Ảnh hưởng của Triết học Hindu giáo đối với Hy Lạp

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 148 - 165)

CHƯƠNG 3. SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA HY LẠP

3.1. Ảnh hưởng Ấn Độ đến triết học Hy Lạp

3.1.1. Ảnh hưởng của Triết học Hindu giáo đối với Hy Lạp

Trường hợp cỗ xe song mã trong tác phẩm Phaedrus của Plato và biểu tượng cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad

Cỗ xe song mã của Plato (Phaedrus)

Plato (427-347 TCN) được mệnh danh là ông hoàng triết học Hy Lạp, đã để lại cho đời sau tổng cộng khoảng 34 tác phẩm triết học, thiên đối thoại (Hà Thúc Minh, 2000, tr.76), trong đó nổi tiếng nhất là tác phẩm Republic (Cộng Hòa hay còn gọi là Quốc gia lý tưởng), Timaeus và Phaedrus.

Phaedrus được viết theo thể đối thoại khoảng năm 370 TCN cùng với tác phẩm Republic (Cooper, 1997), kể lại cuộc hội thoại giữa nhân vật chính, Socrates và Phaedrus (một người đối thoại trong một số thiên đối thoại của Plato). Tác phẩm xoay quanh nhiều đề tài đa dạng như tình yêu, nghệ thuật diễn thuyết, hùng biện (một chủ đề phổ biến của triết học Hy Lạp lúc bấy giờ), cũng như thuyết luân hồi, … Đặc biệt, hình tượng cỗ xe ngựa song mã của Plato được đề cập trong tác phẩm đối thoại Phaedrus là một phép ẩn dụ ám chỉ bản thể của linh hồn và hành trình của nó. Plato nêu lên quan niệm triết học duy tâm khách quan qua học thuyết Ý niệm, thừa nhận linh hồn vĩnh cửu, bất diệt. Ông cũng là người đầu tiên tách linh hồn ra khỏi thể xác. Linh hồn được chia thành ba loại:

Lý trí, ý chí và tình cảm, trong đó, lý trí ở địa vị cao hơn và thống trị hai cái kia (Hà Thúc Minh, 2000, tr.81).

Trong Phaedrus, Plato chứng minh sự bất diệt của linh hồn. Linh hồn luôn chuyển động không ngừng trong chính nó và là nguồn cội của mọi vật, không có bắt đầu và do đó không có kết thúc, cũng như không thể bị hủy diệt. Plato đưa ra hình tượng ẩn dụ cỗ xe ngựa song mã ám chỉ linh hồn (psyche) với cấu

trúc ba phần, gồm người đánh xe (đại diện cho phần lý trí ‘logos’), một con ngựa trắng (đại diện cho cái tốt, tinh thần, tâm linh, ý chí, mục tiêu, dũng cảm) và một con ngựa đen (đại diện cho cái xấu xa, đê hèn, ham muốn, nhục dục, dục vọng). Phần linh hồn này được biểu thị bởi con ngựa đen có tính khí bất kham, thường gây ra nhiều phiền toái cho người đánh xe. Do đó, người đánh xe phải điều khiển cả hai con ngựa một cách hài hòa, nhất là kiềm chế con ngựa đen, phần xấu tính của linh hồn, vì ngựa đen có thể gây ra một số phiền toái cho người đánh xe. Một phần năng lượng tích cực của cỗ xe ngựa đến từ ngựa trắng, nếu người đánh xe không chú ý đến phần lượng năng này của linh hồn, cỗ xe sẽ bị thiếu năng lực và không thể đi đến cuối con đường của nó là cõi trời (heaven).

Ngựa trắng đại diện cho lý trí, nếu người đánh xe không kiểm soát, điều khiển, nhiếp phục ngựa trắng, ngựa trắng sẽ đi theo sự dẫn dắt của ngựa đen, tất cả năng lượng của ngựa trắng sẽ phục vụ cho sự ham muốn, thèm khát, dục vọng của ngựa đen. Do vậy, người đánh xe phải rất kỷ luật với ngựa trắng, chế ngự và kiềm chế nó, nắm vững dây cương, thậm chí đảm bảo rằng nó đã đi đúng đường cho đến khi về đến đích, đó là cõi trời (ẩn dụ cho chân lý, giác ngộ, giải thoát).

Biểu tượng cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad

Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của thánh kinh Veda.

