm khiên của nữ thần Athena.

Bên cạnh tài liệu chữ viết, đồng tiền được xem là nguồn tài liệu vô giá phản ảnh sinh động, chân thực về thực tiễn văn hóa, các cá nhân, những nhân vật quan trọng của thời đại và quan hệ giao lưu giữa các nền văn hóa. Đồng tiền Hy Lạp xuất hiện đầu tiên ở Aegina vào thế kỷ VI TCN, sau đó là ở Athens và Corinth vào thế kỷ V TCN. Tuy nhiên qua các cuộc khai quật ở đền thờ Diana, Ephesus cổ đại, các nhà khai quật tìm thấy nhiều đồng tiền cổ và đi đến kết luận rằng đồng tiền xuất hiện đầu tiên ở các thành phố của Ionia và Lydia, Tiểu Á vào nửa sau của thế kỷ VII TCN. Đến khoảng thế kỷ VI TCN, đảo Aegina sử dụng đồng tiền lần đầu tiên và sau đó đồng tiền được sử dụng rộng rãi ở các thành bang nội địa Hy Lạp với dấu mốc là vào năm 615 TCN Athens cho đúc những đồng tiền đầu tiên của thành bang.

Các thành bang Hy Lạp thường có những đồng tiền với hoa văn trang trí khác nhau và giá trị khác nhau. Các hoa văn trên các đồng tiền đóng vai trò như các biểu tượng đặc biệt để nhận diện các thành bang. Các đề tài trang trí trên đồng tiền thường lấy cảm hứng từ thần thoại Hy Lạp như các vị thần Olympus cùng với các biểu tượng của thần và các biểu tượng môi trường tự nhiên, các cảnh sinh hoạt đời sống, thể thao. Biểu tượng con rùa xuất hiện trên đồng tiền Aegina thể hiện sự thịnh vượng của thành bang nhờ vào hải thương (hình 2.15, phụ lục tr.9); đồng tiền Athens thường trang trí biểu tượng nữ thần Athena với biểu tượng của nữ thần là chim đại bàng (hình 2.16, phụ lục tr.9);

đồng tiền Corinth sử dụng biểu tượng ngựa có cánh (Pegasus) của anh hùng Bellerophon (hình 2.17, phụ lục tr.9); thần Biển (Poseidon) thường xuất hiện trên đồng tiền của Poseidnia và thần Silen trên đồng tiền của Naxos; đồng tiền ở Olympia trang trí thần Zeus và nữ thần Hera; đàn lyre (thất huyền cầm) của thần Apollo là biểu tượng trên đồng tiền của Delos; đáng chủ ý là biểu tượng xe ngựa và người đánh xe xuất hiện trên đồng tiền của các thành bang. Bên cạnh đó, thực vật tự nhiên cũng được chọn làm biểu tượng điêu khắc trên đồng tiền:

hoa hồng trên đồng tiền của Rhode, cây lúa mì trên đồng tiền của Metapontum, thần Hermes và dê đực trên đồng tiền của Thrace (hình 2.18, phụ lục tr.9); bò

trên đồng tiền của đảo Evoia và vận động viên đấu vật cũng là biểu tượng trang trí trên đồng tiền của Evoia.

Đồng tiền Hy Lạp thường được làm thủ công, các nghệ nhân Hy Lạp tạo ra các đồng tiền với hoa văn trang trí đặc sắc trên chất liệu đồng, bạc, vàng hoặc hợp kim. Ngành Cổ tệ học (Numismatics) trên thế giới nghiên cứu các loại tiền cổ giúp phục dựng các nền văn minh cổ của nhân loại. Nhờ Cổ tệ học mà đồng tiền của thời kỳ Hy Lạp hóa cũng được nghiên cứu và phục dựng lại các vương quốc Hy Lạp hóa. Tiền Hy Lạp là loại tiền dập hình nổi không lỗ, khác với tiền Trung Quốc là loại tiền có lỗ vuông ở giữa và không có hình nổi.

