CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG HY LẠP CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ
2.3. Ảnh hưởng Hy Lạp đối với thiên văn học Ấn Độ
Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất của lịch sử loài người. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt trời, Mặt trăng, các vì tinh tú, và các thiên thể trên bầu trời, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Ngày và đêm được giải thích một cách đơn giản rằng trái đất quay quanh trục của nó nhưng không thẳng đứng mà với độ nghiêng 230, đã đem đến cho chúng ta các mùa khác nhau. Cuộc sống của con người được chia ra các chu kỳ hai mươi bốn tiếng, một phần là ban đêm và phần còn lại là ban ngày. Người xưa cũng phát hiện rằng trái đất của chúng ta chỉ là một trong hàng tỉ hành tinh của Thái dương hệ. Họ tìm hiểu mối quan hệ giữa Trái đất và Mặt trời trong Thái dương hệ đó. Việc quan sát trên có thể đã diễn ra hàng nghìn năm, thế nhưng những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn học có thể nói đến từ vùng Lưỡng Hà. Các nhà thiên văn học cổ đại vùng đồng bằng Lưỡng Hà tôn sùng những vật thể trên bầu trời như là các vị thần. Do đó, họ xây dựng nhiều tòa tháp khổng lồ để ghi lại quá trình lặn và mọc của Mặt trời, Mặt trăng, và các vì sao. Suốt hơn một nghìn năm, người Babylon dùng tấm bảng đất sét để ghi chép lại những điều họ quan sát được, hàng trăm tấm bảng đất sét như vậy đã được khai quật và một trong số đó ghi lại quá trình chuyển động của Kim tinh. Các nhà thiên văn học khẳng định các tấm bảng đất sét chính là tài liệu lâu đời nhất ghi lại quá trình chuyển động của các hành tinh còn tồn tại đến ngày nay.
Tuy nhiên, đóng góp quan trọng cho thiên văn học nhân loại phải kể đến công lao của người Hy Lạp cổ đại. Không chỉ kế thừa những thành tựu về thiên văn của người Babylon, người Hy Lạp đã phát triển lý thuyết về sự chuyển động của các hành tinh xoay quanh trục của chúng là các hình cầu đồng tâm, đáng kể nhất là thuyết Địa Tâm (Geo-centric) và phương pháp tính khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, giúp thiên văn học phát triển vượt bậc. Nhà triết học Pythagoras (580-500 TCN) phát hiện rằng trái đất là một quả cầu nằm tại trung tâm vũ trụ, và sao Hôm, sao Mai chỉ là một hành tinh (Hà Thúc Minh, 2000, tr.29). Anaxagoras (500-428 TCN) đưa ra mô hình vũ trụ là một quả bóng hình cầu đang giãn nở với trái đất là trung tâm; trong khi đó, Plato (428-348 TCN) trong tác phẩm triết học tự nhiên (Timacus) của mình đã cho rằng vũ trụ là do Đấng Sáng tạo tạo ra bởi một hỗn hợp gồm hai bản thể: Bản thể tinh thần không thể phân chia và bản thể vật chất có thể phân chia. Vũ trụ phân thành bảy vòng với khoảng cách không đều nhau có tâm là Trái đất. Người Hy Lạp cổ đại đã chia Hoàng đới thành các cung Hoàng đạo (Zodiac signs) và đặt theo tên các con vật (Nguyễn Việt Long, 2006, tr.162). Thales xác định quỹ đạo của Mặt Trời từ Đông chí đến Hạ chí, Mặt trăng bằng 1/120 Mặt trời, qui định một tháng có 30 ngày. Người Hy Lạp cũng đưa ra thuyết Nhật tâm (Heliocentric), học thuyết hệ Mặt trời của người Hy Lạp cổ đại đã tồn tại hàng nghìn năm, đánh dấu sự khai sinh của khoa học thiên văn và ảnh hưởng đến nhiều nền văn hóa thế giới trong đó có Ấn Độ, La Mã. Truyền thống thiên văn học Hy Lạp đã góp phần cho những đổi mới trong thiên văn học Ấn Độ, như là ảnh hưởng đến việc đặt tên cho các ngày trong tuần, cách tính chiều dài của năm chính xác hơn.
“Gargi Samhita” trong Yuga Purana khẳng định người Hy Lạp là những người sáng tạo ra Thiên văn học.