Sự ra đời của Upanishad đánh dấu bước chuyển từ thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học (Doãn Chính, 2016, tr.77). Theo Doãn Chính, trong khi các kinh Veda thiên vọng về con đường thờ phụng, cầu xin sự phù hộ và ban phước lành của các thần linh, sức mạnh thiên nhiên được nhân hình hóa, các Upanishads lại có ý nghĩa khai phá con đường trí tuệ để lý giải những vấn đề về bản thể và bản chất đời sống tâm linh của con người. Upanishad (hay còn gọi là Áo Nghĩa Thư) theo từ nguyên có nghĩa là “Cận tọa” hay “Thị tọa”, nêu lên nguyên lý vũ trụ và tinh thần sáng tạo vũ trụ tuyệt đối tối cao (Brahman). Do đó, Upanishad là loại tri thức mà người thầy Bà la môn bí truyền hoặc mật truyền cho môn sinh thân tín và xứng đáng của mình. Trong đó, Upa có nghĩa là gần, ni là cung kính, và shad là ngồi, Upanishad chỉ người học trò ngồi gần hoặc ngồi bên cạnh người

thầy một cách cung kính để thầy truyền dạy giáo lý của Veda (Doãn Chính, 2016, tr.78)

Tuy nhiên, theo Sankaracharya, một Bà la môn bình chú Upanishads: Upa và ni là tiền tố, shad có nghĩa là phá hủy (destroy), đạt tới (reach), nới lỏng, cởi trói (loosen) và kvip có nghĩa là kết thúc, chấm dứt (termination). Vì vậy, Upanishad chỉ tri thức tuyệt đối giúp con người phá hủy hoặc cởi bỏ sự vô minh (ignorance) để đạt đến cái tuyệt đối, chân lý Brahman. Ngoài ra, Upanishad thể hiện nội dung phần kết luận của mỗi Veda (gồm Rgveda, Samaveda, Shukla Yajurveda, Krishna Yajurveda và Atharvaveda) và mục đích tối thượng của giáo lý thánh kinh này nên được xếp vào loại Vedanta, trong đó anta có nghĩa là kết thúc (end), Veda-anta là đoạn cuối của Veda (end of Veda). Trong năm Veda trên, mỗi Veda bao gồm những Saakas (nhánh), mỗi Saaka chứa những karma khanhda (bộ phận của kinh Veda) trình bày nghi thức và cách hành lễ hiến tế.

Mỗi karma khanda gồm hai phần: Phần mantras (thần chú) và phần Brahmanas (bao gồm Aranyakas và Upanishads) (Doãn Chính, 2016, tr.714). Brahmanas diễn giải về các hình thức thiền (gọi là upasanas) và Aranya có nghĩa là rừng rậm, chỉ những rishi (đạo sĩ, hiền triết) tu tập trong rừng và thấu đạt chân lý Brahman. Một số tài liệu cho rằng Upanishad được miêu tả trong phần Aranyakas của Veda. Năm Veda cộng lại có 1180 Saakas (nhánh), do đó có 1180 Upanishads. Nhưng thực tế, theo Muktiko Upanishad, chỉ còn 108 Upanishads đang hiện tồn. Trong đó, Rigveda chứa (10 Upanishads), Samaveda (16 Upanishads), Sukla Yajurveda (19 Upanishads), Krishna Yajurveda (32 Upanishads) và Atharvaveda (31 Upanishads). Một lần nữa các Upanishads được chia theo bảy nội dung:

(1) Nội dung về Shaiva (thần Shiva) (gồm 13 Upanishad)

(2) Nội dung về Shakti (năng lực sáng tạo, sinh hóa nữ (gồm 9 Upanishad) (3) Nội dung về Vaishnav (thần Vishnu) (gồm 14 Upanishad)

(4) Nội dung về Yoga (gồm19 Upanishad)

(5) Nội dung về Sanyasa (đời sống khổ hạnh của người Bà la môn, xuất thế, đoạn tuyệt với mọi ràng buộc của tình cảm, nhục dục để đạt đến chân lý (gồm 16 Upanishad)

(6) Nội dung tổng quát (General) (gồm 27 Upanishad) và (7) Nội dung quan trọng, chính yếu (gồm 10 Upanishad)