Sau khi Alexander tạ thế ở Babylon, đế quốc rộng lớn của ngài bị chia cắt thành ba vương quốc chính: Antigonids ở Hy Lạp (294-168 TCN), Ptolemy ở Ai cập (305-30 TCN) và Seleucids ở phương Đông (312-63 TCN). Vua Seleucus Nicator cai trị ở Trung Cận Đông bao gồm Afghanistan, Iran, Iraq, Syria, Turkey (Thổ Nhĩ Kỳ) và Lebanon ngày nay với hai thủ phủ: Antioch ở Syria và Seleucia ở Mesopotamia (Iraq). Ngày nay các nhà nghiên cứu có thể phục dựng đế chế Hy Lạp hóa nhờ vào số lượng lớn đồng tiền của các triều đại.

Thời kỳ này chứng kiến sự dung hợp, giao lưu giữa nghệ thuật Hy lạp với văn hóa truyền thống Trung Cận Đông.

Triều đại Seleucids tiếp thu văn hóa Hy Lạp thể hiện qua nghệ thuật điêu khắc trên đồng tiền. Tiền của Antiochos I (281-261 TCN) bằng đồng có đường kính 14mm nặng 4.50 gram thể hiện mặt vua Antiochos I ở một mặt và thần Apollo ngồi tay cầm cây cung ở mặt còn lại, có khắc chữ tước hiệu của vua và năm sản xuất (hình 2.19, phụ lục tr.9); đồng tiền bằng đồng của Antiochos II (261-246 TCN) có đường kính 16 mm nặng 4.24 gram thể hiện đầu Apollo được trang trí một vòng nguyệt quế ở một mặt, và cái neo ở mặt còn lại biểu tượng cho quyền lực tối cao của nhà vua (hình 2.20, phụ lục tr.10). Đồng tiền của Seleukos II (246-225 TCN) bằng đồng có đường kính 15 mm nặng 4.31 gram thể hiện thần Herakles đội mũ da sư tử ở một mặt, Apollo ngồi ở mặt còn lại (hình 2.21, phụ lục tr.10); đồng tiền bằng bạc của Antiochos VII (138-129 TCN)

có đường kính 16 mm nặng 3.99 gram thể hiện nhà vua đội mũ miện ở một mặt, nữ thần Athena đứng ở mặt còn lại (hình 2.22, phụ lục tr.10).

Nhiều tài liệu chữ viết và bằng chứng khảo cổ, đặc biệt là các bia khắc cho thấy vua Hy Lạp Menander hay Milinda bị chinh phục bởi văn hóa và tôn giáo của Ấn Độ và trở thành tín đồ Phật giáo thuần thành, có nhiều đóng góp cho Phật giáo. Ông được nhắc đến hầu hết trong các truyền thuyết về Phật giáo và ông được xem như một vị thánh của tôn giáo này (Nehru, 1980, tr. 137). Đặc biệt, Kinh Milindapanha hay Questions of Milinda (Mi Tiên hỏi đáp) đã ghi lại cuộc đàm luận về đạo pháp giữa vua Menander và tỳ kheo Na Tiên (Nagasenabhikkhu). Quyển kinh Milindapanha một mặt đóng vai trò là minh chứng rõ ràng nhất cho sự hiện diện của người Hy Lạp ở Ấn Độ và vua Menander được xem là người Phật tử châu Âu đầu tiên của Phật giáo; mặt khác, kinh Mi Tiên vấn đáp còn thể hiện sự giao lưu và tiếp biến văn hóa Ấn-Hy thời cổ đại. Hình ảnh Menander cũng được chạm trên các đồng tiền thời đó (hình 2.23 và 2.24, phụ lục tr.10). Các vua Hy Lạp và nửa Hy Lạp đã phát hành đồng tiền có khắc chữ Hy Lạp ở Bactria và Punjab, Ấn Độ được minh họa ở Bảng 2.2.