Mặc dù Ấn Độ được biết đến như là một nền văn minh nhân loại hơn 5000 năm tuổi và lịch sử thiên văn của đất nước này được đánh dấu bởi những ghi chép trong các bộ kinh Vedas. Tuy nhiên, những nghiên cứu của Bentley (1882), Brennand (1896), Heath (1963) và Richard (2000) đã cho thấy thiên văn học Ấn Độ thời kỳ Veda chỉ là buổi sơ khai và mãi đến 1425 TCN, người Ấn
Độ mới có những quan sát và lý giải về các cung hoàng đạo theo âm lịch. Đến năm 538 CN, thiên văn học ở Ấn Độ mới thật sự bắt đầu khởi sắc. Trong suốt thời gian hơn một nghìn năm này thiên văn Ấn Độ cho thấy sự phát triển một bước tiến mới với những bản đồ sao, phương pháp tính khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời, Mặt trăng, các vì sao, và sự chuyển động của các hành tinh, chu kỳ chuyển động của chúng được bổ sung, cải tiến, và tu chỉnh, vị trí của các vì tinh tú được lý giải bằng biểu đồ (Bentley, 1882, Preface). Ngoài ra, 12 cung hoàng đạo phát triển từ truyền thống thiên văn Hy Lạp như Aries, Taurus, Capricorn, Gemini, Cancer, Leo, v.v. được các nhà thiên văn Ấn Độ vay mượn để biểu diễn các cung bắt đầu từ điểm xuân phân. Năm 538 CN đánh dấu sự kết thúc thời kỳ thiên văn học cổ đại và mở ra thời kỳ thiên văn học hiện đại ở Ấn Độ.
Khởi đầu, thiên văn Ấn Độ được tính theo âm lịch nhưng không phải qua quan sát vị trí của đường phân chí hay các hành tinh mà được diễn đạt qua các ngụ ngôn, qua đó kể rằng vào thời kỳ đầu của kỷ nguyên Treta, những người con gái của Daksha được sinh ra, ám chỉ hai mươi bảy chòm sao được hình thành vào thời kỳ này. Những người con gái của Daksha kết duyên với Mặt trăng sinh ra bốn hành tinh, đó là Mercury được sinh ra từ Rohini nên gọi Rohineya, Venus từ Magha nên gọi là Maghabhu, Mars từ Ashdha nên có tên Ashadhbhana và Jupiter từ Purvaphalguni nên được biết đến là Purvaphalgunibhava. Mặt trăng là cha đẻ của tất cả bốn hành tinh này. Ban đầu, có hai mươi tám cung hoàng đạo theo âm lịch với kích thước là 120 51’3-7 mỗi cung5, về sau, số cung được giảm xuống còn hai mươi bảy và kích thước 130 20’ mỗi cung. Cung đầu tiên trong hai mươi tám cung gọi là Mula (nguồn gốc), trong khi cung đầu tiên trong 27 cung được biết đến là Jyehtha (lớn nhất/ đầu tiên), cả hai bắt đầu từ một điểm trên thiên cầu và có kích thước 20 25’. Một số cải tiến khác cũng được thực hiện như tháng Mặt trời được thành lập, các cung theo Mặt trăng được bổ sung và dựa vào chu kỳ phân chí của Mặt trời tương
5 Độ dài hoặc khoảng cách trên thiên cầu được đo bằng đơn vị đo góc độ (0), phút (’), giây (’’) cung
ứng với số lượng các cung hoàng đạo hoặc các hằng tinh, các mùa trong năm được hình thành.
Quan niệm về vũ trụ của Ấn Độ có thể xuất hiện từ thời văn minh sông Ấn.
Các khái niệm về thiên văn trong các kinh Veda miêu tả sự chuyển động của các thiên thể, độ dài thời gian trong một năm. Đặc biệt là lúc bấy giờ các quan sát thiên văn gắn liền với mục đích tôn giáo để đưa ra các dự báo và thời điểm của các nghi lễ tế sinh. Rig Veda, Shulba Sutra, Vedanga Jyotisha,… là những văn bản thiên văn sớm nhất của Ấn Độ miêu tả về Mặt trời, Mặt trăng, Nakshatras (cung hoàng đạo âm lịch), và hệ thống lịch âm dương (lunisolar calendar).
Khoảng thế kỷ IV TCN, cho thấy các chỉ dấu của sự giới thiệu của thiên văn Hy Lạp ở Ấn Độ và tiếp tục được củng cố vào kỷ nguyên đầu Công nguyên bởi các triều đại Indo-Greek ở Ấn Độ (Naskas, 1996, tr.56; Evans, 1998, tr.393).