Mười Upanishads chính này là Isha, Kena, Katha, Prasna, Mundaka, Mandukya, Taitareya, Aitareya, Chandogya và Brahadaranyak. Doãn Chính (2016) cho rằng Upanishad có tới hơn 200 bài kinh và 13 bài kinh đầu được xem là cổ nhất và đặc biệt nhất. Nhưng tác giả cũng chỉ nêu ra vị trí của 10 Upanishad trên trong các Veda như sau:

(1) Aitareya Upanishad thuộc Rgveda

(2) Brahadaranyak, (3) Isha và (4) Taitareya thuộc Yajurveda (5) Chandogya và (6) Kena thuộc Samaveda

(7) Mandukya, (8) Mundaka và (9) Prasna thuộc Atharvaveda và (10) Katha Upanishad thuộc Yajurveda (tr. 78).

Upanishad chỉ ra con đường (janma/marga) để đi đến tri thức (direct knowledge) thông qua abheda (bất nhị) đó là Brahmana, thực hành tế lễ (yajnas), tôn thờ thần linh, tập trung vào sự tự do của tâm, tránh mọi sự ràng buộc, chế ngự tâm để phát triển Brahmana và mục đích sau cùng là nhận thức được Brahman.

Katha Upanishad (hay còn gọi là Kathopanishad) là một trong những Mukhya Upanishad thuộc Krishna Yajurveda, đứng vị trí thứ ba trong 108 Upanishads. Katha Upanishad gồm hai chương (Adhyayas), mỗi chương gồm ba phần (vallis), kể về huyền thoại của một cậu bé tên Nachiketa, con trai của nhà hiền triết Vajasravasa, đã gặp thần Chết (Yama). Câu chuyện đàm luận của họ xoay quanh về bản chất của con người, tri thức, linh hồn (atman) và giải thoát (moksha).

Giống như các Upanishad khác, Katha Upanishad nhằm làm sâu sắc trí tuệ về Brahman, đã thuyết giảng về sự tốt lành dựa trên sự thanh tịnh của tâm hồn.

Katha Upanishad cho rằng Atman (linh hồn) không thể biết được bằng cảm giác, mà chỉ có thể nhận biết bằng trực giác, sự hiểu biết với bản thể tuyệt đối thông

qua tri giác và lý trí. Katha Upanishad còn nổi tiếng với học thuyết về cỗ xe ngựa, trong đó thể xác được ví như một cỗ xe chở linh hồn (Atman/Jiva/Arjuna) đến nơi anh ta cần đến, miễn là chiếc cỗ xe thỏa mãn các điều kiện: Thùng xe đủ tốt (shariivam), người điều khiển xe sáng suốt, con ngựa bất kham được kiềm chế, nhiếp phục, sợi dây cương chắc chắn, ngựa đi theo con đường đã vạch sẵn.

Trong đó Katha Upanishad đã dùng phép ẩn dụ, ví thùng xe (shariivam) là thể xác, những con ngựa kéo (Indriyas) là các giác quan (vị giác, xúc giác, thính giác,…), dây cương là trí tuệ (mind, manas), người đánh xe (Charioteer) là trí năng (buddhi). Giống như chiếc xe ngựa, con người đang đi trên con đường để tiến đến chân lý, phải có một cơ thể khỏe mạnh (thùng xe đủ tốt), có trí tuệ (dây cương), thoát khỏi tình trạng vô minh (trí năng), chế ngự các giác quan (nắm vững dây cương), chỉ nhằm vào mục tiêu (con đường vạch sẵn) là đạt được sự giải thoát khỏi vòng sinh tử (đi đến nơi cần đến).

Katha Upanishad xem linh hồn như là chủ nhân của thể xác và thể xác là cỗ xe được linh hồn dùng tạm để đi trên con đường (janma) đến chân lý, thoát khỏi khổ đau và vòng luân hồi, sinh tử. Katha Upanishad đã viết:

“Aatmaanam rathinam viddhi shariiram rathameva tu buddhin tu saarathim viddhi manah pragrahameva cha. Indriyaanii hayaanaahur-vishayaam stheshu gocharaan aatmendriya-manoyuktam bhokte-tyaahur maniishinaha.

