Thông qua các con đường và phương thức khác nhau như truyền giáo, thương mại, du hành…, văn hóa phương Tây đã dần dần thâm nhập và ảnh hưởng một cách sâu rộng trên nhiều lĩnh vực đối với
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Trương Anh Thuận
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
INFORMATION OF RESEARCH RESULTS OF THE THESIS
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Nguồn tư liệu 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Bố cục của luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÀNG TRONG VÀ PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ XVII, XVIII 8
1.1 Quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây trước thế kỉ XVII 8
1.2 Bối cảnh lịch sử Đàng Trong trong các thế kỉ XVII, XVIII 11
1.3 Nhu cầu về thị trường và truyền giáo từ các nước phương Tây 15
Chương 2: CÁC LĨNH VỰC GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÀNG TRONG VÀ PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ XVII, XVIII 19
2.1 Sự du nhập văn hóa phương Tây vào Đàng Trong thế kỉ XVII, XVIII 19
2.1.1 Thiên Chúa giáo 19
2.1.2 Chữ Quốc ngữ 23
2.1.3 Khoa học kĩ thuật 33
2.2 Văn hóa Đàng Trong được giới thiệu sang phương Tây thế kỉ XVII, XVIII 43
2.2.1 Văn hóa Đàng Trong thế kỉ XVII, XVIII qua các tài liệu của người phương Tây 43
Trang 42.2.2 Đời sống văn hóa vật chất 45
2.2.3 Đời sống văn hóa tinh thần 49
Chương 3: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÀNG TRONG VÀ PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ XVII, XVIII 58
3.1 Đặc điểm quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây thế kỉ XVII, XVIII 58
3.2 Vai trò của quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây thế kỉ XVII, XVIII 66
3.3 Hạn chế của quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây trong thế kỉ XVII, XVIII 69
3.4 Bài học kinh nghiệm 72
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của luận văn với đề tài: “Giao lưu văn hóa
giữa Đàng Trong Việt Nam với các nước phương Tây thế kỷ XVII, XVIII” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trương Anh Thuận và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm hiện tại
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Đà Nẵng, ngày 30 tháng 6 năm 2020
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Lệ
Trang 6THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Tên đề tài: GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÀNG TRONG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY THẾ KỶ XVII, XVIII
Ngành: Lịch sử Việt Nam
Họ tên học viên: Trần Thị Minh Lệ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Anh Thuận
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng
Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam với các nước phương Tây vào thế kỷ XVII, XVIII chiếm một vị trí độc đáo trong lịch sử Việt Nam Thông qua các con đường và phương thức khác nhau như truyền giáo, thương mại, du hành…, văn hóa phương Tây đã dần dần thâm nhập và ảnh hưởng một cách sâu rộng trên nhiều lĩnh vực đối với nền văn hóa Đàng Trong như: tư tưởng - tôn giáo, khoa học -
kĩ thuật, ngôn ngữ - chữ viết.Trong khi đó, thông qua vai trò của người phương Tây (thương nhân, nhà truyền giáo, nhà du hành…), nhiều thành tựu của văn hóa Đàng Trong Việt Nam cũng dần được lan tỏa sang phương Tây và ở một mức độ nhất định đã cung cấp cho người phương Tây những hiểu biết đầu tiên về đất nước, con người Việt Nam trên nhiều phương diện như lịch sử, chính trị, quân sự, ngôn ngữ, đời sống văn hóa vật chất và tinh thần…
Việc lựa chọn nghiên cứu vấn đề “Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam và các nước
phương Tây thế kỷ XVII, XVIII” có ý nghĩa sâu sắc trên phương diện khoa học và thực tiễn Trên cơ sở
nghiên cứu các nguồn sử liệu có giá trị, tác giả luận văn đã nghiên cứu một cách khá hệ thống, đầy đủ
và toàn diện về các con đường giao lưu văn hóa phương Tây và Đàng Trong trong các thế kỉ XVII, XVIII, hoạt động giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong với các nước phương Tây ở cả hai chiều trên nhiều lĩnh vực Từ đó đánh giá đặc điểm, tính chất và hệ quả, tác động của quá trình giao lưu văn hóa giữa phương Tây và Đàng Trong thế kỷ XVII, XVIII Chính vì vậy, việc hoàn thành nghiên cứu luận văn sẽ góp phần cung cấp một tài liệu chuyên khảo có giá trị về mặt khoa học, phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập một số học phần về tiếp xúc, giao lưu văn hóa Đông – Tây tại các trường Đại học
Tuy nhiên, mong muốn của tác giả về việc nghiên cứu vấn đề này còn vượt ra ngoài giới hạn và khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ mà tác giả đang sắp sửa hoàn thành Trong tương lai, tác giả dự định tiếp tục tìm kiếm, sưu tầm và khai thác các nguồn sử liệu khác nhau để mở rộng tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa giữa cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Việt Nam với các nước phương Tây, đồng thời so sánh rút ra những đặc điểm, tác động của quá trình giao lưu Tác giả hi vọng sẽ có thêm nhiều cứ liệu lịch sử góp phần đánh giá khách quan hơn về quá trình giao lưu văn hóa cũng như rút ra các bài học kinh nghiệm tại thời điểm thế kỷ XVII, XVIII và liên hệ với giai đoạn hiện nay
Từ khóa: giao lưu văn hóa, Đàng Trong và phương Tây, con đường giao lưu, xứ Đàng Trong,
Đàng Trong thế kỷ XVII, XVIII
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người thực hiện đề tài
Trương Anh Thuận Trần Thị Minh Lệ
Trang 7INFORMATION OF RESEARCH RESULTS OF THE THESIS
CULTURE EXCHANGE BETWEEN COCHINCHINA (DANG TRONG), VIETNAM AND THE WESTERN COUNTRIES IN THE XVII, XVIII CENTURIES
Major: Vietnamese History
Full name of Master student: Tran Thi Minh Le
Supervisor: Dr Truong Anh Thuan
Training institution: The University of Danang - University of Science and Education
Cultural exchange between Cochinchina and the Western countries in the XVII, XVIII centuries
is one of the original phenomena of the Vietnamese history Through various ways and methods such
as missionary work, trade, travel, etc., western culture gradually pervaded and had a certain influence
on some areas of the Cochinchina culture such as religion, science - technology, language - handwriting Meanwhile, thanks to the Westerners (merchants, missionaries, travelers .), many achievements of the Cochinchina culture gradually spread to Europe and to a certain extent, it provided the Westerners with the first knowledge about the Cochinchina land and its people in some aspects such
as history, politics, military, language, material and spiritual cultural life, etc
The research on "Culture exchange between Cochinchina (Dang Trong), Viet Nam and the Western countries in the XVII, XVIII centuries" has profound implications in terms of science and practice Based on the study of valuable historical sources, the paths of cultural exchange between Cochinchina and the Occident in the XVII, XVIII centuries as well as two - way cultural exchange activities in different areas were studied systematically, fully and comprehensively Then, the characteristics, evaluation of the role and limitations of the process of cultural exchange between Cochinchina and the Western countries in the XVII, XVIII centuries were summarized Therefore, the thesis will be a valuable scientific monograph serving the research, teaching and learning on East-West cultural exchange and interaction at universities
However, it is desired that the study on this issue will go beyond the limit and framework of the thesis In the future, the author will continue searching, collecting and exploiting various sources of historical data to expand the understanding of the process of cultural exchange between Cochinchina and the Western countries, and at the same time, compare and summarize the characteristics and impacts
of that exchange process The author hopes to have more historical evidence to contribute to a more objective study and evaluation of the cultural exchange between Cochinchina and the Western countries
in the XVII, XVIII centuries, as well as to draw lessons for the country's cultural exchange activities currently and in the future
Keywords: cultural exchange, Cochinchina (Dang Trong), Western countries, path of exchange,
material culture, spiritual culture, science and technology
Trang 8
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 So sánh cách phiên âm một số từ tiếng Việt của các giáo
2.2 So sánh cách phiên âm tiếng Việt của Cristophoro Borri,
2.3 So sánh một số từ Latinh hóa trong tài liệu của
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ thế kỉ XVI, sự tiến bộ khoa học kĩ thuật, đặc biệt là trên lĩnh vực hàng hải đã tạo tiền đề cho các nước phương Tây tiến hành công cuộc phát kiến địa lý, với mục đích tìm ra con đường đến với thế giới phương Đông, để thiết lập quan hệ giao lưu, buôn bán
và truyền đạo Là quốc gia nằm ven bờ Thái Bình Dương, lại gần với Ấn Độ Dương, đóng vai trò là một mắt xích quan trọng trên con đường thương mại biển nối liền Châu
Âu với khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á ở vùng Viễn Đông, nên ngay từ rất sớm, song hành với hoạt động thương mại và truyền giáo được tiến hành bởi các thương nhân
và giáo sĩ phương Tây, các thành tựu văn hóa phương Tây cũng đã từng bước du nhập vào Việt Nam nói chung và khu vực Đàng Trong nói riêng Trên thực tế, ở thế kỉ XVII, XVIII, bằng một số con đường và phương thức khác nhau, văn hóa phương Tây đã dần dần thâm nhập và có ảnh hưởng nhất định đối với người Việt ở Đàng Trong Trong khi
đó, thông qua vai trò của người phương Tây (thương nhân, nhà truyền giáo, nhà du hành…), nhiều thành tựu văn hóa của người Việt ở Đàng Trong cũng được truyền sang châu Âu và ở một mức độ nhất định đã cung cấp cho người phương Tây những hiểu biết đầu tiên đất nước và dân tộc Việt Mặc dù là một đề tài khá hấp dẫn, nhưng cho đến hiện nay, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, vấn đề giao lưu văn hóa phương Tây và Đàng Trong cũng chỉ được đề cập một cách rời rạc và tản mạn trong các công trình nghiên cứu về chữ Quốc ngữ hay Thiên Chúa giáo Đặc biệt, nếu có đề cập đến quá trình giao lưu văn hóa trong giai đoạn này, thì các nhà nghiên cứu cũng mới chỉ
chú ý đến chiều “từ Tây sang Đông”, tức là người Việt đã tiếp nhận những gì từ văn hóa phương Tây, mà chưa chú ý đến chiều ngược lại “từ Đông sang Tây”, tức những thành
tựu nào từ văn hóa người Việt được truyền sang phương Tây trong quá trình giao lưu này Chính vì vậy, một công trình mang tính toàn diện, hệ thống, phản ảnh đầy đủ tính hai chiều của quá trình này vẫn nằm trong sự kì vọng của giới nghiên cứu
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà sự kết nối, hợp tác, giao lưu giữa các quốc gia, khu vực trên thế giới diễn ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết, thì việc nghiên cứu, tìm hiểu bản sắc văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc, cũng như quá trình giao lưu văn hóa trong lịch
sử giữa các nước ấy trở thành một trong những tiền đề quan trọng để “chấp cánh” và
mở ra triển vọng mới cho quan hệ hợp tác sâu rộng, toàn diện giữa các quốc gia, khu vực trên thế giới ở hiện tại và tương lai Trong bối cảnh như vậy, việc nghiên cứu đề tài
“Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam và các nước phương Tây thế kỉ XVII,
XVIII” càng trở nên cần thiết, để trên nền tảng về tính “bao dung” của văn hóa Việt trong
quá trình tiếp nhận các thành tựu văn hóa của nhân loại qua các thời kì, sẽ giúp người
Trang 11Việt càng yêu quí và trân trọng hơn những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc Đồng thời, qua đó cũng giúp chúng ta vững vàn và tự tin hơn trong việc vươn ra hội nhập sâu rộng với thế giới, nhưng vẫn có thể giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đúng như quan
điểm của Đảng về giao lưu văn hóa trong thời đại ngày nay đó là “hòa nhập nhưng
không hòa tan”
Cuối cùng, việc đi sâu tìm hiểu vấn đề trên còn trở nên thực sự cần thiết, nhằm phục vụ cho công việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy một số ngành khoa học xã hội và nhân văn tại các trường đại học, cao đẳng trên phạm vi toàn quốc Hiện nay, trong chương trình đào tạo một số chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn về cơ bản đều
có các học phần và chuyên đề văn hóa như “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, “Văn hóa
phương Đông và văn hóa phương Tây cổ trung đại”, “Tiếp xúc, giao lưu văn hóa Đông
- Tây ở Việt Nam”, “Tiếp xúc văn hóa giữa phương Đông và phương Tây” Trong bối
cảnh chưa có bất kì một biên khảo tổng thể và hoàn chỉnh nào về quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây trong lịch sử thì việc nghiên cứu thành công đề tài này sẽ bước đầu cung cấp cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học cũng như sinh viên một tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao, mở đầu cho một quá trình nghiên cứu toàn diện hơn về vấn đề giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây trong tương lai, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu
và học tập một số học phần và chuyên đề văn hóa, phục vụ thiết thực cho công tác đào tạo đại học và sau đại học tại các trường đại học và viện nghiên cứu
Xuất phát từ những lí do trên, tác giả đã chọn “Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong
Việt Nam với các nước phương Tây thế kỉ XVII, XVIII” để làm đề tài luận văn thạc sĩ
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến hiện nay, mặc dù đã có một số thành quả học thuật khảo cứu một cách tổng thể hoặc mang tính chất cục bộ quá trình giao lưu văn hóa Việt Nam và phương Tây trong lịch sử, tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về đề
tài“Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam với các nước Phương thế kỉ XVII,
XVIII” thì vẫn còn khá nhiều khoảng trống Trên thực tế, một số nội dung của đề tài này
cũng đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau
Năm 1959, trong cuốn Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hồng đã
cung cấp nguồn sử liệu quan trọng về quá trình du nhập, hình thành và phát triển của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam từ trước thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII Trong đó, ông đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của các giáo sĩ Dòng Tên trong việc đưa Thiên Chúa giáo du nhập vào Đàng Trong và Đàng Ngoài trong nửa đầu thế kỉ XVII
Trang 12Năm 1972, trong cuốn Lịch sử chữ Quốc ngữ (1620-1659), tác giả Đỗ Quang
Chính đã dựa trên các tài liệu của các giáo sĩ Dòng Tên để tái hiện lại toàn bộ quá trình manh nha hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ trong giai đoạn từ 1615 đến năm
1659 Đồng thời, thông qua việc so sánh, đối chiếu tư liệu, ông cũng đã làm rõ vai trò của các nhà truyền giáo phương Tây, đặc biệt là các giáo sĩ Dòng Tên trong quá trình Latinh hóa tiếng việt và sáng tạo ra chữ Quốc ngữ
Năm 2008, nhà xuất bản Thế giới phát hành cuốn kỉ yếu của hội thảo khoa học
“Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX” do UBND tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức
Đây được xem là hội thảo lớn nhất về triều Nguyễn từ trước cho đến thời điểm đó Trong
số những tham luận trình bày tại hội thảo này, một số vấn đề như sự thịnh suy hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong, bối cảnh đất nước và con người Đàng Trong thế kỉ XVII, XVIII hay quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn cũng đã ít nhiều được đề cập đến Tuy nhiên, điều đáng tiếc là chưa có bất kì một tham luận nào nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về quá trình giao lưu văn hóa mang tính hai chiều giữa Đàng Trong với các nước phương Tây trong giai đoạn thế kỉ XVII, XVIII
Từ năm 2011 đến năm 2015, giới nghiên cứu cũng bắt đầu quan tâm tìm hiểu một cách gián tiếp hoặc trực tiếp vấn đề giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây
trong thế kỉ XVII, XVIII, mà luận án tiến sĩ “Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt
Nam từ cuối thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX – nguyên nhân và hệ quả” của tác giả của
Nguyễn Mạnh Dũng (2011) hay luận văn thạc sĩ “Quá trình du nhập Khoa học kĩ thuật
Phương Tây vào Việt Nam thế kỉ XVI-XVIII” của tác giả Phạm Ngọc Trang (2015) là
hai trong nhiều công trình tiêu biểu Các luận văn, luận án này là cơ sở để tham khảo, đối chiếu với một số nội dung liên quan đến đề tài mà tác giả đang theo đuổi Tuy nhiên,
để hoàn thành luận văn với một phạm vi nghiên cứu rộng hơn, tác giả cần phải dựa vào nhiều nguồn tài liệu gốc cũng như các thành quả nghiên cứu khác
Năm 2017, trên cơ sở tập hợp và nghiên cứu nhiều nguồn tư liệu khác nhau, tác giả Li Tana cho ra đời một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc với số liệu thống
kê chính xác về tình hình kinh tế - xã hội của xứ Đàng Trong Đó chính là cuốn “Xứ
Đàng Trong: Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17-18” Tác phẩm là tư liệu quan
trọng để tìm hiểu về bối cảnh Đàng Trong trong giai đoạn này Mặc dù một số phần trong công trình có đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây với sự hội nhập sáng tạo, tuy nhiên, nội dung nghiên cứu chính của tác phẩm vẫn là tình hình kinh tế - xã hội Đàng Trong ở các thế kỉ XVII, XVIII
Trang 13Bên cạnh những công trình khảo cứu ở trên, các tham luận được trình bày tại các
Hội thảo khoa học về chữ Quốc ngữ được tổ chức trong thời gian gần đây như Bình
Định với chữ Quốc ngữ (2016), Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ Quốc ngữ (2016) và
mới nhất là Hội thảo 100 năm chữ Quốc ngữ (2019) đã cung cấp cho tác giả cơ sở tư
liệu phong phú để nghiên cứu về quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây trên phương diện ngôn ngữ, văn tự Các tham luận này là kết quả quá trình dày công nghiên cứu của các nhà khoa học, đã đưa ra những đánh giá mới về vai trò của các giáo
sĩ phương Tây cũng như của trí thức người Việt đối với sự hình thành, phát triển của chữ Quốc ngữ
Trên cơ sở tìm hiểu, tham khảo một số công trình nghiên cứu trên đây, tác giả nhận thấy một số vấn đề sau:
Thứ nhất, các công trình kể trên về cơ bản mới chỉ cung cấp những thông tin rời rạc và tản mạn về quá trình giao lưu văn hóa giữa phương Tây và Đàng Trong Việt Nam trên một số lĩnh vực như tôn giáo, chữ viết, khoa học kĩ thuật… Tuy nhiên, chưa có công trình nào phản ảnh một cách toàn diện và hệ thống quá trình giao lưu văn hóa mang tính hai chiều giữa Đàng Trong và các nước phương Tây thế kỉ XVII, XVIII
Thứ hai, các công trình được đề cập ở trên về cơ bản chỉ là những nghiên cứu mang tính chất cục bộ, trên một vài lĩnh vực cụ thể Trong khi đó, giao lưu văn hóa mang tính hai chiều giữa Đàng Trong và các nước phương Tây thế kỉ XVII, XVIII lại diễn ra trên
Xuất phát từ những nhận định và phân tích nêu trên, tác giả đã lựa chọn vấn đề
“Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam với các nước phương Tây thế kỉ XVII,
XVIII” để làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn nghiên cứu một cách
đầy đủ toàn diện nội dung này, góp phần bổ khuyết cho các công trình nghiên cứu trước
đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài “Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam với
các nước phương Tây thế kỉ XVII, XVIII”, tác giả hướng đến mục đích tái hiện toàn cảnh
“bức tranh” giao lưu văn hóa mang tính hai chiều giữa Đàng Trong với các nước phương Tây thế kỉ XVII, XVIII Từ góc nhìn lịch sử này, tác giả đưa ra một số nhận định, đồng
Trang 14thời rút ra những bài học kinh nghiệm, định hướng đúng đắn trong nhận thức đối với việc giao lưu văn hóa giữa nước ta với các quốc gia trên thế giới trong hiện tại và tương lai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích các nhân tố tác động đến quá trình giao lưu văn hóa giữa phương Tây và Đàng Trong Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII
Thứ hai, làm rõ quá trình giao lưu văn hóa mang tính hai chiều giữa phương Tây
và Đàng Trong Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII, với các thành tựu văn hóa phương Tây du nhập vào Đàng Trong cũng như những giá trị văn hóa của người Việt ở Đàng Trong được truyền sang phương Tây ở giai đoạn này
Thứ ba, phân tích đặc điểm, vai trò, hạn chế của quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam và phương Tây trong hai thế kỉ XVII, XVIII
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong
Việt Nam và phương Tây
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quá trình giao lưu văn hóa giữa phương Tây và Đàng Trong Việt Nam diễn ra trên khu vực lãnh thổ Đàng Trong từ phía nam Linh giang trở vào Nam trong thế kỉ XVII, XVIII
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Nghiên cứu đề tài “Giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam với các nước
phương Tây thế kỉ XVII, XVIII”, tác giả chủ yếu sử dụng các nguồn tư liệu sau:
Thứ nhất là nguồn tư liệu gốc Để tiến hành nghiên cứu quá trình giao lưu văn hóa
giữa Đàng Trong Việt Nam và các nước phương Tây trong thế kỉ XVII, XVIII, tác giả
sử dụng nguồn tư liệu gốc dưới dạng các tác phẩm, tường trình, báo cáo và thư từ của các giáo sĩ, thương nhân, nhà du hành phương Tây từng có mặt tại Đàng Trong trong các thế kỉ XVII, XVIII
Thứ hai là thành quả học thuật của giới nghiên cứu.Trong quá trình nghiên cứu đề
tài, những nội dung liên quan đến quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong Việt Nam
và các nước phương Tây trong thế kỉ XVII, XVIII ít nhiều được đề cập trong một số tác
phẩm, bài báo, luận văn như Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỉ
XVII đến giữa thế kỉ XIX - nguyên nhân và hệ quả của tác giả Nguyễn Mạnh Dũng, luận
văn thạc sĩ Quá trình du nhập Khoa học kĩ thuật Phương Tây vào Việt Nam thế kỉ
Trang 15XVI-XVIII của Phạm Ngọc Trang, cuốn kỷ yếu của hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX do UBND tỉnh Thanh
Hóa phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức năm 2008, Lịch sử truyền
giáo ở Việt Nam của Nguyễn Hồng, bài viết Thủy quân Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII và đầu thế kỉ XIX qua các nguồn sử liệu phương Tây của tác giả Phạm Văn Thủy in trong
sách Người Việt với biển… Các công trình nghiên cứu trên đã có tác dụng gợi mở và đặt cơ sở để tác giả theo đuổi việc nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong
Việt Nam và các nước phương Tây trong thế kỉ XVII, XVIII
Thứ ba là nguồn tư liệu trên mạng internet Trong đề tài này, ngoài nguồn từ liệu
gốc và các ấn phẩm học thuật của các nhà nghiên cứu, tác giả còn sử dụng hệ thống tư
liệu mạng internet như bài viết Xứ Đàng Trong trong các mối quan hệ và tương tác
quyền lực khu vực của tác giả Nguyễn Văn Kim, Thủy quân Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII
và đầu XVIII qua các nguồn sử liệu phương Tây của tác giả Phạm Văn Thủy, Sự chuyển giao kĩ thuật quân sự Tây phương cho Việt Nam hồi cuối thế kỉ XVIII và đầu thế kỉ XIX – Trường hợp nhà Nguyễn của tác giả Frédréric Mantienne…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đứng vững trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp sử dụng hai phương pháp chủ đạo của Sử học là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, đồng thời vận dụng các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh…., nhằm rút ra những thông tin cần thiết nhất phục vụ nghiên cứu đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn được nghiên cứu hoàn thành sẽ có ý nghĩa sâu sắc trên phương diện khoa học và thực tiễn với các đóng góp cụ thể và thiết thực sau đây:
Thứ nhất, tập hợp sử liệu có giá trị để nghiên cứu một cách tương đối hệ thống, đầy đủ về quá trình giao lưu văn hóa mang tính hai chiều giữa các nước phương Tây và Đàng Trong trong các thế kỉ XVII, XVIII
Thứ hai, công trình được nghiên cứu hoàn thành sẽ cung cấp một tư liệu tham khảo
có giá trị khoa học phục vụ cho việc giảng dạy một số học phần như “Cơ sở văn hóa
Việt Nam”, “Văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây cổ trung đại”, “Tiếp xúc, giao lưu văn hóa Đông - Tây ở Việt Nam”, “Tiếp xúc văn hóa giữa phương Đông và phương Tây”… tại các trường Đại học, cao đẳng có đào tạo chuyên ngành khoa học xã
hội và nhân văn
Thứ ba, luận văn phân tích đặc điểm, vai trò và hạn chế của quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và các nước phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII, từ đó rút
Trang 16ra những bài học kinh nghiệm cho hoạt động giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới trong hiện tại và tương lai
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn dự kiến chia làm 3 chương:
Chương 1: Các nhân tố tác động đến quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng
Trong và phương Tây thế kỉ XVII, XVIII
Chương 2: Các lĩnh vực giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây thế
kỉ XVII, XVIII
Chương 3: Một số nhận định về quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong
và phương Tây thế kỉ XVII, XVIII
Trang 17kỳ đẩy mạnh giao lưu với các nước phương Tây nhằm củng cố tiềm lực Đây cũng là thời kỳ kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước phương Tây phát triển mạnh mẽ sau những cuộc phát kiến địa lý Nhu cầu thị trường và chinh phục đức tin đã thôi thúc giới thương nhân và các nhà truyền giáo cùng nhau đi trên một chuyến tàu sang các nước phương Đông, trong đó có Đàng Trong Việt Nam Vậy các nhân tố cụ thể nào đã tác động đến quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây trong thế kỉ XVII, XVIII? Nội dung chương này sẽ góp phần làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra ở trên
1.1 Quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây trước thế kỉ XVII
Các nguồn sử liệu cho thấy, trước thế kỉ XVII, quá trình giao lưu văn hóa giữa
Đàng Trong và các nước phương Tây diễn ra chưa nhiều, chủ yếu thông qua một số cuộc tiếp xúc đầu tiên của các nhà truyền giáo nên chưa đạt hiệu quả, dấu ấn để lại còn mờ
nhạt
Theo nhiều nhà chép sử truyền giáo miền Đông Á, vào thế kỉ XIV, giáo sĩ Odorico
de Perdenone trong cuộc vượt biển từ châu Âu sang châu Á có đỗ lại ở tỉnh Bình Định (lúc đó còn là đất của người Champa đời vua Chế A Nan (1318-1343) Trước Odorico
de Perdenone, vào thế kỉ XIII, Marco Polo trên con đường từ Vân Nam xuống Champa
cũng qua đất Việt [25, tr 17]
Vào năm 1535, Antonio de Faria cũng đã vào cửa Hàn và đến Hội An Từ năm
1540, người Bồ đã bắt đầu đến buôn bán với vùng Nam nước Việt Năm 1546, trong cuốn Lusiades, thi sĩ Camoens đã ca tụng cảnh đẹp thiên nhiên của Mekong xứ Cao
Trang 18Miên, vùng biển xứ Champa và xứ Cauchichina Từ sau năm 1555, người Bồ lập trụ sở
thương mại ở Áo Môn, liên lạc buôn bán lại càng tiến triển
Công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong được bắt đầu sớm hơn so với Đàng Ngoài Hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ một phần lớn ở trong khu vực người Chân Lạp và Chiêm thành Theo sử liệu ghi lại, giáo sĩ Gaspar de Santa Cruz cũng là một trong những
vị tiên phong truyền giáo, đồng thời là người đầu tiên đến truyền giáo cho miền Nam đất Việt vào giữa thế kỉ XVI Tiếp sau đó từ năm 1580 đến năm 1586, hai giáo sĩ Georges
de la Motte, người Pháp và Luis de Fonseca, người Bồ đã đến truyền giáo tại vùng Quảng Nam lúc đó thuộc quyền cai quản của Nguyễn Hoàng
Năm 1588, hai linh mục Đa Minh khác, là Juan Maldonat và Pedro de Bastida, qua cửa Cần Cạo (Hà Tiên) đi Cao Miên, nhưng chỉ mấy tháng sau bị truy bắt: Pedro de Bastida bị tử thương và từ trần, còn Juan Maldonat bị trúng đạn chạy trốn sang được Thái Lan Năm 1596, Linh mục Alonso Ximenez và Linh mục Diego Aduarte với Trợ
sĩ Juan Deca người Tây Ban Nha tới trước một cửa biển của Đàng Trong Trong bản tường trình của mình, Linh mục Diego Aduarte không nói cửa biển tên gì, nhưng một người trong đoàn nói là Cachan (có lẽ là Cửa Hàn, Đà Nẵng) Ba giáo sĩ này đến không phải trong một đoàn truyền giáo, mà với tư cách là những thành viên của đoàn viễn chinh Tây Ban Nha đi yểm trợ vua Cao Miên, trên đường về Manila, ghé vào bờ biển Việt Nam để tìm mua lương thực Họ được một vị phó vương (có lẽ là con Nguyễn
Hoàng) tiếp đón nồng nhiệt Linh mục Aduarte thuật lại như sau: “Vị hoàng tử này cho
chúng tôi nhiều tặng vật và dành cho chúng tôi nhiều ân tình, ông tha thiết mời gọi tôi
ở lại kinh đô, hứa xây cho nhà nguyện Tôi trả lời ông là tôi không thể nhận lời khi chưa
có phép của giáo sĩ kia đang ở trên tàu Ông để cho tôi đi trở về cửa khẩu” [9, tr 27]
Cũng theo nguồn tư liệu của Trương Bá Cần, ở Đà Nẵng do có sự bất bình giữa nhà cầm quyền Việt Nam và viên chỉ huy Tây Ban Nha, đoàn thuyền của người Tây Ban Nha bị tấn công đã phải tìm cách chạy thoát ra ngoài khơi Linh mục Aduarte ở trên thuyền đã trốn thoát với người Tây Ban Nha, trong lúc Linh mục Alonso Ximenez ở trên bờ với hai giáo sĩ khác Theo tài liệu, trong thời gian ở tại Đà Nẵng, linh mục Alonso Ximenez đã làm phép rửa tội cho hai tử tù trước giờ bị hành quyết Sau đó, Giáo sĩ Ximenez đã theo thuyền của người Bồ Đào Nha trở về Manila
Ở vùng Quảng Nam, Thuận Hóa của Nguyễn Hoàng, từ sau khi người Bồ lập trụ
sở thương mại ở Áo Môn, liên lạc thương mại giữa Áo Môn và cửa Hàn, cửa Hội An tiến triển đều đặn Thường thì các tàu buôn đến buôn bán đều có các vị thừa sai theo cùng Các vị thừa sai này thuộc dòng Thánh Phanxico và Thánh Agostinô người Bồ có
tu viện ở Áo Môn Tuy nhiên, do thiếu sự tổ chức chặt chẽ nên không đi đến kết quả khả
quan Trương Bá Cần nhận xét: “Công cuộc truyền giáo của Dòng Đa Minh ở Việt Nam
Trang 19thế kỉ XVI có thể nói là chưa có gì đáng được ghi nhận: phần lớn các giáo sĩ hoạt động trên phần đất thuộc Campuchia ngày nay” [9, tr 28]
Bên cạnh những ghi nhận cố gắng truyền giáo của Dòng Đa Minh vào Đàng Trong thế kỉ XVI thì Dòng Phan Sinh cũng có những ghi nhận về nổ lực truyền giáo ở đây Thế kỉ XIV, XV các tu sĩ Phan Sinh đã có mặt tại Trung Quốc và Ấn Độ Năm 1579, sau khi tu viện Phan Sinh được thành lập ở Manila đã cử Linh mục qua Macao lập tu viện Tương truyền là có sứ bộ của Việt Nam sang thỉnh các thừa sai Bồ Đào Nha đến Việt Nam giảng đạo Giám mục Macao vì không có sẵn các tu sĩ Bồ Đào Nha thuộc các dòng khác nên đề nghị với các tu sĩ Phan Sinh sang truyền giáo ở Việt Nam Tháng 6 năm 1580, Linh mục Pedro de Alfaro đã phải lên tàu đi Goa cùng với một tu sĩ Phan Sinh khác là Rodriguez de Lisboa Chiếc tàu bị đắm, Linh mục Alfaro đã chết trôi dạt vào bờ theo ký sự của Dòng Phan Sinh Dân chúng địa phương cho đây là một vị thần đáng kính nên đã tổ chức hỏa tang và chôn cất trọng thể Vì chi tiết hỏa táng này mà có tác giả cho rằng Linh mục đã trôi dạt vào vùng đất Champa
Năm 1586, theo sự sắp xếp của Tòa Thánh và của Bề Trên Dòng Phan Sinh, Việt Nam thuộc khu vực truyền giáo dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha nên được giao cho Dòng Phan Sinh ở Macao Hai giáo sĩ Phan Sinh người Bồ Đào Nha là Andre des Anges
và Jacques de la Conception đến Việt Nam Về khu vực truyền giáo của họ, các tài liệu của Dòng Phan Sinh chỉ nói là thuyền của Linh mục vì thời tiết xấu không vào được cửa khẩu của Triều đình mà tạm lánh vào cửa khẩu cách đó 6 dặm Một thuyền trưởng người
Bồ Đào Nha trong bản tường thuật đã nói rằng: “Khi đến cửa biển Dom Jage (có lẽ là
Sơn Trà), chúng tôi nhận được tin là Cacahan (có lẽ là cửa Hàn tức Quảng Nam, Đà Nẵng) có một tu sĩ Phan Sinh người Tây Ban Nha tên là Bartholome thân hình nhỏ, tóc bạc, trạc 50 – 60 tuổi, có tiếng là sống thánh thiện và khiêm tốn… Nhờ dâng lễ vật cho nhà vua ở Sinoa (tức Thuận Hóa), ông đã được phép xây dựng một ngôi nhà và Nhà nguyện trong làng Caian (tức Hội An, Faifo)” [9, tr 30] Tuy nhiên, do không hiểu tiếng,
họ chỉ giao dịch với chính quyền và người dân bằng dấu hiệu, có lúc họ đem tượng thánh
ra chỉ trỏ, giải thích, tuy nhiên chẳng có kết quả gì Nói tóm lại, ở Đàng Trong Việt Nam, Dòng Phan Sinh có nhiều nỗ lực truyền giáo ở thế kỉ XVI nhưng chưa đem lại hiệu quả Như vậy, từ những cứ liệu ở trên, có thể thấy rằng, trước thế kỉ XVII, những tiếp xúc và giao lưu văn hóa giữa cư dân bản địa ở khu vực Đàng Trong sau này chủ yếu diễn ra trên phương diện truyền giáo Ở Nam bộ, các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh đã
có mặt tương đối sớm Nhưng chủ yếu ở vùng đất thuộc Campuchia ngày nay, có lẽ cũng có hoạt động ở Nam bộ nhưng không đem lại hiệu quả nhiều Ở Trung bộ, Dòng Phan Sinh đã tỏ ra tích cực, cử nhiều đoàn truyền giáo nhưng do sự tranh giành ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nên quá trình truyền giáo thiếu liên tục
Trang 20Dòng Âu tinh cũng có mặt ở Quảng Nam - Đà Nẵng nhưng chỉ phục vụ cho thương nhân người Nhật và người Bồ Còn Dòng Đa Minh thì chỉ thực sự có mặt vào những năm cuối thế kỉ XVI nhưng là đi theo đoàn viễn chinh của Tây Ban Nha trên đường từ Cao miên về Manila chứ không chủ đích truyền giáo ở Việt Nam Công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong Việt Nam chưa có chiều rộng và chiều sâu có lẽ vì chưa được tổ chức bài bản, cách thức truyền giáo chưa hiệu quả Điều này đã ảnh hưởng nhất định không chỉ đối với công cuộc truyền giảng Phúc Âm mà còn đối với cả lĩnh vực giao lưu văn hóa đương thời Linh mục Borri, thừa sai từng có thời gian hoạt động ở Quảng Nam và Quy
Nhơn trong giai đoạn 1618-1621 nhận xét: “Trước khi các linh mục Dòng Tên chúng
tôi tới Đàng Trong, thói quen của người Bồ Đào Nha từ Malacca và Macao, của người Tây Ban Nha từ Manila, từ đây buôn bán là đem theo bên họ một vài tuyên úy để dâng thánh lễ và cử hành các bí tích cho họ trong suốt thời gian họ ở đó, thường ba, bốn tháng Các linh mục tuyên úy này không có trách nhiệm khác nào ngoài phục vụ người