Các công trình như Yavanajataka, Romaka Siddhanta (Doctrine of the Romans/
Học thuyết của người La Mã), Paulisa (Doctrine of Paul/Học thuyết của Paul) được dịch sang Phạn ngữ vào thế kỷ II CN. Riêng Yavanajataka (Yavana chỉ người Hy Lạp; Jataka/Nativity có nghĩa là lá số tử vi) được gọi là lá số tử vi theo quan niệm của người Hy Lạp là công trình về chiêm tinh học được dịch sang Phạn ngữ tại Alexandria năm 120 CN. Đây là công trình Phạn ngữ sớm nhất của Ấn Độ về Chiêm tinh học liên quan đến thuật đoán lá số tử vi phương Tây (Dhavale, 1984, tr. 266). Mc Evilley (2002) trong công trình The shape of Ancient Thought (Hình thái tư tưởng Cổ đại) đã nhận định rằng: “Yavanajataka là công trình Phạn ngữ về Chiêm tinh còn tồn tại đến ngày nay, và là cơ sở quan trọng cho mọi phát triển về Tử vi của Ấn Độ” (tr. 383). Aryabhata, nhà thiên văn học Ấn Độ sống vào khoảng 476-578 CN, khẳng định Zodiac của người Hy Lạp ảnh hưởng đến thuật chiêm tinh của Ấn Độ.
Thế kỷ V CN là thời kỳ phát triển rực rỡ của thiên văn học Ấn Độ (Bentley, 1825) được đánh dấu bởi công trình Aryabhatiya của Aryabhata. Lần đầu tiên ở Ấn Độ cho thấy các kiến thức thiên văn được lý giải bằng các định lý toán học. Aryabhata cho rằng Trái đất quay quanh trục của nó và chu kỳ quay của
các hành tinh liên quan đến Mặt trời. Arybhatiya cũng đưa ra qui tắc hình học để tính toán các thiên thực (nhật thực và nguyệt thực), chu vi của Trái đất, thuyết lực hấp dẫn, khẳng định Mặt trời là một ngôi sao và xác định số hành tinh trong thái dương hệ của chúng ta. Arybhata tiến dần đến quan điểm thuyết Nhật tâm (Heliocentrism), trong khi trước ông, các nhà thiên văn Ấn Độ đều theo quan niệm của thuyết Địa tâm (Geocentrism). Trên thực tế, thuyết Nhật tâm không phải là sáng tạo của Aryabhata, mà ông đã vay mượn của Hy Lạp. Aristarchus, nhà thiên văn học Hy Lạp ở Samos, đã đề xuất thuyết Nhật tâm của hệ Mặt trời từ thế kỷ III TCN. Ý tưởng của Aristarchus về sau được nhà thiên văn học Ba Lan Copernicus phát triển thành hình thức hiện đại đầu tiên của thuyết này. Vì vậy, Aritarchus còn được biết đến như là Copernicus Hy Lạp hay Copernicus cổ đại. Aristarchus còn tính toán được kích thước của Mặt trời, Mặt trăng, khoảng cách của chúng với Trái đất và tính được bán kính của Địa cầu và ghi lại trong công trình On the Sizes and Distance of the Sun and the Moon (Về kích thước và khoảng cách của Mặt trời, Mặt trăng).
Dấu ấn của thiên văn Hy Lạp qua các công trình chữ viết của Ấn Độ Ramayana và Mahabharata
Ramayana và Mahabharata là hai bộ sử thi nổi tiếng của Ấn Độ. Tuy nhiên, cả hai tuyệt tác đều ẩn chứa ít nhiều vết tích của thiên văn Hy Lạp. Theo Ramayana của Valmiki, khi hoàng tử Rama chào đời, ngọn lửa của các hành tinh đã ở trong ngôi nhà hạnh phúc của chúng, như các nhà thiên văn nêu ra Mặt trời ở cung Aries, Mặt trăng ở cung Cự giải (Cancer), Kim tinh (Venus) ở cung Song ngư (Pisces), Mộc tinh (Jupiter) ở cung Cự giải (Cancer), Hỏa tinh (Mars) ở cung Ma Kết (Capricorn), Thổ tinh (Saturn) ở cung Thiên Bình (Libra) vào ngày thứ chín âm lịch. Bentley (1825) khẳng định vị trí của các hành tinh trên là dựa vào kết quả tính toán của khoa học hiện đại, không phải là do quan sát thực sự, vì các cung hoàng đạo với những cái tên theo truyền thống Hy Lạp như vậy chưa được giới thiệu ở Ấn Độ vào thời đại của Rama. Các cung hoàng đạo này xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ II hoặc III CN (bảng 2.4)