Yastva-vignyaan vaan-bhavatya-yuktena manasaa sadaa tasyendri-yaanya- vashyaani dushtaashvaa iva saarathe. Yastu vignyaana-vaan-bhavati- yuktena manasssa sadaa tasyendri-yaani vashyaani sadashvaa iva saarathe”

(Katha Upanishad 1.3.3-6)

(Hãy biết linh hồn là chủ nhân của cỗ xe và thể xác là chiếc cỗ xe, trí năng (buddhi) là người điều khiển cỗ xe và trí tuệ là dây cương. Các giác quan là những con ngựa kéo, con đường chúng đi chính là các đối tượng của giác quan trong thế giới vật chất. Linh hồn (Atman) tồn tại sâu kín trong thể xác con người, trong tri năng, giác quan và trí tuệ và là người thụ hưởng (enjoyer). Người mà thiếu sự hiểu biết đúng đắn và trí tuệ, thiếu kỷ luật, không kiềm chế các giác quan, để các giác quan thiếu kiểm soát như những

con ngựa bất kham của người điều khiển xe ngựa. Nhưng người có tri kiến đúng đắn và có trí tuệ kỷ luật, chế ngự được các giác quan, các giác quan luôn luôn được kiểm soát giống như những con ngựa tốt của người đánh xe.) (Max Muller, 1962, tr.12-13)

Theo Katha Upanishad, đoạn kinh trên đã xem người hiểu biết Atman như chủ nhân của chiếc xe ngựa, mà thể xác là cái thùng xe, trí năng là người đánh xe và trí tuệ là dây cương. Các giác quan là những con ngựa kéo xe, đường đi của xe ngựa là đối tượng của các giác quan. Atman (linh hồn) tương hợp với thể xác, thông minh, sáng suốt là người thụ hưởng các giác quan và trí tuệ. Nếu trí năng liên hệ với trí tuệ, bị xao nhãng, mất đi sự sáng suốt của nó, thì các giác quan sẽ không được kiểm soát, kiềm chế, giống như con ngựa tồi của người đánh xe. Do đó, người thông minh nên nhận thức rõ vai trò người đánh xe của mình, nắm chắc dây cương trí tuệ, đi tới tận cùng con đường, đó chính là vị trí tối cao của thần Vishnu (Doãn Chính, 2016, tr.112).

Sự tương đồng giữa cỗ xe song mã trong Phaedrus của Plato và cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad, Ấn Độ

Sự tương đồng giữa cỗ xe song mã trong Phaedrus của Plato và cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad được minh họa ở bảng 3.1 sau:

Bảng 3.1. Sự tương đồng giữa cỗ xe song mã của Plato và cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad

Stt Các thành phần cỗ xe ngựa Phaedrus Katha Upanishad 1 Ngựa chiến (Horse) Song mã có cánh

(1 trắng, 1 đen) Lý trí, ham muốn, dục vọng

Ngũ mã Các giác quan (indriyani) 2 Dây cương (Reins) Mối quan hệ giữa

linh hồn và song mã

(linh hồn điều khiển song mã qua dây cương)

Phần trí tuệ của linh hồn (manas)

3 Thùng xe (Chariot) Thể xác Thể xác

4 Người đánh xe (Charioteer) Phần lý trí, trí tuệ

của linh hồn Tri năng của linh hồn (buddhi)

(logistikon eros) 5 Hành khách trên xe ngựa

(Passenger)

Linh hồn (psyche) Người đánh xe

Linh hồn (Atman) Người thụ hưởng (bhoktr)

6 Con đường của cỗ xe (Path) Khí quyển

Đường đi lên cõi trời (heaven)

Đối tượng của các giác quan (visaya), thế giới vật chất

7 Đích đến/Điểm đến/Mục đích sau cùng của cuộc hành trình (Goal of journey)

Cõi trời (heaven) và vượt ra ngoài cõi trời, vùng đất của chân lý, Giải thoát, cõi trời của thần Zeus

Giải thoát, chấm dứt sinh tử, cõi cao nhất, vị trí tối cao của thần Vishnu

Bảng 3.1 trên cho thấy một số điểm tương đồng giữa cỗ xe song mã trong Phaedrus của Plato và cỗ xe ngũ mã trong Katha Upanishad. Thứ nhất, về hình tượng ngựa chiến và biểu tượng của chúng, cả hai đều ám chỉ phần thể xác.

