1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giao lưu văn hoá việt nam thái lan từ 1976 đến nay

121 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 782,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong giới hạn của một bài viết ở tạp chí, lại đề cập đến những mối quan hệ nói chung giữa hai n-ớc nên các tác giả ch-a có điều kiện đi sâu, trình bày toàn diện giao l-u văn

Trang 1

Mục lục

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……….1

2 Lịch sử ngiên cưu vấn đề……….2

3 Đối t-ợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu……… 3

4 Phuơng pháp nghiên cứu……… 5

5 Đóng góp của đề tài……….5

6 Bố cục ………5

b nội dung Ch-ơng 1 Những tiền đề của giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ năm 1976 đến nay 1.1.Vị trí địa lý……….6

1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế……… 8

1.3 Cơ sở và quá trình phát triển văn hoá……… 11

1.4 Các liên hệ c- dân trong lịch sử và quan hệ tộc ng-ời……… 16

1.5 Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái lan tr-ớc 1976……….18

Tiểu kết ch-ơng 1: ……… 26

Ch-ơng 2: Giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan từ 1976 đến nay 2.1 Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến 1989………… 28

2.2 Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1989 đến nay………… 30

2.2.1 Các nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1989 dến nay……….30

2.2.2 Các biểu hiện của sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1989 đến nay………36

2.2.2.1 Lĩnh vực văn nghệ……….36

Trang 2

2.2.2.2 Trong lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng………40

2.2.2.3 Lĩnh vực báo chí, truyền thanh, truyền hình……… 42

2.2.2.4 Hỗ trợ về kỹ thuật trong các ngành chuyên môn……… 45

2.2.2.5 Lĩnh vực giáo dục……… .50

2.2.2.6 Về tôn giáo……….55

2.2.2.7 Trong lĩnh vực du lịch……… 57

2.2.2.8 Lĩnh vực thể dục thể thao……… 63

2.2.2.9 Triển lãm………65

2.3 Nhận xét về giao l-u văn hoá Việt Nam- Thái Lan từ 1976 đến nay……….67

Tiểu kết ch-ơng 2……… 68

Ch-ơng 3: Đóng góp tích cực của Việt kiều Thái Lan đối với giao l-u

văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến nay 3.1 Khái quát về cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan tr-ớc 1976………… 69

3.1.1 Sơ l-ợc về quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng ng-ời Việt ở Thái Lan……….69

3.1.2 Đời sống văn hoá của Việt kiều Thái Lan tr-ớc 1976……… 70

3.2 Những đóng góp của ng-ời Việt kiều Thái lan đối với giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan sau 1976……….74

3.2.1 Những điều kiện thuận lợi để Việt kiều Thái Lan đóng góp tích cực vào giao l-u văn hoá Việt – Thái sau 1976……… 74

3.2.2 Việt kiều Thái Lan đóng góp tích cực vào sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ sau 1976 đến nay……….77

3.2.2.1 Ng-ời Việt ở Thái Lan tiếp thu những giá trị tích cực của văn hoá Thái Lan……… 77

3.2.2.2 Việt kiều ở Thái Lan giữ gìn và quảng bá văn hoá Việt Nam…… 79

3.3 Những đóng góp của Việt kiều hồi h-ơng đối với sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan……… 96

Trang 3

3.3.1 Quá trình hồi h-ơng của Việt kiều Thái Lan……….96

3.3.2 Đóng góp của Việt kiều Thái Lan hồi h-ơng tr-ớc 1976

trong sự giao l-u văn hoá Việt - Thái………98

3.3.3 Đóng góp của Việt kiều Thái Lan hồi h-ơng đói với sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến nay……… 100

3.3.3.1 Việt kiều Thái Lan hồi h-ơng góp phần truyền tải các giá tri văn hoá Thái Lan ở Việt Nam ……… 101

3.3.3.2 Việt kiều Thái Lan hồi h-ơng góp phần thúc đẩy sự giao l-u văn hoá và hợp tác chuyên môn giữa Việt Nam và Thái Lan………103

Tiểu kết ch-ơng 3……… 105

c kết luận……….107

d tài liệu tham khảo……… 110

E Phụ lục………118

Trang 4

a Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Giao l-u và tiếp xúc văn hoá là sự vận động th-ờng xuyên của xã hội và là quy luật phát triển của văn hoá Nó là một quy luật tất yếu của đời sống và cũng là nhu cầu tự nhiên của con ng-ời Sự giao l-u văn hoá giữa Việt nam và Thái Lan cũng nằm trong quy luật kể trên