Bảng 2.4. Cung hoàng đạo của Ladende so sánh với Ramayana
Nguồn: Bentley,1825, tr.14
Các hành tinh Tính theo Ladande Ramayana Mặt trời (Sun) 60 11’ 23’’ Ở cung Kim ngưu Mặt trăng (Moon) 120 13’ 54’’ Ở cung Cự giải
Kim tinh (Venus) 10 0’ 0’’ Ở cung Song ngư Hỏa tinh (Mars) 20 4’ 0’’ Ở cung Nam Dương Mộc tinh (Jupiter) 10 24’ 13’’ Ở cung Cự giải
Thổ tinh (Saturn) 30 27’ 0’’ Ở cung Thiên bình
Khi hoàng tử Rama đến tuổi trưởng thành, nhà vua Dasaratha, vì hệ quả của vị trí các hành tinh tiến gần đến điểm giao hội báo hiệu điềm xấu, đã nói với Rama rằng:
“O Rama, ngôi sao của ta đang bị bao phủ bởi các hành tinh báo hiệu điềm gở Mặt trời, Hỏa tinh, và nút điểm lên (Rahu), v.v. Hôm nay Mặt trăng mọc ở Punarvasu: các nhà thiên văn cho biết ngày mai Mặt trăng sẽ đi vào Pushya: con sẽ lên ngôi ở Pushya. Mặt trời đi vào Pushya kể từ hôm nay, sao Cự giải (karkata), vòm sao mà hoàng tử Rama sinh ra, bắt đầu đi lên phía trên đường chân trời. Mặt trăng được sinh ra trước đây chiếu sáng, Mặt trời biến mất giữa ban ngày; mây châu chấu xuất hiện, Hỏa tinh, Mộc tinh và những hành tinh khác báo hiệu điều không may đang đến.”
(Ramayana, phần 33. V9,10).
Qua đoạn văn, cho thấy Valmiki muốn ám chỉ sự kiện nguyệt thực ở gần cung Cự giải, tại điểm nút lên (thể hiện qua sự nhân hóa của Rahu) và các hành tinh đang ở rất gần nhau. Bentley (1825) cho rằng vào thời đại của Rama, điểm đầu của cung Cự giải hay sự bắt đầu của tháng Sravana trùng với cung Aslesha âm lịch đó là 30 20’; và từ đó đến điểm đầu của Pushya chính xác là 160 40’
trong quan hệ với các hằng tinh; và điểm tiến động (precession)6 là 30 20’ vào
6 Tiến động (precession) của địa cầu chỉ trục quay của địa cầu không cố định mà quay đảo xung quanh hoàng cực với 1 góc là 23,50 theo chiều ngược với chiều xoay của trục, quét thành một hình nón trong không gian, hay còn gọi là tiến động của trục Trái đất. Chu kỳ tiến động là 25.800 năm đôi khi còn gọi là năm Plato (Platonic Year)
năm 247 và một tháng. Qua tính toán, Bentley đưa ra thời điểm Ramayana được viết là vào năm 295 CN (tr. 20). Bentley cũng chỉ ra một số thay đổi trong quan niệm thiên văn của Ấn Độ. Nếu như trước đây các nhà thiên văn tin rằng Trái đất lớn hơn Mặt trời rất nhiều, thì bây giờ Địa cầu được cho là hình phẳng (flat) và được bao bọc bởi những đại dương cho đến khi nó đạt đến vị trí các thiên đường đầy sao (Starry heavens) tại điểm chí (hình 2.63); trước đây, quan niệm rằng thiên thực diễn ra vào ngày 25 tháng 10, lúc này kinh độ của Mặt trời và Mặt trăng là 220 37’, bây giờ thiên thực diễn ra vào ngày 23 của tháng Kartika, các tháng Hindu luôn luôn bắt đầu khi Mặt trời đi vào các cung: điểm xuân phân vào ngày thứ bảy của tháng Bharani, Hạ chí 30 20’ cung Aslesha, thu phân diễn ra đầu tháng Visaka, Đông chí 100 cung Sravana. Lúc bấy giờ các vì sao được chia thành những cụm sao và chòm sao. Thái dương hệ được chia thành các cõi được cai quản bởi các vị thần (hình 2.64, phụ lục tr.22), trong đó Yama cai quản địa ngục giống thần Hades (Hy Lạp) và thần Pluto của La Mã; thần Indra cai quản bầu trời, thần Soma cai quản Mặt Trăng, thần Varuna cai quản không trung.