Bồ Đào Nha nên không quan tâm đến việc lo lợi ích thiêng liêng của dân địa phương,
do đó không tìm cách học tiếng người bản xứ để đem ánh sáng Tin Mừng tới cho họ… Những người thông ngôn của các tuyên úy thường chỉ biết một vài tiếng Bồ Đào Nha để mua bán và một vài câu hỏi người bản xứ là có muốn theo đạo không Do đó mà họ có làm được cho một vài người theo đạo nhưng chỉ là mang danh có đạo chứ không biết gì
về đạo” [11, tr 99] Còn theo nhận xét của linh mục Nguyên Hồng,“qua những nhà truyền giáo tiên khởi trên đây, các ngài đi qua gieo vãi một chút hạt giống tin lành, nhưng thiếu một chương trình, một tổ chức bền bỉ, thiếu nhân viên cộng lực để tiếp tục,
vì thế không mang lại được kết quả lâu bền, đáng kể” [25, tr 45] Phải đến khi các thừa
sai Dòng Tên đặt chân tới Đàng Trong vào đầu thế kỉ XVII thì hoạt động truyền giáo cũng như giao lưu văn hóa giữa khu vực này và phương Tây mới có sự chuyển biến lớn
1.2 Bối cảnh lịch sử Đàng Trong trong các thế kỉ XVII, XVIII
Các thế kỉ XVII, XVIII là một giai đoạn đầy biến động và thăng trầm của lịch sử
dân tộc Về chính trị, cục diện phân liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài được bắt đầu từ sự
kiện năm 1527, Mạc Đăng Dung phế bỏ vua Lê Cung Hoàng lập nên nhà Mạc Hành động giết vua đoạt quyền của Mạc Đăng Dung lúc bấy giờ khiến lòng dân không phục
Sự chống đối từ các lực lượng trước đó là quan lại của nhà Hậu Lê diễn ra khắp nơi Để chống lại nhà Mạc, Nguyễn Kim - một tướng cũ của nhà Hậu Lê đã chạy sang Lào lập bản doanh và tìm được một dòng dõi nhà Hậu Lê là Lê Duy Ninh đưa lên ngôi vào năm
1533 Lúc bấy giờ, với danh nghĩa phù Lê diệt Mạc, các lực lượng khác đã tề tựu về bên cạnh Nguyễn Kim Tuy nhiên, từ sau khi Nguyễn Kim mất (năm 1545), nhằm độc chiếm quyền hành cho dòng họ mình, con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm tìm cách loại bỏ
họ Nguyễn, bằng cách ám hại Nguyễn Uông – người con trai cả của Nguyễn Kim Trong
Trang 21bối cảnh đó, nhận thấy một kết cục tương tự sẽ đến với mình, theo gợi ý của Trạng Trình
Nguyễn Bình Khiêm“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, Nguyễn Hoàng xin vào
trấn thủ Thuận Hóa và được sự đồng ý của Trịnh Kiểm
Từ năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, giúp chúa Trịnh ổn định biên giới phía Nam của Đại Việt Trong suốt quãng thời gian từ năm 1558 đến năm 1570, Nguyễn Hoàng đã ra sức tổ chức vùng biên giới vừa mới được bình định nhưng chưa được khai phá nhiều thành một vương quốc mà sau này hậu duệ của ông tiếp tục củng
cố và mở rộng Điều này đã được triều đình Lê - Trịnh thừa nhận:“Hoàng trị nhậm mấy
chục năm, chính lệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn bản hộ, cấm chấp những kẻ hung ác; dân hai trấn đều cảm lòng mến đức, thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, đổi trao phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, mọi người
ra sức Từ đấy người Mạc không dám dòm nom, trong cõi được yên ổn làm ăn” [65, tr
161] Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng ghi chép:“Chúa ở trấn
mười năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn nước ngoài đến nhiều Trấn trở nên một nơi đô hội lớn” [66, tr 36]
Năm 1613 Nguyễn Hoàng qua đời, trước khi mất ông dặn Thế tử Nguyễn Phúc
Nguyên: “Đất Thuận - Quảng ở phía Bắc có núi Hoành Sơn và sông Linh Giang, ở phía
Nam có núi Hải Vân và núi Thạch Bi, địa thế hiểm cố, thật là một nơi để cho người anh hùng dụng võ Nếu biết dạy bảo nhân dân, luyện tập binh sĩ để kháng cự lại họ Trịnh thì có thể gây dựng cơ nghiệp muôn đời” [6, tr 760] Lên thay cha, Nguyễn Phúc
Nguyên càng đẩy mạnh công cuộc cát cứ, ông tiến hành cải tổ bộ máy cai trị, tự ý bổ dụng quan chức, tách dần khỏi sự phụ thuộc chính quyền họ Trịnh Từ một phiên thần của vua Lê - chúa Trịnh, Nguyễn Phúc Nguyên và các đời chúa Nguyễn sau đó đã dần dần tách ra và thiết lập một bộ máy chính quyền riêng ở Đàng Trong Đó là một chính quyền mặc dù chưa hoàn chỉnh và thống nhất về mặt tổ chức, mức độ tập quyền chưa cao so với ở Bắc Hà, nhưng nó lại thiên nhiều về mặt quân sự Chúa Nguyễn là người lãnh đạo cao nhất lực lượng vũ trang Đàng Trong lúc bấy giờ Như Choisy đã ghi nhận vào năm 1685, Đàng Trong đã được thiết lập và duy trì trên nền tảng quân sự [50, tr 64] Đàng Trong được chia thành 12 dinh và người cai quản mỗi dinh là chưởng dinh hay trấn thủ luôn luôn là 1 vị quan võ Các vị trí then chốt cũng đều do các quan võ nắm giữ Để tạo nên ưu thế vượt trội về binh lực, sẵn sàng đối đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài cũng như bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, Chúa Nguyễn còn rất chú trọng xây dựng lực lượng hải quân và phát triển trọng pháo Nếu như năm 1642, Đàng Trong mới chỉ có khoảng
200 khẩu đại bác thì tám năm sau, con số đó đã tăng lên 1.200 khẩu [50, tr 72 ] Số
Trang 22trọng pháo này chủ yếu do các thế lực phương Tây như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cung cấp
Bên cạnh đó, việc từng bước ly khai khỏi thế lực họ Trịnh của các chúa Nguyễn
đã tạo ra mâu thuẫn gay gắt không thể dung hòa được giữa hai chính quyền Trịnh - Nguyễn và đưa đến cục diện phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài Sự kình địch đó càng ngày càng gia tăng và dẫn đến cuộc xung đột tất yếu nổ ra vào năm 1627 Trong gần 50 năm tiếp theo (1627-1672), sau 7 lần đánh nhau, gây tổn thất nhân tài vật lực, nhưng không phân thắng bại, hai bên đã lấy sông Linh Giang (sông Gianh) làm ranh giới chia Đại Việt thành hai khu vực Phần đất chúa Nguyễn cai quản ở phía Nam được gọi
xứ Đàng Trong (Nam Hà) để phân biệt với xứ Đàng Ngoài (Bắc Hà) của vua Lê - chúa Trịnh Trên vùng đất mới, họ Nguyễn vừa phải chống lại áp lực truy bức của họ Trịnh, vừa phải không ngừng tìm kiếm các mối quan hệ mới với các quốc gia phương Tây để củng cố tiềm lực kinh tế, quân sự của mình Chính điều này đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu giữa Đàng Trong và các nước phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII
Ngoài ra, yêu cầu đặt ra từ việc ổn định những vùng đất ở phương Nam trong quá trình Nam tiến càng khiến cho các Chúa Nguyễn phải tăng cường mối quan hệ với người phương Tây để xây dựng, củng cố và tăng cường tiềm lực toàn diện của mình Chính nhân tố chính trị đó cũng thúc đẩy quá trình giao lưu với phương Tây trên nhiều phương diện Trên thực tế, từ năm 1611 đến 1697, cùng với quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn, vùng đất từ Phú Yên đến Bình Thuận lần lượt được sáp nhập vào Đại Việt [9,
tr 11] Sau đó, các lưu dân người Việt tiếp tục đi về phương Nam, khai khẩn đất Đồng Nai, Sài Gòn, lập nên thôn xóm Vì thế, công cuộc khẩn hoang của chúa Nguyễn càng thuận lợi và cứ tiếp tục mở rộng xuống phía Nam, kết hợp với chính sách đối ngoại khôn khéo góp phần đáng kể trong việc xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở vùng đất phương Nam Với việc hoạch định vùng đất Sài Gòn - Gia Định thành các đơn vị hành chính, chính quyền chúa Nguyễn đã xác lập vai trò quản lý ruộng đất, hộ khẩu, thu thuế, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nhà nước trên vùng đất mới, mở đầu cho lịch sử hình thành và phát triển của xứ Nam Kỳ Đến giữa thế kỉ XVIII (1757), toàn bộ đất Nam Bộ ngày nay trở thành lãnh thổ xứ Đàng Trong, được chính quyền Chúa Nguyễn quản lý khá chặt chẽ Trên lãnh thổ từ phía Nam sông Gianh đến mũi Cà Mau, chúa Nguyễn chia thành 12 đơn vị hành chính gọi là dinh Vùng Thuận - Quảng cũ gồm 6 dinh: Bố Chính, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu dinh (hay Chính dinh cũ), Chính Dinh, Quảng Nam Vùng đất mới khai thác chia làm 6 dinh: Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ Ngoài ra có một trấn phụ thuộc là Hà Tiên
Trang 23Từ những phân tích trên đây, có thể nhận thấy, cuộc đối đầu giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng như công cuộc mở cõi về phương Nam trong thế kỉ XVII, XVIII ở một mức độ nhất định đã đặt ra thách thức không nhỏ đối với chính quyền chúa Nguyễn Nhưng xét ở một khía cạnh khác, nó lại vô hình chung tạo ra nhu cầu tiếp xúc với các yếu tố mới từ các nước phương Tây Lúc bấy giờ, để loại bỏ đối thủ chính trị của mình
và bình ổn tình hình chính trị tại những vùng đất mới khai phá được, chính quyền Đàng Trong đã quan tâm đến việc giao thiệp với người phương Tây, để tranh thủ những ưu thế từ họ, đặc biệt là nguồn vũ khí, đạn dược Chính điều đó đã tạo ra điều kiện không thể thuận lợi hơn để quá trình giao lưu văn hóa với phương Tây diễn ra
Về kinh tế, Đàng Trong là vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều sông ngòi
và nhiều cảng biển thuận giao thương hàng hải Nhận thấy rõ tiềm năng này, các chúa
Nguyễn đã quyết định đưa Đàng Trong phát triển theo hướng biển, trở thành một “vương
quốc biển”
Kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Quảng với ý định gây dựng cơ
đồ tại đây thì cuộc sống lưu dân mới bắt đầu có những thay đổi đáng kể Nguyễn Hoàng khuyến khích làn sóng dân di cư, khai phá mở rộng những vùng đất hoang, đặc biệt là
mở rộng ngoại thương ở mức chưa từng có trong lịch sử Sau Nguyễn Hoàng, các đời chúa khác lên thay thế cũng tiếp tục chính sách trên Với chủ trương trọng thương, từ cuối thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVII, dường như Đàng Trong đã trở thành một thể chế biển, triệt để phát huy truyền thống khai thác biển, phát triển giao thương và giao lưu văn hoá trên biển Nhận thấy kinh tế ngoại thương chỉ có thể tồn tại, phát triển trong hệ thống và chịu sự tác động của các mối quan hệ tương hỗ bởi sự tích hợp của nhiều thành
tố, các chúa Nguyễn đã thiết lập quan hệ với đồng thời nhiều quốc gia Theo tác giả Li Tana, không có ngoại thương, Đàng Trong khó có thể tồn tại Ngoại thương trở thành
yếu tố quyết định trong tốc độ phát triển của Đàng Trong.“Ngoài thương nghiệp, không
gì khác có thể giúp họ Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực này
để có thể đương đầu nổi với một vùng đất có số tiềm lực nhiều gấp đôi, gấp ba Đàng Trong mọi mặt Đối với các nước khác ở Đông Nam Á, vấn đề ngoại thương có thể chỉ
là vấn đề làm giàu, nhưng đối với Đàng Trong vào buổi đầu, đây là vấn đề sống còn”
[50, tr 96] Qua đó, Chúa Nguyễn không chỉ bảo vệ và nâng cao được vị thế chính trị của mình như một đối tác trọng yếu trong các mối quan hệ, tương tác quyền lực khu vực,
mà thông qua các mối quan hệ đó, chủ yếu là trên lĩnh vực kinh tế hải thương, để tạo nên thế đứng vững chắc cho chính quyền của mình Do vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, Đàng Trong không chỉ đã xây dựng và củng cố tiềm lực mọi mặt của mình, đủ sức đương đầu với các cuộc tấn công quyết liệt của quân Trịnh mà còn phát triển được
Trang 24thể chế chính trị ngày càng hoàn chỉnh với tầm nhìn hướng biển song hành với xu thế Nam tiến ngày càng mạnh mẽ