Việt Nam và thái Lan là hai n-ớc có vị trí địa lý gần kề, có những nét t-ơng đồng về điều kiện tự nhiên và kinh tế, có mối quan hệ thân thiết về ngôn ngữ và dân c-, có cơ sở văn hoá và quá trình phát triển văn hoá khá giống nhau nên giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc càng trở nên dễ dàng hơn Sự giao l-u văn hoá Việt - Thái đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử Nó có tác động không nhỏ tới sự phát triển văn hoá của hai quốc gia và là môi tr-ờng cho mối quan hệ của hai n-ớc

1.2 Sau một thời gian đối đầu hết sức căng thẳng, năm 1976, quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan chính thức đ-ợc thiết lập trở lại Sự kiện này

là mốc mở ra một thời kì mới - thời kì hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa hai n-ớc Theo đó, sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan đã b-ớc sang một trang mới

1.3 Trong giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan có một nhân tố quan trọng là cộng đồng ng-ời Việt ở Thái Lan Trong lịch sử, ng-ời Việt đã nhiều lần di c- sang Thái Lan do nhiều lý do: cuộc sống cực khổ, việc kỳ thị tôn giáo, chủ nghĩa thực dân phương Tây… nhìn chung, cộng đồng ng-ời Việt sống ở thái lan là một cộng đồng yêu n-ớc, luôn ý thức giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và đã tiếp thu những giá trị văn hoá tích cực của Thái Lan ở cộng đồng ng-ời Việt kiều Thái Lan có sự giao l-u của hai nền văn hoá Họ

Trang 5

nh- chiếc cầu nối trong giao l-u văn hoá Việt – Thái và đang có nhiều đóng góp vào việc phát triển văn hoá trong công cuộc xây dựng đất n-ớc hiện nay

Nghiên cứu quá trình giao l-u văn hóa Việt Nam- Thái Lan từ 1976

đến nay, đề tài sẽ giúp phân tích những cơ sở lịch sử, mô tả, tái hiện quá trình giao l-u văn hóa giữa hai n-ớc và phân tích đặc điểm của nó nhằm có một cái nhìn toàn diện về vấn đề này Mặt khác, nhận thức về vai trò của cộng đồng ng-ời Việt kiều Thái Lan trong tìm hiểu “giao lưu văn hoá Việt Nam – Thái Lan” sẽ giúp tìm ra những biện pháp để phát huy hơn nữa nguồn lực này đối với sự giao l-u văn hoá Việt Nam – Thái Lan trong thời kỳ mới Với những lý

do nói trên, tôi chọn đề tài “Giao lưu văn hoá Việt Nam – Thái Lan từ 1976

đến nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ sử học của mình

2 Lịch sử vấn đề

Do mối quan hệ láng giềng có từ lâu đời trong lịch sử nên Thái lan là một đối t-ợng nghiên cứu đ-ợc quan tâm nhiều ở n-ớc ta Liên quan đến đề tài này chúng tôi chia ra các nhóm tài liệu:

Nhóm thứ nhất là các tài liệu về lịch sử văn hoá Thái lan, nh-: Tìm hiểu văn hoá Thái Lan của viện Đông nam á (1991); Thái Lan, truyền thống và hiện đại của viện Đông nam á (1996); Nghiên cứu lịch sử văn hoá Thái lan của Phạm Đức D-ơng; Lịch sử Thái Lan của Nguyễn T-ơng Lai và Phạm

Nguyên Long; … Nhìn chung các tài liệu này nghiên cứu về các mặt của đất n-ớc Thái Lan, cung cấp những kiến thức phong phú về Thái Lan và đem lại cái nhìn tổng quan về tiến trình lịch sử văn hoá của Thái Lan

nhóm thứ hai là các tài liệu về quan hệ Việt Nam - thái Lan, trong đó

có sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan Các tài liệu này đã trình bày t-ơng đối bao quát về quan hệ Việt Nam - Thái Lan trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá Tuy nhiên, sự giao l-u văn hoá Việt nam - Thái Lan th-ờng đ-ợc đề cập đến khá sơ l-ợc, lại trong một khoảng thời gian hẹp và

không thành hệ thống Có thể nêu một số tác phẩm tiêu biểu nh-: Quan hệ

Trang 6

Việt Nam - Thái Lan trong những năm 90 của Nguyễn T-ơng Lai (2001); Lịch sử quan hệ của Thái Lan với Cămpuchia - Lào - Việt Nam của Nguyễn Khánh Vân; Quan hệ Việt Nam - Thái Lan h-ớng tới t-ơng lai của Học viện quan hệ quốc tế; Luận án tiến sĩ của Hoàng Khắc nam “Quan hệ Việt nam - Thái Lan ( 1976-2000)”… Luận án tiến sĩ của Hoàng Khắc Nam đã nghiên

cứu t-ơng đối hệ thống, toàn diện về quan hệ Việt Nam - Thái Lan từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1976 đến năm 2000 và đã cung cấp một số t- liệu quan trọng mà đề tài quan tâm Riêng về giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc từ