Bảng 2.2. Các vua Hy Lạp và nửa Hy Lạp đã phát hành đồng tiền ở Bactria và bang Punjab, Ấn Độ

Nguồn: Rawlinson, 1916, tr. 85-87 I-Vua Hy Lạp ở Bactria

Diodotus I, 250 TCN Diodotus II, 245 TCN Euthydemus I, 230 TCN

II-Vua Hy Lạp ở Bactria và Sagala, Ấn Độ

Demetrius, 200 TCN Eukratrides, 165 TCN Heliokles, 156 TCN III-Vua Hy Lạp ở Sagala và một số thành thị ở Tây Bắc Ấn Độ

Nhà Euthydemus

Antimachus Pantaleon

Agathocles Euthydemus II

Philoxenus Strato I and II Agathokleia Menander

Apollodotus II Antialkidas Menander I IV- Vua Kushan Kujula Kadphises,

25 TCN

Wima Kadphises Kanishka 78 CN

Huvishka Vasudeva

Bảng 2.2. thể hiện việc các vua Hy Lạp và nửa Hy Lạp phát hành đồng tiền có khắc chữ Hy Lạp ở Bactria và Punjab, Ấn Độ, là minh chứng khoa học cho mối giao lưu văn hóa Ấn Độ và Hy Lạp thời kỳ cổ đại. Các vua Hy Lạp và nửa Hy Lạp đã duy trì, bảo lưu và khuếch tán văn hóa Hy Lạp ở Ấn Độ. Kết quả là đã giúp làm phong phú thêm văn hóa Ấn Độ.

Đồng tiền thời kỳ Mauryan (Khổng Tước)

Đồng tiền Ấn Độ được biết đến lần đầu tiên vào thế kỷ VI TCN ở vùng Gandhara Jamapada, là một thanh bạc (không phải loại tiền hình tròn có đục lỗ vuông ở giữa như tiền Trung Quốc). Tiền Ấn Độ thường dập những hình tượng bông hoa ở cả hai mặt. Vào thời kỳ Veda và hậu Veda, những đồng bạc thường được gọi là đồng “Rayis”. Vào thời kỳ Maurya (Khổng Tước), đồng tiền gồm những miếng kim loại hình chữ nhật được rập trên một cái khuôn và dập các ký hiệu hoặc biểu tượng (hình 2.25, phụ lục tr.10).

Sự kiện Alexander Đại đế đến Ấn Độ vào mùa xuân năm 326 TCN đã làm thay đổi lịch sử Ấn Độ. Đồng tiền vàng lần đầu tiên được phát hành ở Ấn Độ.

Kỹ thuật đúc tiền (Die-striking) được các lãnh chúa Indo-Greek sử dụng để chế tác các đồng tiền được giới thiệu đến Ấn Độ. Ngoài ra, chữ khắc hay minh văn trên tiền cũng là một đặc điểm ngoại sinh. Pal (2016) cũng cho rằng các đồng tiền được phát hành đầu tiên bởi các liệt quốc của Ấn Độ cổ đại từ thế kỷ VI TCN. Triều đại Maurya đã cho phát hành các loại đồng bạc (rupyarupa), đồng vàng (suvarnarupa), đồng (tamararupa) và đồng chì (sisarupa) bằng kỹ thuật rập

khuôn (punch-marked) được đề cập trong Arthashatra của tể tướng Kautilya.

Pal khẳng định chính các vua Kushan đã giới thiệu kỹ thuật khắc biểu tượng hình người trên các đồng tiền.

Đồng tiền thời kỳ Kushan (Quý Sương)