Cuộc chiến giữa thần (Gods) và quỷ (Asuras), quỷ khổng lồ (Daitya và Danava) để giành thuốc trường sinh trong Mahabharata được xem như bản sao của cuộc chiến giữa thần và người khổng lồ (Titans) trong thần thoại Hy Lạp.
Theo thiên văn, cuộc chiến giữa thần và Asuras diễn ra ở Ấn Độ, đường phân chí (colure) cắt cung Aslesha một góc 3020’ và điểm xung đối ở cung Sravana một góc 100; đường phân chí chia thiên cầu thành hai phần: phần sáng và phần tối tại thời điểm thu phân; phần sáng thuộc về các thần, và phần tối thuộc về các Asuras. Các sao thuộc chòm sao Cự giải đã hỗ trợ các thần chống lại Asuras.
Tương tự với cuộc chiến giữa thần và Titans trong thần thoại Hy Lạp của thi hào Hesiod, đã miêu tả người khổng lồ Cottus, Briareus, và Gyges bị trói bởi một lực sắt ở dưới vực thẳm của Địa cầu. Trái đất và đại dương cũng được cho là hình phẳng, mở rộng đến các thiên đường đầy sao trong cùng một mặt phẳng với đường phân chí xung quanh Địa cầu như là một bức tường đồng ngăn cách địa ngục ở điểm đầu cung Cự giải và thiên đường ở điểm đầu cung Ma Kết
(Capricorn), tại cung này cho phép những Titans đi lên thiên đường khi thời gian trừng phạt của họ kết thúc. Trong thần thoại Hy Lạp, điểm thu phân diễn ra vào năm 756 TCN (Bentley, 1825, tr. 86). Rõ ràng, Ấn Độ và Hy Lạp đã bộc lộ sự tương đồng trong quan niệm về vũ trụ, Địa cầu là hình phẳng, là trung tâm, được bao bọc bởi các đại dương và trong vũ trụ bao la còn có nhiều hành tinh khác. Cuộc chiến giữa thần và quỷ đại diện cho ánh sáng và bóng tối (ngày và đêm) luân phiên ngự trị.
Huyền thoại Pleiades (Hy Lạp) và Saptarishi (Ấn Độ)
Ấn Độ và Hy Lạp thể hiện sự tương đồng trong tâm thức kiến giải các hiện tượng thiên văn, thể hiện rõ nét qua huyền thoại The Saptarishis (The Seven Sages/Bảy nhà hiền triết) của Ấn Độ và The Pleiades (The Seven Sisters/Bảy chị em) của Hy Lạp. Về thiên văn học, The Pleiades hay còn gọi là Thất Nữ có tên khoa học là M45, là thiên thể có hình dạng như một chòm sao màu xanh sáng mờ, cách Trái đất 440 năm ánh sáng. Pleiades là một trong những cụm sao mở gần nhất và sáng nhất, có thể quan sát được bằng mắt thường từ Địa cầu.
Cụm sao Thất Nữ nằm trong chòm sao Kim Ngưu (Taurus), gồm khoảng 500 ngôi sao có đường kính 35 năm ánh sáng. Điều đáng nói là trong bảy ngôi sao Thất Nữ, thì chỉ có sáu ngôi sao là sáng rõ dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường, ngôi sao còn lại, ngôi thứ bảy, theo khoa học, có biến quang phức tạp, khó hiểu, luôn thay đổi độ sáng, lúc ẩn lúc hiện. Vì có vị trí đặc biệt nằm gần đường hoàng đạo của chòm sao Taurus, sự xuất hiện, lặn và mọc của Pleiades luôn được cư dân các nền văn hóa trên thế giới quan sát và lý giải khác nhau theo trí tưởng tượng và trình độ hiểu biết của họ. Pleiades báo hiệu mùa xuân và mùa thu ở cả Bắc và Nam bán cầu.
Không chỉ ở Việt Nam7, Tua rua gắn liền với cuộc sống nông nghiệp, mà ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) xa xôi, sự xuất hiện của Tua rua cũng báo hiệu
7Ở Việt Nam, Pleiades còn được biết đến là Tua rua hay theo cách gọi của người nông dân đồng bằng Bắc bộ là Sao Mạ. Mỗi khi trông thấy Tua rua xuất hiện vào sáng sớm là báo hiệu thời gian gieo mạ chính vụ bắt đầu, khoảng tháng sáu dương lịch. Trong quá trình lao động, sản xuất, Tua rua trở nên quen thuộc và gắn bó với người nông dân thể hiện qua cao dao Việt Nam:
“Tua rua đi rắc mạ mùa Tiểu thử đi bừa, cày ruộng rất sâu