1989 đến 2004, tác giả đề tài nhận định: “Chưa bao giờ mối quan hệ hợp tác văn hoá Việt Nam- Thái Lan lại tấp nập, phong phú nh- thời kỳ này Hàng loạt các hình thức hoạt động khác nhau đã đ-ợc tổ chức nh- đi thăm, hội nghị, hội thảo, liên hoan văn hoá… Hàng loạt lĩnh vực hợp tác đã được thiết lập và triển khao mạnh mẽ nh- báo chí, ca múa nhạc, sân khấu, điện ảnh, bảo tồn bảo tàng, th- viện, mỹ thuật, quyền tác giả” [27, 190] Tuy nhiên, đề tài tập trung nghiên cứu toàn diện mối quan hệ giữa hai n-ớc nên mới chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát, ch-a có sự trình bày cụ thể và nghiên cứu sâu hơn

về vấn đề này

Ngoài ra, có một số bài viết cụ thể về các biểu hiện của sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan, có thể kể ra những công trình tiêu biểu nh-:

Một số chứng cứ về mối quan hệ văn hoá Việt Nam - Thái Lan của Trần Thị

Lý, TCNC Đông Nam á, số 2/1998; Một bằng chứng tốt đẹp quan hệ Việt - Xiêm d-ới thời Nguyễn của Tr-ơng Sĩ Hùng, Nguyễn Thịnh Sơn, TCNC Đông Nam á, số 2/1991; Mối quan hệ giữa Việt Nam và một số n-ớc Đông Nam á lục địa từ 1851 đến 1858 qua Đại Nam thực lục của Nguyễn Lệ Thi; Quan hệ Việt - Xiêm thời Gia Long - Sự kiện và bài học lịch sử cho một Đông Nam á hoà bình, ổn định và hợp tác của Đặng Văn Ch-ơng TCNC Đông Nam á, số 2/1997; Quan hệ Việt Nam- Thái Lan từ đầu thập kỷ 90 (thế kỷ XX) đến nay

Trang 7

của Nguyễn Diệu Hùng,TCNC Đông Nam á, số 4/2001…Các bài viết nói trên

đều đề cập đến giao l-u văn hoá Việt Nam- Thái Lan trong các thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, trong giới hạn của một bài viết ở tạp chí, lại đề cập đến những mối quan hệ nói chung giữa hai n-ớc nên các tác giả ch-a có điều kiện đi sâu, trình bày toàn diện giao l-u văn hoá Việt Nam- Thái Lan qua những thời kỳ lịch sử khác nhau

Nhóm thứ ba là các tài liệu về ng-ời Việt kiều Thái Lan Các công trình nghiên cứu về cộng đồng ng-ời Việt Nam ở Thái Lan không nhiều Liên quan

đến đề tài có : Cuộc vận động cứu quốc của Việt kiều ở Thái Lan (1961) của

Lê Mạnh Trinh; Hoạt động của các nhà yêu n-ớc Việt Nam ở Xiêm đầu thế kỷ

XX sau khi phong trào Đông Du thất bại của Nguyễn Công Khanh; Quá trình

và nguyên nhân các đợt di c- ng-ời Việt đến Thái Lan của Nguyễn Công Khanh…Quan trọng hơn cả là cuốn Việt kiều trong mối quan hệ Việt Nam- Thái Lan của Trịnh Diệu Thìn và Thaniathip Sripana (Thái Lan) Tác phẩm đã

nghiên cứu khá sâu về Việt kiều trong mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan nói chung, trong giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan nói riêng

Nhìn chung, giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan đã đ-ợc đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu, trên những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, ch-a có công trình nào nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống Lựa chọn đề tài giao l-u văn hoá Việt Nam từ 1976 đến nay, chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu đề tài này cũng nh- cho sự phát triển quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong thực tiễn

3 Đối t-ợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

Đối t-ợng

Đề tài nghiên cứu về giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ năm

1976 đến nay

Nhiệm vụ

Trang 8

- Nghiên cứu các tiền đề cho sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan trong lịch sử