Triều đại Kushan cai trị ở miền Bắc Ấn Độ và khuếch trương văn hóa của đất nước này. Truyền thừa qua 13 đời từ Kujula Kadphises, Wima Takto, Vima Kadpises, Kanishka I, Huvishka, Vasudeva I, Kanishka II, Vasishka, Kanishka III, Vasudeva II, Shaka, đến Kipunadha. Triều đại Kushan cai trị ở Ấn Độ từ thế kỷ I đến thể kỷ IV CN. Triều đại Kushan có nhiều thành tựu về khoa học, nghệ thuật và tôn giáo thể hiện ở nghệ thuật điêu khắc Gandhara và Phật giáo Đại thừa. Bên cạnh đó, Cổ tiền học về triều đại này cũng cho thấy những đóng góp tích cực trong hệ thống tiền tệ Ấn Độ. Đồng tiền Kushan thể hiện ở hai loại tiền vàng và tiền đồng. Đồng tiền Kushan trong thời đại của vua Kaniska (Ca Nị Sắc Ca) và Huvishka hiện được lưu trữ và trưng bày tại Bảo tàng quốc gia Pakistan và Bảo tàng Lahore, bang Punjab Ấn Độ. Nghiên cứu tiền cổ của triều đại Kushan được các học giả rất quan tâm, đơn cử công trình của Bivar (1968), Jain (1975), Cribb (1984, 2005, 2008), Mitterwallner (1986), Srivastava (1986), Singh (1996), Gupta (1996), Bopearachch (2003), Falk (2001, 2004), Leoschmer (2008) và Khan (2009a, 2009b, 2010).

Đặc biệt, triều đại Kushan tiếp thu văn hóa Hy Lạp thể hiện ở lĩnh vực nghệ thuật điêu khắc và đúc tiền xu. Trên các đồng tiền của Kushan thể hiện các vị thần Hy Lạp và Ấn Độ. Điều đáng chú ý là họ sử dụng tiếng Hy Lạp và tiếng Prakrit (một ngôn ngữ thông dụng dùng để giao tiếp ở miền bắc Ấn Độ vào những thế kỷ đầu Công nguyên) trên hai mặt của các đồng tiền. Đồng tiền thời Kushan (hình 2.27, phụ lục tr.11) miêu tả vua Kanishka ở một mặt và một nhân vật anh hùng trong thần thoại Hy Lạp HΛIOC (hero) ở mặt còn lại được cho là mô tả thần mặt trời Helios đầu nhìn về bên trái, một tay chống ở hông. Ở hình 2.28, phụ lục tr.11, mô tả một vị vua þAONANOþAO KA trong truyền thuyết Bactria ở một mặt, mặt còn lại là thần Athsho (thần thợ rèn) đầu hướng về bên trái và một tay chống ở hông. Tương truyền, thần Athsho và thần lửa của Bactria

được so sánh với thần Hephaistos (thần thợ nề, thần thợ rèn, thần nghệ thuật và thần lửa) của Hy Lạp. So sánh hình 2.27 và 28, Kushan đã vay mượn rập khuôn kiểu thức của đồng tiền Bactria từ nội dung, dáng đứng, tư thế và vật cầm đó là cây giáo. Kushan cũng vay mượn bộ râu mép của Bactria. Thần Helios của Kushan được thể hiện trơn, không có râu mép xum xuê như thần Athsho của Bactria. Ngoài ra, trên các đồng tiền của Kushan cũng thể hiện đức Phật, thần Shiva của Ấn Độ. Đồng tiền (hình 2.29, phụ lục tr.11) thể hiện đức Phật đứng, tay trái đỡ áo cà sa, tay phải trong tư thế thủ ấn vô úy thúy (Abhayamudra).

Đồng tiền (hình 2.30, phụ lục tr.11) thể hiện vua đứng tế bên đống lửa ở một mặt, mặt còn thể hiện thần Shiva đứng, tay cầm cây đinh ba và bò Nandi ở bên phải.

Ngoài Shiva, các nữ thần cũng được chạm khắc trên các đồng tiền vàng thời Kushan. Đồng tiền (hình 2.31, phụ lục tr.11) thể hiện nữ thần Ardoksho (nữ thần tài sản) của Kushan giai đoạn muộn. Hầu hết các đồng tiền Kushan mô tả nữ thần ở dạng ngồi và sản xuất với số lượng lớn.