Trên thực tế, trong các thế kỉ XVII, XVIII, Nguyễn Hoàng và các vị chúa Nguyễn khác đã tạo sự bứt phá về ngoại thương Chủ trương mở rộng và đẩy mạnh quan hệ hải thương cũng cho thấy tầm nhìn chiến lược của các chúa Nguyễn trong việc nắm bắt xu thế phát triển của thời đại Nhiều cảng thị ven biển, ven sông phát đạt, có quan hệ mậu dịch với các nước Đông Á, Đông Nam Á và đặc biệt là với các quốc gia phương Tây Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp,… Trong đó nổi lên các cảng thị Phú Xuân - Thanh Hà (Thừa Thiên - Huế), Nước Mặn (Bình Định), Vũng Lấm (Phú Yên), Gia Định (Hồ Chí Minh), đặc biệt là Hội An (Quảng Nam) Với lợi thế nhất định về vị trí địa lý và một chủ trương kinh tế khai mở, lại phát triển trong lúc bối cảnh thế giới và khu vực có những thuận lợi nhất định, nên trên nền tảng thương cảng của người Champa trước đó, Hội An đã mau chóng phục hưng và trở thành một trung tâm thương mại lớn ở khu vực Đông Nam Á dưới thời các Chúa Nguyễn Cảng thị này đã đóng vai trò của một trung
tâm liên vùng để cùng với Goa (Ấn Độ), Ayutthaya (Xiêm), Malacca (Malaixia), Batavia
(Inđônêxia), Luzon, Manila (Philippin) nối kết với Formosa (Đài Loan), Macao (Trung Quốc), Deshima (Nhật Bản), tạo nên một hệ thống thương mại có độ liên kết chặt và tương đối hoàn chỉnh của châu Á
Như vậy, từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, chủ trương đưa xây dựng và củng cố tiềm lực của Đàng Trong thông qua con đường phát triển ngoại thương đã tạo
ra cơ hội để chính quyền Chúa Nguyễn mở rộng quan hệ với thương nhân phương Tây Thông qua hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa, không ít những thành tựu văn hóa của châu Âu đã du nhập vào Đàng Trong Không những thế, để thiết lập quan hệ tạo nên thiện cảm với chính quyền nhằm giành được những ưu thế trong quan hệ giao thương
và kéo theo đó là sự đảm bảo lợi ích kinh tế lâu dài, từ các thương thuyền phương Tây,
đã có một số người châu Âu tình nguyện ở lại giúp đỡ chúa Nguyễn trong một số lĩnh vực khoa học kĩ thuật mà lúc bấy giờ họ có ưu thế hơn so với người Việt Chính các nhân tố đó đã khiến cho quá trình giao lưu văn hóa Đàng Trong và Phương Tây có điều kiện thuận lợi để diễn ra theo con đường giao thương buôn bán
1.3 Nhu cầu về thị trường và truyền giáo từ các nước phương Tây
Thế kỉ XVII là khoảng thời gian đánh dấu bước phát triển mới đối với quá trình ra đời của chủ nghĩa tư bản trong lòng xã hội phong kiến ở châu Âu Sự phát triển của sản xuất tư bản tạo ra nhiều hàng hóa đã làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm thị trường ngoài châu Âu để trao đổi Cùng với đó là sự phát triển của khoa học, kĩ thuật hàng hải đã đưa các dân tộc châu Âu tiến hành hàng loạt các cuộc phát kiến địa lý vĩ đại tìm ra con đường đến các nước phương Đông để buôn bán
Trang 25Hệ quả của các cuộc phát kiến là đã hình thành nhiều con đường nối liền các châu lục, tạo nên sự giao lưu giữa các miền trên trái đất Do đó sự giao lưu văn hóa trên quy
mô lớn đã tạo nên chuyển biến quan trọng trong đời sống vật chất và tinh thần của loài người
Một hệ quả quan trọng của những cuộc phát kiến địa lí là thúc đẩy giao lưu thương mại giữa các vùng miền trên thế giới Trước đây, Địa Trung Hải chính là trung tâm thương mại lớn thời cổ đại nối liền các thị trường Nam Âu, Bắc Phi và Trung Đông Các cuộc phát kiến điạ lí đã mở rộng phạm vi hàng hải, chuyển dần trung tâm thương mại sang Đại Tây Dương, hình thành con đường nối liền Châu Âu với thị trường phương Đông cũng như sự ra đời các công ti Đông Ấn (Hà Lan, Anh, Pháp )
Người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là những người đầu tiên và tích cực nhất tham gia vào các hoạt động thám hiểm Do họ có vị trí địa lý thuận lợi, nền kinh tế hàng hóa phát triển, sở hữu những hạm đội thuyền vào loại mạnh nhất châu Âu lúc bấy giờ Vasco
Da Gama là đỉnh cao nhất trong hàng loạt cuộc phát hiện, đánh dấu việc Bồ Đào Nha là nước châu Âu đầu tiên tìm ra con đường đến phương Đông Trên bước đường hình thành
đế quốc thực dân của mình, vào năm 1511, Bồ Đào Nha chiếm eo biển Malacca và đảo Java án ngữ con đường buôn bán Ấn Độ - Trung Quốc Tiếp tục tiến sâu lên phía Bắc, người Bồ tới Macao Từ đó, thông qua con đường hàng hải Malacca - Macao, các thuyền buôn Bồ Đào Nha bắt đầu tiếp xúc với các điểm buôn bán của Việt Nam
Tuy nhiên, vào năm 1581, nước cộng hòa Hà Lan ra đời Không bao lâu sau, Hà Lan trở thành cường quốc hàng hải đứng đầu thế giới Họ tìm đường sang Đông Ấn thu mua gia vị, hương liệu và thu được ở thị trường này những món lợi nhuận khổng lồ Từ năm 1602, với sự thành lập của công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), chính quyền Hà Lan
có đại diện chính thức ở phương Đông Trước khi VOC ra đời, năm 1601, người Hà Lan
đã tới Đàng Trong
Sau người Bồ Đào Nha và Hà Lan, người Anh và Pháp cùng phát triển và bành trướng ảnh hưởng thế lực của họ ở phương Đông Từ năm 1664, Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) được thành lập và bắt đầu xây dựng nhiều căn cứ thương mại ở Ấn Độ như Surate, Chandernagor, Pondichéry Con đường vào Việt Nam của người Pháp được mở ra bắt đầu từ những giáo sĩ truyền giáo Trong thập kỷ 70 của thế kỉ XVII, các thương nhân Pháp phối hợp chặt chẽ với các giáo sĩ để buôn bán ở Việt Nam Nhìn chung, tuy là những người đến sau, song người Pháp lại tìm mọi cách cạnh tranh với người Bồ Đào Nha và sau rất nhiều nỗ lực cạnh tranh, họ đã đạt được kết quả đáng kể
Những chuyển biến kinh tế mạnh mẽ của châu Âu các thế kỉ XVI, XVII, XVIII là
cơ sở quan trọng để đưa tới những chuyển biến xã hội - văn hóa Bắt đầu từ thế kỉ XIV,
sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tư bản chủ nghĩa ở nhiều nước châu Âu phát triển
Trang 26kéo theo sự giải phóng tư tưởng Trong thời kỳ này, trong lòng xã hội Tây Âu đã diễn
ra phong trào Cải cách Giáo hội nhằm thúc đẩy kinh tế và ý thức hệ tư bản chủ nghĩa Hai tổ chức là Giáo đoàn Dòng Tên (Compagnie de Jésus) thành lập thế kỉ XVI và Hội Truyền giáo đối ngoại thành lập ở Pháp thế kỉ XVII với mục đích truyền bá đạo Thiên Chúa tới khắp nơi trên thế giới Cùng tham gia cuộc hành trình của các thương nhân là các nhà truyền giáo, những người tự nhận sứ mệnh truyền giáo lí Thiên chúa đến những miền xa xôi của thế giới Hoạt động của họ mang ý nghĩa văn hóa, là sợi dây kết nối những nền văn hóa xa lạ, mang đến một tôn giáo mới đối với cư dân phương Đông Thương nhân và giáo sĩ phương Tây kết hợp với nhau trên cùng một con thuyền
đi sang phương Đông, đi sang Đông Ấn, tạo nên sức mạnh của làn sóng giáo lưu văn hóa ở khu vực này Đàng Trong Việt Nam cũng nằm trong làn sóng đó, là đối tượng để các thương nhân và các giáo sĩ phương Tây tiến hành buôn bán và truyền đạo
Như vậy, trong các thế kỉ XVI, XVII, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa cùng với sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của giai cấp tư sản đã tạo nên những chuyển biến quan trọng tới tình hình kinh tế - xã hội châu Âu Nhu cầu phát triển kinh tế nội tại
đã thúc đẩy các nước phương Tây tiến hành các cuộc phát kiến lớn về mặt địa lý để tìm đến thế giới phương Đông Đây được xem như một xu thế phát triển tất yếu của hình thái kinh tế - xã hội mới tư bản chủ nghĩa Chính khát vọng tìm đến thế giới phương Đông đã tạo cơ hội và là chất xúc tác cho sự phát triển và nở rộ của các tri thức khoa học, kĩ thuật, đặc biệt trên lĩnh vực hàng hải trong các thế kỉ XVI, XVII
Đồng thời, sự ra đời hàng loạt các công ty Đông Ấn của các nước châu Âu kể từ thế kỉ XVII là một xu thế phản ảnh nhu cầu mở rộng thị trường với khu vực Đông bán cầu Trong các quốc gia phương Tây nổi bật vai trò của những người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp Họ chính là các thế lực tư bản theo đuổi công cuộc chinh phục Đông
Á và Việt Nam để tìm kiếm nguyên liệu, thị trường, mở mang thuộc địa, nuôi tham vọng trong cuộc đua bành trướng đế chế Trong cuộc đua đó, một cách ngẫu nhiên hay cố ý, các thành tựu khoa học, kĩ thuật của họ đã được truyền bá đến các nước phương Đông
và trong một chừng mực nhất định đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế - văn hóa
- xã hội của các nước này
Tiểu kết chương 1
Như vậy, quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và các nước phương Tây trong thế kỉ XVII, XVII chịu sự tác động của cả nhân tố khách quan và chủ quan lúc bấy giờ Trên thực tế, mặc dù những tiếp xúc văn hóa đầu tiên giữa Đàng Trong với các nước phương Tây chủ yếu thông qua lực lượng giáo sĩ thuộc các dòng tu khác nhau chưa đạt được kết quả khả quan, tuy nhiên điều đó đã góp phần đặt nền móng cho quá trình giao lưu ở giai đoạn thế kỉ XVII, XVIII Bên cạnh đó, việc từng bước ly khai khỏi thế
Trang 27lực họ Trịnh của các chúa Nguyễn và cục diện phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài trong nửa đầu thế kỉ XVII đã quyết định chính sách kinh tế - chính trị của các chúa Nguyễn: vừa phải chống lại áp lực truy bức của họ Trịnh, vừa phải không ngừng tìm kiếm các mối quan hệ mới với các quốc gia phương Tây để củng cố tiềm lực kinh tế, quân sự của mình Chính điều này đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu giữa Đàng Trong và phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII Cuộc đối đầu giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng như công cuộc mở cõi về phương Nam trong thế kỉ XVII, XVIII ở một mức độ nhất định đã đặt ra thách thức không nhỏ đối với chính quyền Chúa Nguyễn, tuy nhiên xét ở một khía cạnh khác, nó lại vô hình chung tạo ra nhu cầu tiếp xúc với các yếu tố mới từ các nước phương Tây Đó chính là điều kiện không thể thuận lợi hơn để quá trình giao lưu văn hóa với phương Tây diễn ra Đặc biệt, trong các thế kỉ XVII, XVIII, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa cùng với sự ra đời và ngày càng lớn mạnh của giai cấp tư sản đã tạo nên những chuyển biến quan trọng tới tình hình kinh
tế - xã hội châu Âu: nhu cầu phát triển kinh tế nội tại đã thúc đẩy các nước phương Tây tiến hành các cuộc phát kiến lớn về mặt địa lý để tìm đến thế giới phương Đông Nhu cầu mở rộng khu vực truyền giáo và hoạt động thương mại đã thúc đẩy các nước phương Tây mà cụ thể trong giai đoạn này là Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp, tìm đến Đàng Trong Việt Nam, nơi tài nguyên phong phú, các chúa lại thi hành chính sách mở cửa
Và đó cũng là một nhân tố nữa thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong với các nước phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII
Trang 28Chương 2:
CÁC LĨNH VỰC GIAO LƯU VĂN HÓA GIỮA ĐÀNG TRONG VÀ
PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ XVII, XVIII
Nếu như trước đây, khi đề cập đến vấn đề giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII, giới nghiên cứu về cơ bản chỉ chú trọng đến quá trình du nhập và tiếp nhận các thành tựu văn hóa phương Tây của người Việt, thì cho đến ngày nay, trên cơ sở khai thác nhiều nguồn tư liệu khác nhau và với cách nhìn biện chứng, các nhà nghiên cứu hoàn toàn có đủ cơ sở khoa học để chứng minh và khẳng định tính hai chiều của quá trình này Trên thực tế, nếu như thành tựu văn hóa phương Tây bằng các con đường khác nhau đã đến với người Việt ở Đàng Trong và ngược lại các giá trị văn hóa của người Việt cũng thông qua người phương Tây để truyền bá sang châu Âu Vậy trên thực tế, quá trình giao lưu văn hóa mang tính hai chiều này đã diễn
ra và đạt được kết quả trên các lĩnh vực nào? Nội dung chương này sẽ góp phần làm rõ vấn đề này