- Dựng lại sự giao l-u văn hoá Việt Nam – Thái Lan từ 1976 đến nay

- Nghiên cứu những đóng góp tích cực của Việt kiều Thái Lan đối với

sự giao l-u văn hoá Việt - Thái từ 1976 đến nay

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan chỉ ở ph-ơng diện giao l-u văn hoá từ 1976 đến nay Đề tài cũng đề cập đến cộng đồng ng-ời Việt kiều Thái Lan trong phạm vi giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan

4 Phuơng pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này dựa trên các ph-ơng pháp truyền thống là ph-ơng pháp lịch sử và logic Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng ph-ơng pháp s-u tầm và xử lý t- liệu có liên quan đến đề tài Nguồn t- liệu đ-ợc thu thập

từ các viện nghiên cứu, nhất là viện nghiên cứu Đông Nam á, th- viện các trường Đại học, Bộ ngoại giao Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam…

5 Đóng góp của đề tài

- Đề tài đã dựng lên cái nhìn tổng quan về giao l-u văn hoá Việt Nam

- Thái Lan từ 1976 đến nay Điều đó, giúp tăng thêm tình đoàn kết và thân thiện giữa hai n-ớc

- Đề tài đã làm sáng rõ đóng góp tích cực của Việt kiều Thái Lan đối với sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan, góp phần thúc đẩy các chính sách nhằm phát huy nhân tố này trong sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc nói riêng, trong quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai n-ớc nói chung

Trang 9

Ch-ơng 2: Giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan từ 1976 đến nay Ch-ơng 3: Đóng góp tích cực của Việt kiều Thái Lan đối với giao l-u

văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến nay

b nội dung

Ch-ơng 1

Những tiền đề của giao l-u văn hoá

Việt Nam - Thái Lan từ năm 1976 đến nay

Những tiền đề của sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan từ

1976 đến nay bao gồm: sự gần kề về vị trí địa lý; sự t-ơng đồng về tự nhiên và kinh tế; những nét giống nhau trong cơ sở và quá trình phát triển văn hoá; các mối liên hệ dân c- trong lịch sử và quan hệ đồng tộc Đó là những cơ sở giúp hình thành nên sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái lan từ rất sớm trong lịch sử, cả ở ph-ơng diện nhân dân- nhân dân và nhà n-ớc - nhà n-ớc Mặt khác, những quan hệ văn hoá ban đầu đó lại là tiền đề cho sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc từ năm 1976 đến nay Quan trọng hơn cả, tất cả các nhân tố ấy luôn là một phần môi tr-ờng t-ơng đối ổn định cho sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan, v-ợt qua mọi thăng trầm biến động của lich sử

1.1.Vị trí địa lý

Từ xa x-a trong lịch sử, các thị tộc, bộ lạc, cho đến các quốc gia dân tộc, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển của mình luôn muốn mở rộng quan hệ với bên ngoài Đó là sự phát triển tất yếu của mọi dân tộc vì sự tồn tại của chính mình Thời xa x-a, khi ch-a phát triển các ph-ơng tiện giao thông vận tải và thông tin liên lạc hiện đại thì sự gân gũi về không gian chính là điều kiện thuận lợi nhất cho mọi mối quan hệ bang giao Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên mà các quan hệ đối ngoại đầu tiên trong lịch sử của các dân tộc luôn là với các dân tộc ở xung quanh mình, rồi từ đó mà v-ơn ra rộng hơn, xa hơn

Trang 10

Ngoài ra, vị trí địa lý thuận lợi giữa hai n-ớc cũng giúp cho các mối quan hệ c- dân - c- dân của hai bên diễn ra sớm và th-ờng xuyên hơn, cũng nh- góp phần tạo yếu tố t-ơng đối ổn định cho quan hệ bang giao của hai nhà n-ớc

Thái Lan và Việt Nam là hai quốc gia cùng nằm trên bán đảo Trung ấn, cùng thuộc Đông Nam á lục địa Mặc dù không tiếp giáp về biên giới lãnh thổ, song hai n-ớc có khoảng cách về không gian khá gần gũi và hầu nh- không có cách trở về địa lý Các đ-ờng giao thông tự nhiên giữa hai n-ớc cũng t-ơng đối thuận tiện, chẳng hạn nh- sông Mêkông và các đ-ờng biển ven bờ, do đó thời x-a, việc đi lại giữa hai bên không quá phức tạp Tr-ớc kia, các sứ thần Thái Lan đến Đại Việt, hay các đoàn thuyền của Xiêm đến Đại Việt buôn bán th-ờng hay đi theo con đ-ờng bbiển ven bờ Khi n-ớc Xiêm muốn buôn bán với các quốc gia khác nh- Campuchia, Trung Quốc đôi khi phải sử dụng con đ-ờng ven biển của Việt Nam Cho đến khi ng-ời Việt tiến xuống lập c- ở Nam Bộ thì đ-ờng biển ven bờ đã trở thành con đ-ờng giao thông chính của hai n-ớc