Cổ tiền Kushan có thể nói bắt đầu từ thời vua Vima Kadpise vào thế kỷ II CN đến năm 127 CN đánh dấu sự kế vị của vua Kaniska I (Falk, 2001, tr. 127;

2004, tr. 167; Bopearachch, 2003, tr. 50; Cribb, 1984, tr. 67). Tiền Kushan được tìm thấy nhiều nhất ở thung lũng Oxus (Zeymal, 1997, tr. 90; Yarshater, 1983, tr. 248). Thông tin này cũng được các học giả đề cập trong công trình Afghanistan, Pakistan, and the Gangetic region in India (Afghanistan, Pakistan, và vùng đồng bằng sông Hằng ở Ấn Độ) của học giả Allekar (Allekar, 1950, tr.

121). Triều đại Kushan dưới thời vua Vima Kidpise đã mở rộng lãnh thổ đến Mathura. Dẫn chứng cho thấy nhiều đồng tiền cổ Kushan thời vua Vima, Kaniska I và Huvishka được tìm thấy ở khu vực này (Jain, 1965, tr.118; Gupta, 1996, tr.22). Vua Vima Kidpise được cho là người đã mở đầu việc phát hành các đồng tiền Kushan gồm tiền vàng nặng 8.00 gram và tiền đồng nặng 17 gram.

Về nghệ thuật trang trí, Vima sử dụng hình ảnh nhà vua với tư thế đứng ở tiền bằng đồng và ý tưởng này được Mukerjee cho là vay mượn của vua Parthian (An Tức) Gotarzes cai trị ở Ấn Độ khoảng 40-51 CN (Mukerjee, 2004, tr.110).

Nhà vua được mô tả trong tư thế đứng, đầu nghiêng về bên trái, người mặc áo dài thắt ngang lưng, quần rộng và chân mang giầy ống kiểu Kushan ở một mặt, và Siva đứng bên cạnh bò đực, vật cưỡi của Siva ở mặt còn lại. Shiva được miêu tả tay cầm cây đinh ba ở tay phải và tấm da thú ở tay trái đứng tựa lưng vào bò đực (hình 2.32, phụ lục tr.12). Phong cách này xuất hiện nhiều ở tiền đồng và trở thành đặc điểm của tiền Kushan và về sau được các vua kế vị như Kaniska và Huvishka sử dụng trên đồng tiền của mình (Rosenfield, 1967, tr.25).

Tiền cổ Kushan gồm hai loại: Loại đơn ngữ và loại song ngữ. Loại đơn ngữ thể hiện huyền thoại Hy Lạp ở một mặt và dãy hạt viền quanh đồng tiền ở mặt còn lại. Loại song ngữ cũng thể hiện huyền thoại Hy Lạp ở một mặt và chữ Kharoshithi ở mặt còn lại. Những đồng tiền loại này tìm thấy ở miền Nam Hindu Kush. Các đồng tiền Kushan hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng quốc gia Pakistan: Tiền thời Vima Kidpise gồm 41 đồng, thời Kaniska 91 đồng (Khan, 2009b), thời Huvishka 56 đồng (Khan, 2009a); trong khi đó ở Bảo tàng Lahore, Punjab: Tiền thời Vima là 32 đồng, tiền thời Kaniska 108 đồng và Huvishka 108 đồng (Whitehead, 1914, tr.183-207).

Trong khi đó, Michael Mitchiner chia tiền Kushan thành hai loại dựa vào huyền thoại Hy Lạp thể hiện trên đồng tiền: Đầu nhà vua được miêu tả bởi chữ Hy Lạp ‘phi/ Φ, φ’, chữ cái thứ 21 của Hy Lạp và loại có huyền thoại Hy Lạp được cụ thể hóa bằng chữ viết trên đầu của vua (Mitchiner, 1976, tr.2-3). Bên cạnh đó, chữ cái thứ 15 của Hy Lạp (omicron/Ο, ο) thể hiện tên của vua cũng được lược bỏ: OOHMO thành OOHM (Mitchiner, 1976; Bracey, 2011). Chúng tôi cho rằng Kushan đã vay mượn phong cách rút gọn này từ Hy Lạp khi các đồng tiền của Athens dùng chữ rút gọn Athe để chỉ nữ thần Athena, Koppa chỉ Corinth.