2.1 Sự du nhập văn hóa phương Tây vào Đàng Trong thế kỉ XVII, XVIII 2.1.1 Thiên Chúa giáo
Từ thế kỉ XVI, lịch sử Việt Nam trải qua những biến động lớn, biểu hiện ở cuộc xung đột Nam - Bắc triều (1545-1592), Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627-1672) và các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra Những điều đó đã làm cho hoạt động kinh tế trì trệ và gián đoạn, chính trị hỗn loạn, đời sống của nhân dân đói khổ, lầm than, nhân tâm giao động, ly tán Bối cảnh đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình du nhập của Thiên Chúa giáo vào Việt Nam nói chung và khu vực Đàng Trong nói riêng
Cần phải thấy rằng, đến thế kỉ XVI, XVII, thương nhân phương Tây đã có mặt khắp nơi trên thế giới Theo chân họ là những nhà truyền giáo Bấy giờ là thời kỳ hoàng kim của hai quốc gia phương Tây là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Đều là những quốc gia Thiên Chúa giáo kỳ cựu, cả hai nước cạnh tranh nhau quyết liệt về lợi ích kinh tế và đặc biệt là đặc quyền truyền giáo tại các vùng đất khác nhau trên thế giới Mâu thuẫn nghiêm trọng đến mức cả hai nước phải nhờ Giáo hoàng đứng ra giải quyết Ngày 4 tháng 5 năm
1493, Tòa thánh đã ban hành sắc chỉ “Inter Caetera”, phân chia khu vực ảnh hưởng của hai quốc gia này Theo đó, vùng đất bờ phía Tây Phi Châu và vùng Đông Ấn, bao quát
từ Ấn Độ, Xiêm La, Malacca, Sumatra, Java, Đại Việt, Trung Hoa và Nhật Bản được đặt dưới chế độ bảo trợ của Bồ Đào Nha Phần còn lại của thế giới được đặt dưới chế độ bảo trợ của Tây Ban Nha
Đối với quá trình du nhập của Thiên Chúa giáo vào Đàng Trong, những tiếp xúc đầu tiên giữa giáo sĩ phương Tây với dân chúng nơi đây trên thực tế đã diễn ra ở giai
Trang 29đoạn cuối thế kỉ XVI, tuy nhiên, phải đến đầu thế kỉ XVII, cùng với sự xuất hiện của các thừa sai Dòng Tên tại khu vực này, công cuộc truyền giáo mới có những bước phát triển thực sự Cụ thể, ngày 18 tháng 1 năm 1615, hai linh mục Francesco Buzomi và Diogo Carvalho cùng các trợ sĩ đã đến Cửa Hàn, Đà Nẵng Tiếp theo các linh mục khác như Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes, Girolamo Maiorica đã lần lượt đặt chân đến Đàng Trong trong giai đoạn 1617-1624, góp phần làm
cho các “hạt giống” Thiên Chúa giáo “ươm mầm” trên vùng đất này Chính vì nỗ lực
không mệt mỏi của các giáo sĩ Dòng Tên, nên đến năm 1625, theo ghi nhận của Alexandre de Rhodes, đạo Thiên Chúa được truyền bá khắp Đàng Trong Thời điểm đó, tại đây có mười tu sĩ chuyên cần hoạt động và công việc diễn ra tương đối thuận lợi [5,
tr 57] Đặc biệt, năm 1659, Giáo hoàng Alexander VII đã ban hành sắc chỉ “Super
Cathedram Principis” thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận đầu tiên Trong đó, giáo phận
Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam gồm cả phần đất Chân Lạp, Chiêm Thành do Giám mục Lambert de la Motte cai quản Chính sự kiện này đã tạo ra tiền đề về mặt tổ chức để đẩy mạnh quá trình du nhập và phát triển của Thiên Chúa giáo ở Đàng Trong trong các thế kỉ XVII, XVIII
Ở nửa đầu thế kỉ XVII, khi mới du nhập vào Đàng Trong, Thiên Chúa giáo đã nhận được những điều kiện thuận lợi nhất định để mở rộng ảnh hưởng tại khu vực này Điều
đó xuất phát từ chính sách của nhà cầm quyền bản xứ và phương thức truyền giáo của các thừa sai Dòng Tên Trên thực tế, chính quyền chúa Nguyễn trong thời kì đầu đã thể hiện thái độ thiện chí và khoan dung đối với Thiên Chúa giáo cũng như các giáo sĩ phương Tây và xem đó là một trong những phương thức hữu hiệu để thu hút thương nhân phương Tây, nhất là người Bồ Đào Nha mang hàng hóa và vũ khí, đạn dược đến bán cho Chúa [10, tr 92] Thừa sai Dòng Tên Borri có lần khen ngợi chúa Nguyễn khéo léo xử lý sự việc người ta vu oan cho đoàn giáo sĩ vì Chúa rất quý các cha Dòng Tên và coi trọng mối quan hệ với người Bồ Đồng thời, chính quyền chúa Nguyễn cũng ít đe dọa giáo dân như ở Đàng Ngoài [12, tr 78] Đặc biệt, trong giai đoạn này, các giáo sĩ Dòng Tên đã đề ra và áp dụng một đường lối truyền giáo hết sức sáng tạo, đó là sử dụng những kiến thức khoa học kĩ thuật phương Tây để thỏa mãn sự hiếu kì của giới cầm quyền trong xã hội Đàng Trong, nhằm nhận được thiện cảm từ lực lượng này, thông qua
đó tranh thủ ảnh hưởng và thế lực của họ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế cho sự phát triển của Thiên Chúa giáo Và chính những điều này đã tạo ra tiền đề thuận lợi cho sự phát triển của Thiên Chúa giáo
Tuy nhiên, cuộc đối đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài đã khiến cho mối quan tâm hàng đầu tiên của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong là quan hệ thương mại với các nước phương Tây, nhằm củng cố tiềm lực kinh tế, quân sự Cho nên nếu tàu buôn của người
Trang 30Bồ thường xuyên mang hàng hóa và vũ khí đến Đàng Trong, các nhà truyền giáo phương Tây sẽ được tự do truyền đạo và đi lại trong nước, còn ngược lại, Thiên Chúa giáo sẽ bị nghiêm cấm, các nhà truyền giáo sẽ bị trục xuất Chính điều đó đã tạo ra không ít sóng gió trong quá trình du nhập và phát triển của Thiên Chúa giáo ở Đàng Trong
Ngoài những tác động từ chính sách của các chúa Nguyễn, các giáo sĩ đầu tiên đến truyền giáo cũng gặp nhiều khó khăn vì bất đồng ngôn ngữ và khác biệt văn hóa Các giáo sĩ cũng gặp không ít khó khăn từ sự công kích, bài xích và cản trở của các lực lượng khác nhau trong xã hội Trong ghi chép của mình, Alexandre de Rhodes từng cho biết:
“Một cơn hạn hán đã xảy đến làm cho mất hy vọng gặt hái Lương dân liền đổ tội cho các thầy phù thủy mới [các nhà truyền giáo - TG]… Thế là tin theo lời vu oan, dân chúng tới gây gỗ, đuổi các cha ra khỏi nhà nguyện và bắt phải trốn vào rừng thiếu thốn đủ thứ, trừ niềm tin vào Chúa” [5, tr 53] Những sóng gió đối với Thiên Chúa giáo đôi khi cũng
đến từ lực lượng cầm quyền lúc bấy giờ ở Đàng Trong Tiêu biểu như năm 1625, vì không thấy người Bồ trở lại với đoàn tàu chở hàng hóa như thường lệ, Chúa Nguyễn
Phúc Nguyên tin theo lời của phía địch thù giáo dân: “Những người này không bỏ lỡ
dịp vu cáo và làm cho chúa không tin giáo dân nữa Trong những tội vu khống, có tội này: giáo dân không thờ kính tổ tiên, lại theo đạo man di, vứt bỏ tâm tình biết ơn đối với tổ tiên, những tâm tình trời đặt trong lòng mọi người” [5, tr 58] Nghe theo những
luận điệu vu cáo đó, trước hết chúa ra lệnh cấm giáo sĩ truyền đạo, sau đó trừng trị giáo dân Chúa yêu cầu các cha dòng phải rời bỏ các giáo đoàn đã thành lập và rút lui về Hội
An:“Ba lần Chúa đã ra lệnh trục xuất Người ta tố cáo về tội: ngăn cản cơn mưa và cho
đất cằn cỗi Vu khống này làm lương dân bực tức đến nối họ định giết các ngài Phần các ngài không có ý định nào khác bằng ý định mở cửa trời cho mọi người và xin mưa xuống dồi dào ơn phúc”[5, tr 88] Tháng 12 năm 1625, Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên
ra sắc chỉ cấm người Thiên chúa giáo ở Đàng Trong không được mang trên mình hoặc treo trong nhà thánh giá và các ảnh tượng Đến thời Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1635-1648), ông đã cho ban hành sắc chỉ trục xuất tất cả các thừa sai vào năm 1639 Thầy giảng Anrê Phú Yên tử đạo tại Quảng Nam, trở thành chứng nhân đầu tiên của
Đàng Trong Sự kiện năm 1639 được Alexandre de Rhohes ghi lại như sau: “Năm 1639
là năm xảy ra tai họa lớn nhất cho giáo dân, một vị quan cai trị Quảng Nam rất ghét giáo dân đã sai người cướp một số ảnh thánh, trình lên Chúa, đặt ra nhiều lý do khiến chúa hoảng sợ Chúa ra lệnh đốt ảnh và không cho bất cứ ai treo ảnh hay đưa ảnh vào đất nước, tất cả các cha bị đưa lên tàu để ra khỏi xứ sở này Tin này đã làm cho cha Buzomi đau lòng và ngã bệnh qua đời: thật là một tổn thất nặng nề cho Đàng Trong, một vết thương lớn hơn việc trục xuất các cha” [5, tr 89] Tuy nhiên, theo Charles B
May Bon,“người ta thấy rằng ở thế kỉ XVII, giáo dân ở Đàng Ngoài bị đe dọa hơn ở
Trang 31Đàng Trong, sang thế kỉ XVIII cũng như vậy” [12, tr 77] Các cuộc truy nã đã xảy ra
nhiều lần trong địa hạt của chúa Trịnh trong thế kỉ XVIII, người ta áp dụng nhiều biện pháp ngăn cấm giáo sĩ giảng đạo, đã có những thầy Dòng Tên bị xử trảm, bị xiềng xích Trong khi đó ở Đàng Trong, trong thời gian ấy giáo đoàn được hưởng sự thái bình tương
đối “Từ nhiều năm nay, đạo được giảng dạy và truyền bá công khai Và 11 năm qua,
công việc truyền giáo được tiến hành hoàn toàn tự do”, đó là lời trong một lá thư của
cha Chauseaume đề tại Macao, ngày 5 tháng 12 năm 1750 [12, tr 77] Năm 1724, Minh Vương (Nguyễn Phúc Chu) có cho ban hành một đạo dụ trục xuất các giáo sĩ và đã cấm đoán các thần dân của ông theo đạo Thiên chúa giáo Nhưng những biện pháp này đã không được áp dụng một cách thật nghiêm khắc Ninh vương (Nguyễn Phúc Chú) lên
kế nghiệp năm 1725 và suốt trong triều đại đã tỏ ra hết sức khoan dung Võ Vương (Nguyễn Phúc Khoát) tỏ ra dễ dãi với đạo cho tới khoảng năm 1750, sau đó Võ Vương đột nhiên ban lệnh đuổi tất cả các tu sĩ người ngoại quốc ra khỏi Đàng Trong
Mặc dù khó khăn như vậy, nhưng trong gần hai thế kỉ du nhập và phát triển trên vùng đất Đàng Trong, Thiên Chúa giáo đã từng bước thiết lập được vị thế vững chắc Trên thực tế, một tôn giáo mới đã xuất hiện tại Đàng Trong trong giai đoạn này, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Việt và tạo ra không ít chuyển biến trên các phương diện khác nhau của đời sống xã hội Tại khu vực này, các thừa sai
đã cho lập hội thầy giảng bản xứ để trợ giúp việc truyền giáo, phiên âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh để soạn thảo kinh dạy giáo dân Nhờ những kinh nghiệm thích nghi văn hóa của các thừa sai truyền giáo tại Trung Hoa, Nhật Bản, khi đến Việt Nam truyền giáo các thừa sai đã quan tâm đến việc học ngôn ngữ, tìm hiểu phong tục dân tộc Việt Phương pháp của các giáo sĩ là tổ chức cho giáo dân đứng lên làm mọi việc một cách hăng say,
từ việc dạy tiếng Việt cho giáo sĩ, chép sách kinh, sách giáo lý bằng chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ, cho tới việc học chữ Latinh Đã có người soạn bài giáo lý bằng thơ, viết kinh thánh bằng thơ để cho nhân dân dễ học dễ nhớ Đã có những vị thượng tọa hay văn nhân trở lại đạo và đứng ra lo công việc soạn và sao chép Giáo dân tự động làm nhà thờ, nhà
nguyện, tự nguyện dạy dỗ kẻ tân dòng, tự nguyện lập nhà thương, bệnh xá Đọc Hành
trình truyền giáo của Alexandre de Rhodes, có thể thấy cả một bầu nhiệt huyết tin theo
đạo mới với những nghi lễ cảm động, huy hoàng như lễ Giáng sinh, mùa Chay và lễ Phục sinh Cả một sinh hoạt tôn giáo rất mới đối với người dân lúc đó như kinh đọc, lễ
dự, cùng những phép bí tích xưng tội và rước lễ đã dần đi vào đời sống của giáo dân người Việt
Không những chỉ có thường dân mà ngay cả những thành viên trong hoàng tộc chúa Nguyễn cũng gia nhập đạo mới như bà Minh Đức vương thái phi vợ Nguyễn Hoàng
ở Đàng Trong, công chúa Ngọc Liên, con gái chúa Sãi, vợ trấn thủ Phú Yên Nguyễn
Trang 32Phúc Vinh, Ngọc Đĩnh công chúa em út Ngọc Liên, vợ Nguyễn Cửu Kiều trấn thủ Quảng
Bình Trong Hành trình truyền giáo, Alexandre de Rhodes kể: “Chúng tôi vào trong phủ