Trong Phaedrus, cổ xe song mã một trắng và một đen, trong đó, ngựa trắng biểu thị phần lý trí, tinh thần và ngựa đen biểu thị phần cảm xúc thể xác, đó là những ham muốn của xác thịt, dục lạc. Cũng vậy, ngũ mã trong Katha biểu thị cho ngũ giác quan của cơ thể con người (vị giác, xúc giác, thính giác, thị giác, khứu giác), những giác quan chỉ khoái lạc của thể xác. Song mã của Plato là loại ngựa có đôi cánh, đây là một đặc điểm trong truyền thống huyền thoại Hy Lạp, trong khi ngũ mã trong Katha Upanishad thì không có đôi cánh. Thứ hai, về dây cương, cả hai đều cho thấy ít nhiều có sự tương đồng. Trong Phaedrus, dây cương chỉ mối quan hệ giữa linh hồn và song mã, linh hồn điều khiển song mã qua dây cương, nhưng trong Katha Upnaishad, dây cương biểu thị cho manas, phần trí tuệ của linh hồn. Tuy nhiên, phần trí tuệ này cũng phải được kiềm chế bởi linh hồn, bằng kỷ luật, bằng thiền định để nó phát triển và đạt đến tuệ giác.

Thứ ba, về thùng xe, trong Phaedrus, nó đại diện cho một bộ phận phức tạp, vừa chở linh hồn, vừa chở người đánh xe qua sự điều khiển của linh hồn. Qua đó, Plato ngụ ý rằng linh hồn điều khiển phần thể xác và cỗ xe chính là phần thể xác này. Tương tự, trong Katha Upanishad, thùng xe được tách riêng thành một

bộ phận độc lập, đó là phần thể xác của con người. Thứ tư, về người đánh xe, cả hai đều chỉ phần tinh thần, lý trí của linh hồn (Phaedrus: logistikon; Katha Upanishad: buddhi). Thứ năm, về hành khách trên xe ngựa, cả hai đều chỉ phần linh hồn, người đã dùng phương tiện là cỗ xe để đi đến nơi cần đến. Trong Phaedrus, Plato gọi đó là Psyche và trong Katha Upanishad, linh hồn được gọi là Atman. Điểm khác biệt giữa Psyche và Atman là trong khi Psyche còn là người đánh xe, thì Atman chỉ là người thụ hưởng trên hành trình đó. Thứ sáu, về con đường của cỗ xe, trong khi trong Phaedrus, con đường cỗ xe song mã đi chỉ là một con đường nhưng đặc biệt ở chỗ nó không phải là một còn đường sông hay đường bộ bình thường mà là con đường không gian, đường lên trời.

Còn trong Katha Upanishad, vì linh hồn đóng vai trò là người thụ hưởng (enjoyer) nên con đường cỗ xe cũng rất đặc biệt, nó là con đường của các đối tượng của giác quan về thế giới vật chất. Đây chính là điểm khác biệt giữa hai con đường trong Phaedrus và trong Katha Upanishad. Katha Upanishad nhấn mạnh rằng thế giới vật chất chính là những rào cản trên con đường đi đến chân lý, sự giải thoát. Do đó, con người muốn tìm sự giải thoát khỏi thế giới vật chất hư ảo thì phải biết từ bỏ chúng, vững dây cương để đi đến bến bờ hạnh phúc thật sự. Và sau cùng là về đích đến của cả hai cỗ xe trong Phaedrus và trong Katha Upanishad. Cả hai đều cho thấy có cùng một điểm đến, mục tiêu đó là đi đến vùng trời chân lý, giải thoát. Có khác chăng đó là trong Phaedrus, đích đến của cỗ xe song mã là cõi trời cai quản của thần Zeus, vị thần tối cao của người Hy Lạp cổ đại, trong khi đích đến của cỗ xe ngũ mã là chấm dứt sự sinh tử và vị trí tối cao của thần Vishnu.

Tuy nhiên, Plato cũng bộc lộ niềm tin vào sự tái sinh và mục đích cỗ xe của ông cũng là đi tìm sự vĩnh hằng của linh hồn ở cõi trời, linh hồn bất tử như các vị thần của họ. Qua Phaedrus, Plato sử dụng hình ảnh cỗ xe song mã để giải thích quan điểm của ông về linh hồn (Psyche). Ông vẽ ra chân dung của người đánh xe điều khiển cỗ xe được kéo bởi song mã có cánh và đường đi của cỗ xe là theo con đường của các vị thần để đến được chân lý, giải thoát, được bất tử như thần. Nhưng chỉ có một số linh hồn có thể giải thoát hoàn toàn, tức có thể

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 148 - 165)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(264 trang)