Đồng tiền thời kỳ Gupta (Cấp Đa)

Triều đại Gupta (Cấp Đa) thành lập vào thế kỷ IV CN ở miền Bắc Ấn Độ đã cho phát hành nhiều đồng tiền vàng, bạc, đồng và chì. Các vua Gupta kế thừa nghệ thuật điêu khắc trên đồng tiền Kushan. Trên đồng tiền Gupta, một mặt thể hiện vua với tư thế đứng, nữ thần Ardoksho ngồi trên ngài vàng ở mặt

còn lại. Kiểu thức này được tìm thấy trên đồng tiền vàng của vua Vasudeva II (cai trị ở Ấn Độ khoảng 290-310 CN). Tuy nhiên, các nghệ nhân Gupta vừa tiếp nhận vừa biến cải yếu tố nghệ thuật trên đồng tiền sao cho phù hợp với tinh thần dân tộc. Chi tiết kiểu quần rộng trên đồng tiền Kushan được thay thế bởi trang phục dhoti Ấn Độ; vua Kushan cầm cây đinh ba ở tay trái thì vua Guptas cầm thanh giáo, thanh kiếm, hoặc cây cung, rìu chiến và chim Garuda, biểu tượng của triều đại Gupta, cũng được thêm vào trên đồng tiền Gupta. Gupta tiếp thu kỹ thuật khắc tên vua bên tay trái với dòng chữ đứng nhưng thay chữ Hy Lạp bằng chữ Brahmi (hình 2.33, phụ lục tr.12). Nữ thần Ardoksho được vay mượn từ đồng tiền Kushan và được thể hiện trên các đồng tiền Gupta vào giai đoạn sớm. Về sau, Ardoksho được chuyển thành nữ thần Laksmi tay cầm hoa sen ngồi trên ngai vàng và sau đó được mô tả ngồi trên tòa sen. Các huyền thoại Hy Lạp trên đồng tiền Kushan được thay thế bởi huyền thoại Ấn Độ.

Ngoài ra, Gupta cũng vay mượn mô típ trang trí trên đồng tiền của Hy Lạp.

Ngựa cũng được tìm thấy trên đồng tiền Gupta. Nữ thần Chiến thắng Ấn Độ (Vijaya) được mô tả với tay phải cầm bó cỏ vắt qua vai và tay phải cầm thanh giáo trên một số đồng tiền Gupta. Ngựa và người cưỡi ngựa là những biểu tượng trang trí phổ biến trên các đồng tiền của Thesaly (miền bắc Hy Lạp) và Macedonia (hình 2.34, phụ lục tr.12). Vào thời cổ đại, ngựa gắn bó trong mọi hoạt động đời sống con người, ngựa là phương tiện sản xuất nông nghiệp, vận chuyển, kỵ binh, ngựa cũng được mô tả là vật linh cũng như được thờ cúng cùng với một số vị thần Hy Lạp. Đặc biệt nhất là ngựa có cánh rất phổ biến trong thần thoại Hy Lạp. Trong hki đó, ở Ấn Độ ngựa không được phổ biến như các vật linh khác (voi, bò, rắn, khỉ, chim công, sư tử,…). Tần suất ngựa xuất hiện trong văn học và nghệ thuật cũng không nhiều. Trong thần thoại Ấn Độ, ngựa được xem là vật cưỡi của thần Mặt trời và các chiến xa được miêu tả trong sử thi Mahabharata. Ngựa còn là vật tế thần trong các kinh Veda. Trong nghệ thuật, ngựa xuất hiện ở trụ đá của vua Ashoka ở Sarnath, nhưng nghệ thuật đầu cột của Ashoka được cho là chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp (hình 2.36, phụ lục tr.12) (Danielou, 2003, tr.89). Trên đầu cột, các nghệ nhân thời Ashoka

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 111 - 120)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(264 trang)