và khi đi qua chúng tôi ở lại Huế ít bữa, có một bà hoàng, họ gần với Chúa và rất sùng thần ngoại, nhưng khi nghe cha Pina giảng thì xin chịu phép rửa tội, lấy tên là Maria Madalena Từ đó bà là điểm tựa cho giáo đoàn này Gương của bà và thế giá của bà đã giúp rất đắc lực cho việc chinh phục lương dân và duy trì lòng nhiệt thành của những
kẻ chịu phép rửa” [5, tr 57] Trong phủ của bà có xây một nhà nguyện rất đẹp, trong
những vụ bắt bớ gắt gao nhất, nhà nguyện vẫn không lay chuyển, bà giúp giáo dân hết những gì bà có thể làm được Trong một bức thư của Đức cha Piguel, giám mục Canathe, trông coi giáo phận Đàng Trong gửi cho các cha giám đốc Chủng viện Hội truyền giáo nước ngoài ở Paris (10/5/1767) có đoạn viết về tình hình khả quan của công cuộc truyền
đạo vào nửa sau thế kỉ XVIII như sau: “Các giáo dân đã không ngớt tụ họp về rất đông
đến nỗi mấy gian nhà to rộng là thế mà vẫn không đủ chỗ để tiếp đón họ Họ cứ kéo về
lũ lượt mặc dù tôi chỉ ghé lại ở mỗi nơi này được hai, ba ngày là cùng Nhân chuyến đi này, tôi ghi nhận có 7.000 con chiên chịu lễ Công - Phiết - ma - xông, hơn 6.000 tín đồ được rửa tội Những người đi xưng tội và chịu lễ Com-muy-nhông thì đông vô số Bọn người dị giáo cũng tự ý đến xin được chỉ bảo và được rửa tội Chúa Nguyễn mới 14 tuổi không tỏ vẻ gì chống lại đạo của chúng ta Bà thái phi và ba vị trong tứ trụ đại thần trong triều đã tỏ ra rất ân cần và dễ dãi đối với đạo Thiên Chúa Trong hàng các quan ngũ phẩm có vài người đi đạo và một số khá đông tuy không đi đạo nhưng cũng hết lòng che chở chúng ta” [61, tr 115]
Nhìn chung, trong hai thế kỉ XVII, XVIII, quá trình du nhập của Thiên Chúa vào Đàng Trong ở những thời điểm nhất định đã gặp phải những khó khăn và thách thức Song, chính hoạt động truyền bá đạo Thiên Chúa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình giao lưu văn hóa giữa phương Tây và Đàng Trong, mà thành tựu tiêu biểu đầu tiên chính là quá trình xác lập được chỗ đứng vững chắc của Thiên Chúa giáo trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của cư dân Việt Bên cạnh đó, để đạt được mục đích chinh phục đức tin của dân chúng bản xứ, các nhà truyền giáo đã giới thiệu các thành tựu văn hóa khác của phương Tây cho người Việt Điều đó càng cho thấy rõ sự liên quan mật thiết cũng như vai trò của quá trình du nhập Thiên Chúa giáo đối với hoạt động giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII
2.1.2 Chữ Quốc ngữ
Một trong những thành tựu tiêu biểu của quá trình giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong với các nước phương Tây trong các thế kỉ XVII, XVIII không thể không đề cập đến đó chính là sự ra đời của chữ Quốc ngữ gắn liền với vai trò của các giáo sĩ Dòng Tên Trước khi có chữ Quốc ngữ, người Việt từng sử dụng một loại văn tự khác để ghi
Trang 33lại tiếng nói của dân tộc mình, đó chính là chữ Nôm Tuy là loại chữ do người Việt sáng tạo nên, nhưng chữ Nôm lại không được dân chúng sử dụng phổ biến Trong xã hội đương thời, chỉ một bộ phận quan lại, quý tộc có thể đọc hiểu được loại chữ này Chính
vì vậy, dù ra đời đã lâu, nhưng chữ Nôm vẫn là loại chữ xa lạ đối với những người dân
Việt: “Do sự phức tạp của chữ Hán, chữ Nôm cũng như bối cảnh chính trị đương thời
mà đa số cư dân Đàng Trong gần như mù chữ” [24, tr 47] Chính vì vậy, sự ra đời và
phát triển của chữ Quốc ngữ theo ngữ hệ Latinh trong các thế kỉ XVII, XVIII đã góp phần giải quyết những hạn chế nói trên và đặt một dấu mốc mới trong quá trình hình thành và phát triển chữ viết của dân tộc
Chữ Quốc ngữ dùng mẫu tự Latinh ghi âm tiếng Việt ra đời vào đầu thế kỉ XVII
là công trình của nhiều giáo sĩ châu Âu và có sự hỗ trợ của người Việt bản địa Trong
đó, các cư sở truyền giáo ở Đàng Trong là mảnh đất màu mỡ cho sự hình thành của loại văn tự này Đây cũng là một dẫn chứng thuyết phục để chứng minh cho sự giao lưu văn
hóa Đông Tây ở Đàng Trong Việt Nam lúc bấy giờ
Nửa cuối thế kỉ XVI, các giáo sĩ thừa sai Dòng Tên đã bắt đầu đến châu Á truyền đạo Dòng Tên là một trong những dòng tu của Thiên Chúa giáo đặc biệt chú trọng đến vấn đề giáo dục Trước khi lên đường đi truyền giáo tại các khu vực xa xôi ở phương Đông, các giáo sĩ Dòng Tên phải trải qua một quá trình học tập hơn 10 năm với không chỉ những kiến thức thần học mà còn cả các tri thức khoa học khác Những giáo sĩ này lại xuất thân
từ những nước sử dụng chữ viết Latinh, nên khi đến các quốc gia sử dụng chữ tượng hình,
họ đã gặp phải không ít khó khăn trong quá trình truyền đạo Yêu cầu của công cuộc truyền giáo khiến cho họ nhận ra rằng, việc sử dụng thông thạo ngôn ngữ bản xứ đem lại lợi ích
to lớn đối với quá trình tuyên giảng Phúc Âm cho dân chúng Thừa sai Alexandre de
Rohdes từng khẳng định: “Tôi cả quyết rằng hiệu quả của việc trình bày các mầu nhiệm
trong ngôn ngữ của họ thì vô cùng lớn lao hơn khi giảng bằng thông ngôn: thông ngôn chỉ nói điều mình dịch chứ không sao nói với hiệu lực của lời từ miệng nhà truyền đạo có Thánh thần ban sinh khí” [5, tr 56] Đối với người bản xứ, việc học chữ Nôm đã khó,
trong khi đó, các nhà truyền giáo ngoại quốc vốn xa lạ với chữ tượng hình thì việc tiếp nhận và sử dụng thành thạo loại văn tự này càng không phải là một việc đơn giản Thực tế tình hình Đàng Trong lại cho thấy rằng, ngay cả khi các giáo sĩ sử dụng chữ Hán hay chữ Nôm để dịch kinh sách và các tài liệu của Thiên Chúa giáo thì cũng khó phổ cập đến đại
bộ phận quần chúng nhân dân Chính vì thế, để nhanh chóng chinh phục đức tin của dân chúng, các giáo sĩ Dòng Tên đã chọn phương thức học tiếng bản địa để trực tiếp giảng đạo Đồng thời, họ cũng nghĩ đến việc Latinh hóa tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh
Trang 34Trên thực tế, quá trình ra đời và phát triển của chữ Quốc ngữ tại Đàng Trong luôn gắn liền với vai trò của các nhà truyền giáo phương Tây và về cơ bản có thể chia làm hai giai đoạn:
Một là giai đoạn hình thành chữ Quốc ngữ (từ đầu thế kỉ XVII đến năm 1651) Quá
trình ra đời của chữ Quốc ngữ trong khoảng thời gian này gắn liền với tên tuổi của không
ít thừa sai Dòng Tên, mà hai trong nhiều trường hợp tiêu biểu thường được đề cập đến
là Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes
Đầu thế kỉ XVII, lực lượng đầu tiên đến Đàng Trong rao giảng Tin Mừng là các nhà truyền giáo Dòng Tên người Bồ Đào Nha Họ chú tâm tìm hiểu tiếng Việt và phương pháp ghi âm ngôn ngữ này bằng chữ Latinh Giáo sĩ Francisco Buzomi đến cửa Hàn năm 1615 và học tiếng Việt, nhưng ông chỉ biết rất ít, mỗi lần giảng đạo ông đều phải
sử dụng thông ngôn, vì thế gây ra không ít sự hiểu lầm Người tiên phong trong công cuộc học tiếng Việt này là Linh mục Francisco de Pina Ông là người Bồ Đào Nha, sinh
ở thành Guada vào năm 1585, năm 19 tuổi ông trở thành thầy tu Dòng Tên, sau đó đến
xứ Goa (Ấn Độ) sống ít lâu trước khi sang Trung Quốc truyền đạo Năm 1611, ông theo học tại Học viện Macau (Collège de Macau) về khoa học xã hội, thần học và tiếng Nhật Ông đến Đàng Trong năm 1617, chỉ cần khoảng thời gian hai năm để thông thạo tiếng Việt
và đến năm 1620 ông đã có thể giảng đạo với người bản xứ mà không cần thông ngôn Năm 1618, Pina cùng với một giáo dân người Việt có tên đạo là Phero lần đầu tiên dịch sang tiếng Việt kinh Lạy cha và các kinh căn bản khác trong Thiên Chúa giáo Có thể xem đây là mốc khởi đầu của công cuộc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin [23, tr 68] Trong bức thư gửi cho Cha bề trên Dòng Tên ở Ma Cao, Pina cũng cho biết ông đã soạn xong một tiểu luận về chính tả, về các thanh điệu của tiếng Việt và đang nghiên cứu ngữ pháp Khi bắt đầu nghiên cứu sáng tạo chữ Quốc ngữ, Pina ghi lại tiếng nói của người Việt bằng
“những khung nhạc” Và trong tài liệu mới đây được triển lãm trong hội thảo chữ Quốc
ngữ vào tháng 7 năm 2018 tại Lisbon, Bồ Đào Nha, người ta đã thấy những khung nhạc
để thể hiện dấu âm của tiếng Việt Tuy nhiên, Pina lại qua đời vào cuối năm 1625 do một tai nạn đuối nước, khi việc Latinh hóa tiếng Việt vẫn còn đang dang dở
Trong thời gian hoạt động tại Thanh Chiêm, Pina còn mở trường dạy tiếng Việt cho nhiều giáo sĩ Dòng Tên khác, trong đó có Alexandre de Rhosdes và Antonio de Fontes - Hai vị thừa sai đến cư sở này vào năm 1624 để làm phụ giảng cho Pina, nhưng công việc khẩn thiết hơn hết là học tiếng Việt dưới sự chỉ dẫn của ông
Alexandre de Rhosdes (1591-1660) là một nhà truyền giáo Dòng Tên và một nhà ngôn ngữ học người thành Avignon của Pháp Ông là một trong những giáo sĩ đã góp phần quan trọng vào quá trình truyền bá Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam Năm 1624, ông cập bến Hội An và bắt đầu công cuộc học tiếng Việt để phục vụ công cuộc truyền giáo
Trang 35Trong thời gian học tiếng Việt với giáo sĩ Pina ở Thanh Chiêm, ông không những có khả năng giảng đạo bằng tiếng bản xứ mà còn chú tâm nghiên cứu về ngôn ngữ học theo
mục đích Pina hướng tới Trong đề tựa cuốn “Từ điển Việt - Bồ - La”, Alexandre de
Rhosdes thừa nhận ngay từ đầu đã học tiếng Việt với cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, thuộc Hội dòng Giê su rất am tường tiếng Việt và có thể thuyết giảng bằng ngôn ngữ
mà không cần phiên dịch [14, tr 3] Cảm quan đầu tiên của Alexandre de Rhodes đối với
tiếng Việt chính là để học được loại ngôn ngữ này không phải là việc dễ dàng “Đối với
tôi, thú thật vừa tới Đàng Trong và nghe dân xứ này nói, nhất là phụ nữ, tôi tưởng như nghe chim hót và tôi không bao giờ mong có thể học được” [5, tr 55] Trong cuốn “Lịch
sử chữ Quốc ngữ 1620 - 1659”, tác giả Đỗ Quang Chính cũng từng nhận xét: “Quả thật, đối với người Âu châu, lúc đầu học tiếng Việt thật là khó, vì họ không phân biệt nổi thanh mỗi tiếng” [14, tr 12] Mặc dù như vậy, nhưng sau một thời gian miệt mài, các giáo sĩ
Dòng Tên như Alexandre de Rhodes hay Borri đều đã học được tiếng Việt Trong bản tường trình về tình hình truyền giáo ở Đàng Trong của mình, Borri cho biết, qua 6 tháng học tập, ông đã có thể nói chuyện và giải tội được, tuy nhiên muốn hiểu và nói được tiếng Việt hoàn toàn, phải dành ra bốn năm trọn để học [14, tr 13]
Trong thời gian ở Thanh Chiêm, Alexandre de Rhodes quan tâm bồi dưỡng vốn
ngôn ngữ bản địa cho bản thân “Mỗi ngày tôi học một bài và siêng năng như khi xưa vùi
đầu vào khoa thần học ở Roma Chúa đã cho tôi trong bốn tháng tôi đủ khả năng để ngồi tòa giải tội và trong sáu tháng tôi đã giảng được bằng ngôn ngữ Đàng Trong và cứ như thế tôi tiếp tục nhiều năm” [5, tr 55-56] Bên cạnh đó, ông còn chú trọng nghiên cứu tiếng
Việt trên phương diện ngôn ngữ học Sau khi bị trục xuất khỏi Đàng Trong, các giáo sĩ đã
trở về Ma Cao và thống nhất với nhau ở một nhận định:“Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh
điệu, là ngôn ngữ đơn âm tiết, mỗi âm tiết phải ghi bằng một con chữ” [26, tr 69]
Trên đây là một số tư liệu về việc học tiếng Việt của các giáo sĩ Dòng Tên tại Đàng Trong ở nửa đầu thế kỉ XVII Chính việc này đã tạo ra tiền đề đầu tiên dẫn đến quá trình Latinh hóa tiếng Việt trong giai đoạn này gắn liền với tên tuổi của các nhà truyền giáo Dòng Tên và những cộng sự người Việt Trên thực tế, ở giai đoạn đầu thế kỉ XVII, “phôi thai” của chữ Quốc ngữ ngày nay có thể tìm thấy nằm rãi rác trong các tác phẩm hoặc tường trình được viết bằng tiếng Latinh, tiếng Bồ hoặc tiếng Ý của các giáo sĩ về tình hình truyền giáo ở Đàng Trong Có tư liệu được viết ở Áo Môn dựa trên các báo cáo từ Đàng Trong do các thừa sai gửi về như tư liệu viết tay năm 1621 của João Roiz, nhưng cũng có tư liệu được viết ngay trên chính vùng đất Đàng Trong mà tư liệu viết tay năm
1626 của Gaspar Luis là một ví dụ điển hình Trong các văn bản này, số lượng các chữ tiếng Việt nhiều ít khác nhau [14, tr 22-49], trong đó chiếm đại đa số vẫn là các từ địa danh ở khu vực Đàng Trong như Xứ Hóa (Sinoa, Sinuua, Sinua, Sinuâ, Sinoá), Kẻ Chàm,
Trang 36Dinh Chàm (Cacham, Cacciam, Dinh Cham, Digcham), Quảng Nghĩa (Quamguya, Quanghia), Đà Rằng (Renran, Ranran), Đà Nẵng (Ranran), Kẻ Mọi (Kemoi), Qui Nhơn (Quignin, Quinhin), Nước Mặn (Nuocman, Nouecman, Núocmam), Bến Đá (Bendâ, Bến Đá), Bồ Đề (Bôdê, Bude), sau đó là các từ danh xưng như Ông Trùm (Ontrũ), Bà Phủ (Bafu), Ông Sãi (Unsai, Onsaij), Ông Nghè (Ungue, Ungué, Omgne), Ông Đề lĩnh (Oundelim, Ondelim), Ông Đề đốc (Ondedoc, Ondedóc) Để có cái nhìn toàn diện đối với quá trình đánh giá sự tiến triển trong cách phiên âm tiếng Việt của các thừa sai ở giai đoạn này, chúng tôi đã tiến hành chọn lọc một số từ tiếng Việt giống nhau xuất hiện trong tài liệu viết tay của các thừa sai Dòng Tên từ năm 1621 đến năm 1626 và lập thành bảng so sánh sau:
Bảng 2.1: So sánh cách phiên âm một số từ tiếng Việt của các giáo sĩ trong
1621 của João Roiz
Tài liệu viết tay
1621 của Gaspar Luis
Tài liệu viết tay 1621 của Cristophoro Borri
Tài liệu viết tay
1625 của Alexandre
de Rhode
Tài liệu viết tay 1626 của Gaspar Luis
Tài liệu viết tay 1626 của Antonio
Digcham, Dinh Cham
Ông Nghè Ungue Ungue,
Onghe Chieu
Ông Đề
lĩnh Oundelim
Ondelimbay, Ondelim, Ondedoc
Ondelimbay, Ondedóc
Tunquin
Trang 37Nhít la Khấu, khấu
la nhít
Nguồn: [14, tr 22-49]
Từ bảng so sánh trên đây, có thể thấy rằng, trong giai đoạn 1621-1626, các chữ tiếng Việt được các giáo sĩ phiên âm hoàn toàn khác xa với ngày nay, sự lắp ghép các mẫu tự Latinh thành một chữ chưa phản ảnh được âm chuẩn của từ tiếng Việt đó Đại
đa số các chữ tiếng Việt đều được viết liền nhau và không có dấu Từ đặc điểm này có thể suy đoán lúc bấy giờ các thừa sai có lẽ chưa phân biệt được lối cách ngữ cũng như các âm vận khác nhau của tiếng Việt Ngoài ra, ngôn ngữ dùng để viết tư liệu của các giáo sĩ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cách phiên âm tiếng Việt của họ Những chữ tiếng Việt được viết trong các văn bản tiếng Latinh, tiếng Bồ do chịu ảnh hưởng văn phạm của các ngôn ngữ này nên phiên âm tương đối chính xác những từ có chữ “ch” hay “nh” Trong khi đó, các tài liệu viết bằng tiếng Ý “ch” được viết thành “c”, “nh” được viết thành “gn” Ở giai đoạn này, các giáo sĩ cũng chưa phân biệt được “a” với “ă”,
“o” với “ô”, “u” với “ư”, “e” với “ê” Điều này dẫn đến cùng một từ tiếng Việt nhưng mỗi giáo sĩ lại có một cách phiên âm khác nhau
Bảng 2.2: So sánh cách phiên âm tiếng Việt của Cristophoro Borri, Gaspar Luis
và Antonio de Fontes Tiếng Việt Cristophoro Borri
phiên âm theo tiếng Ý
Gaspar Luis phiên
âm theo tiếng Latinh
Antonio de Fontes phiên
âm theo tiếng Bồ
Nguồn: [14, tr 22-49]
Dựa vào bảng so sánh, giới nghiên cứu còn thấy được một hiện tượng đặc biệt, đó chính là không những dùng các ngôn ngữ khác nhau tạo ra các cách phiên âm khác nhau
Trang 38đối với cùng một chữ tiếng Việt, mà ngay các chữ tiếng Việt giống nhau trong cùng một văn bản của các giáo sĩ thì cách phiên âm cũng không thống nhất Trong tường trình về
Đàng Trong năm 1621 của Cristophoro Borri, ông dùng hai từ “Quamguya”, “Quanghia”
để phiên âm “Quảng Nghĩa” Trong bức thư năm 1625 của Alexandre de Rhode, chữ
“Đông Kinh” được ông viết là “Tunquim”, “Tunquin” Trong tường trình năm 1626 của thừa sai Antonio de Fontes cũng dùng ba chữ “Sinua”, “Sinuâ”, “Sinoá” để phiên âm từ
“Xứ Hóa” [14, tr 38-48] Từ cách phiên âm không đồng nhất này, có thể suy đoán hai
khả năng:
Thứ nhất, các giáo sĩ trong quá trình phiên âm các từ tiếng Việt này, ngoài cách phiên âm của riêng mình còn tham khảo cách phiên âm từ tiếng Việt đó trong tài liệu của các thừa sai khác và đồng thời sử dụng tất cả các cách viết Tuy nhiên, điều này xem
ra không mấy thuyết phục vì ở thời điểm đó, viết tường trình, báo cáo, thư từ gửi về Áo Môn hay La Mã là công việc cá nhân và quá trình phiên âm một số địa danh hay danh xưng của người Việt cũng chỉ để dùng riêng cho cá nhân họ Cũng không loại trừ khả năng các ông thử nghiệm sử dụng văn phạm của các ngôn ngữ khác nhau (tiếng Ý, tiếng
Bồ, tiếng La ) để phiên âm cùng một chữ tiếng Việt, vì các thừa sai đều biết rất nhiều ngôn ngữ của các quốc gia Châu Âu
Thứ hai, nếu đó là cách phiên âm của riêng từng giáo sĩ và việc này chỉ chịu ảnh hưởng từ văn phạm của một ngôn ngữ (hoặc tiếng Ý, hoặc tiếng Bồ, hoặc tiếng Latinh ) thì điều này cho thấy lúc bấy giờ bản thân các ông chắc chắn chưa có một sự định hình
rõ ràng và thống nhất về cách phiên âm tiếng Việt
Một trường hợp nữa cũng không thể không đề cập đến khi nghiên cứu chữ Quốc ngữ trong giai đoạn sơ khai hình thành đó là các từ tiếng Việt trong bức thư gửi bề trên Dòng Tên năm 1626 của thừa sai Francesco Buzomi Trong tài liệu viết tay này, có 4
chữ Quốc ngữ, trong đó chỉ có từ “ngao chuan” (Ngọc Hoàng) là phiên âm tiếng Việt Đối với ba từ “xán tí” (thượng đế), “thien chu” (Thiên Chủ hay Thiên Chúa) và “thien
chũ xán tí” thì còn nhiều nghi vấn Có lẽ đương thời người Việt không thể phát âm từ
“thượng đế” là “xán tí” được, vì hai cách phát âm này về mặt ngôn ngữ dường như chẳng
có sự liên quan nào với nhau Đối với từ “thien chu” và “thien chũ”, trong tài liệu viết
tay năm 1626 của mình, thừa sai Buzomi nói rõ, đối với giáo đoàn Đàng Trong chúng tôi, theo một trong hai bên (tức là cuộc tranh cãi giữa các thừa sai ở Macao về việc dùng
từ “Chúa Deus” hay “Thiên Chủ” đều là ít quan trọng Bởi vì để nói về Chúa (Deus, Dieu) chúng tôi đã dùng một cụm từ của ngôn ngữ địa phương vốn không hề được dùng
để nói về thần thánh của người ngoại Tuy nhiên, vì các sách chữ Hán được dùng ở đây chúng tôi thỉnh thoảng phải nói “thien chũ” (Thiên Chủ) Qua ghi chép này của Bozumi,
có thể biết được lúc bấy giờ người Đàng Trong rất ít khi dùng từ “Thiên Chủ” “Cụm từ
Trang 39ngôn ngữ địa phương” dùng để chỉ Chúa Deus mà ông nhắc đến ở đây chắc chắn là một
từ thuần Việt, có thể là “Chúa Trời” hoặc “Thiên Chúa” Đặc biệt, nếu đem các từ “xán
tí”, “thien chu” hay “thien chũ” mà Bozumi viết so sánh với âm tiếng Hán tương ứng,
có thể thấy được mối quan hệ rất gần trong cách phát âm
Bảng 2.3: So sánh một số từ Latinh hóa trong tài liệu của Francesco Buzomi với
âm tiếng Hán tương ứng
(pīn yīn)
Chúa Trời, Thiên
Thiên Chúa Thượng
Nguồn: [14, tr 40]
Từ bảng so sánh trên, có thể thấy rằng, lúc bấy giờ thừa sai Bozumi không phải
dùng các chữ “xán tí”, “thien chu” hay “thien chũ” để phiên âm các từ thuần Việt có
nghĩa tương ứng, mà ông đã dùng kí tự Latinh và cách phiên âm tiếng Việt được các giáo sĩ sử dụng phổ biến thời bấy giờ để ghi lại âm chữ Hán Tuy vậy, các chữ này đều được viết tách bạch rõ ràng và có dấu, điều đó phản ảnh sự tiến bộ của Bozumi so với các giáo sĩ trước đó về vấn đề cách ngữ và âm vận trong việc vận dụng cách phiên âm tiếng Việt
Trong giai đoạn 1627-1630, giới nghiên cứu chưa tìm được tài liệu nào quan trọng
về chữ Quốc ngữ Từ năm 1631 trở đi nhiều tài liệu quý giá về chữ Quốc ngữ được khám phá Trong những năm 1631-1632, các giáo sĩ Alexandre de Rhodes và Gaspar d’Amaral cũng sử dụng một số chữ Quốc ngữ trong tài liệu gửi về Rô-ma: ai não, Thin hũa, cochinchina, Tomquin, Cochinchina, Sinoa, Anna, Sai, Mia, Bo chi nũ, Gue anũ Năm
1636, giáo sĩ Alexandre de Rhodes có viết bản thảo cuốn Tunchinensis Historiee Libri duo và để lại một số chữ Quốc ngữ như: Kim, Lau Tu, Chúa Canh, nuan, batmin, Thicca, Lautu, Gio; Chúa Canh, Che bich, bochin, Phuchen Linh mục Đỗ Quang Chính nhận
xét: “hai tài liệu viết tay trên đây của Đắc Lộ đều quá ít chữ Quốc ngữ Tuy nhiên chúng
ta còn có thể cho rằng Đắc Lộ viết chữ Quốc ngữ còn kém Buzomi vì ngay vào năm
1626, Buzomi đã sử dụng lối cách ngữ và dùng dấu, tức là đã phân biệt được phần nào
về thanh tiếng Việt” [14, tr 40]
Đến những năm 1644-1648, chữ Quốc ngữ xuất hiện chủ yếu qua tài liệu của Alexandre de Rhodes Một tài liệu được ông viết năm 1644 bằng tiếng Bồ Đào Nha có một số chữ Quốc ngữ như nghĩa, cũ, Chúa Jesu, cho, den, het, hoy, cho den, blon, doy
Trang 40Năm 1647, ông có một tài liệu khác kể lại cuộc hành trình 10 năm của ông, từ năm
1640-1649, đi từ Áo Môn đến Đàng Trong và từ Áo Môn về Rô-ma, với một số chữ Quốc ngữ như On ghe bo, halam, benda, Nambinh, Nuoc Man, bau beo, bo chinh, cu nghe bo… Mặc dù chữ Quốc ngữ đã tiến một bước dài khá ổn định khi càng về cuối thời kì sơ khai, nhưng nó vẫn chưa thực sự trưởng thành và hoàn thiện nhất, thể hiện ở chỗ chưa có đầy
đủ năm dấu thanh như ngày nay, đa số từ còn viết dính vào nhau, còn nhiều phụ âm mà thiếu nhiều nguyên âm Nếu chỉ dựa vào các tài liệu này, người ta có thể nghĩ Alexandre
de Rhodes có công nhiều nhất trong sáng tác chữ Quốc ngữ, nhưng nếu so sánh trình độ viết chữ Quốc ngữ của A.D Rhodes năm 1644 -1647 với linh mục Gaspar d’Amaral vào năm 1632 thì chắc chắn linh mục Amaral giỏi hơn [14, tr 51]
Hai là giai đoạn phát triển chữ Quốc ngữ (từ năm 1651 đến thế kỉ XVIII) Đây là
khoảng thời gian chữ Quốc ngữ phát triển và lưu hành trong phạm vi nhà thờ nhằm phục
vụ mục đích truyền giáo, được dạy trong các trường đào tạo thừa sai, nhiều cuốn từ điển của các linh mục ra đời Giai đoạn này được bắt đầu bằng sự kiện Alexandre de Rhodes dùng chữ Quốc ngữ để soạn và ấn hành sách
Vận dụng những kiến thức tích lũy được từ khi say mê học tiếng Việt tại Dinh Chiêm, những năm ra hoạt động ở Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes đã bắt đầu soạn cuốn sách giáo lý bằng chữ Quốc ngữ đó là Phép giảng tám ngày được ấn hành tại La Mã năm 1651 Sau đó, cuốn Từ điển Việt – Bồ - La cũng in tại La Mã năm 1651, dày gần 500 trang Cuốn văn phạm Việt Nam đóng chung một tập với cuốn từ điển trên nhưng thật ra là một tác phẩm riêng biệt, chia làm tám chương, đánh số trang riêng Cả ba cuốn sách trên đều là những tài liệu vô giá, được đánh giá là những viên gạch đầu tiên của Quốc ngữ Việt Nam Những tác phẩm trên đã được dịch ra tiếng Đức, tiếng Thái, tiếng Pháp, tiếng Ý
Từ đó, chữ Quốc ngữ chính thức bước sang một thời kì mới, thời kì bước đầu phát triển, hay còn gọi là thời kì đổi mới và lan tỏa Từ điển Việt – Bồ – La (1651) được biên soạn dựa trên Từ điển Annam - Bồ - La của Amaral và Từ điển Bồ - Annam của Barbora
Alexandre de Rhodes cũng thừa nhận điều này:“Tôi cũng sử dụng những công trình của
nhiều Cha khác cùng một hội dòng, nhất là Cha Gaspa de Amaral và Cha Antonio Barbosa Cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển, ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ… Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng Latinh theo lệnh các Hồng y đáng tôn kính ” [59, tr 192-193]
Về ngữ âm, từ điển này được đánh giá cao, vì nó có ghi nhiều cách phát âm, cả cách phát âm địa phương lẫn phổ thông Về ngữ nghĩa, từ ngữ của nó có tính phổ thông cao Hầu hết những từ được liệt kê đều mang nghĩa mà người Việt ở các địa phương khác nhau cũng có thể hiểu được giống nhau Theo đánh giá của nhiều học giả, Từ điển