Nh- vậy, với sự thuận lợi về mặt vị trí địa lý, từ rất sớm, Việt Nam và Thái Lan đã có mối quan hệ láng giềng khá mật thiết Bên cạnh đó, các quan

hệ giữa nhân dân hai n-ớc cũng đã diễn ra từ rất sớm và t-ơng đối th-ờng xuyên Các c- dân trên lãnh thổ Việt Nam và Thái Lan thời x-a đã giao l-u với nhau từ nửa sau của thiên niên kỉ I tr-ớc công nguyên

Cần phải nói thêm rằng, trong lịch sử, Xiêm là một quốc gia phong kiến tập quyền khá mạnh ở Đông Nam á và th-ờng xuyên bành tr-ớng thế lực ra các vùng xung quanh, đặc biệt Xiêm rất muốn chiếm Lào và Campuchia là những n-ớc có chung địa giới với Việt nam Quốc gia Thái Lan thời phong kiến đã nhiều lần áp đặt sự thống trị lên Lào Cũng có những khi cả Thái Lan

và Việt Nam cùng muốn thôn tính Lào và cùng nhau chia xẻ Lào để cai trị Khi đó, Thái Lan và Việt Nam có thể coi nh- đã kề nhau Những nhân tố đó

đều đã góp phần thu hẹp lại khoảng cách địa lý giữa hai n-ớc

Trang 11

Ngoài ra, từ đầu thế kỷ XX đến nay, với sự hình thành và sau đó không ngừng đ-ợc mở rộng, hoàn thiện các con đ-ờng 8, 9, 12 đã tạo điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều cho quan hệ giữa hai n-ớc Việt Nam - Thái Lan Các con

đ-ờng này từ Việt Nam xuyên Tr-ờng Sơn qua Lào đến Thái Lan chỉ khoảng vài trăm km

Tóm lại, sự thuận lợi về vị trí địa lý là một trong những tiền đề quan trọng của mọi quan hệ bang giao từ x-a đến nay; và quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan trong lịch sử cũng sớm nảy nở nhờ vào điều kiện trên

Nó không chỉ có ý nghĩa trong quan hệ ngoại giao ở khía cạnh nhà n-ớc, mà còn góp phần tăng c-ờng các mối quan hệ nhân dân - nhân dân giữa hai n-ớc, khiến chúng diễn ra phong phú và th-ờng xuyên hơn Ngay cả khi hai nhà n-ớc đối đầu nhau thì sự thuận lợi về vị trí địa lý làm cho các quan hệ của c- dân hai bên vẫn có thể tiếp diễn trong một chừng mực nhất định, sự giao l-u văn hoá rộng lớn giữa Việt Nam và Thái Lan vẫn âm thầm diễn ra Cho đến ngày nay, đây vẫn là một nhân tố khách quan thuận lợi góp phần tăng c-ờng quan hệ ngoại giao nói chung và sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam - Thái Lan nói riêng

Về mặt địa lý tự nhiên, Việt Nam và Thái Lan đều nằm trong khu vực

Đông Nam á lục địa, thuộc vùng khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Yếu

tố gió mùa đã ảnh h-ởng rất sâu đậm đến lịch sử phát triển của hai quốc gia này và đ-a đến sự hình thành các nền văn minh nông nghiệp trồng lúa n-ớc, với lối sinh hoạt dựa vào lúa gạo, thực vật, đánh cá và săn bắt, cùng với nó là

sự định hình các nét văn hoá truyền thống của cả hai dân tộc Rõ ràng, yếu tố

địa lý có một ý nghĩa nhất định trong việc tạo nên những dấu ấn t-ơng đồng

về cơ sở văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan trong quá trình phát triển của lịch

sử Truyền thống ấy là nền tảng bền vững, và càng đ-ợc củng cố vững chắc trong quá trình giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc

1.2 Điều kiện tự nhiên và kinh tế

Trang 12

Là hai n-ớc cùng nằm trong khu vực Đông Nam á lục địa, điều kiện tự nhiên của Việt Nam và Thái Lan có khá nhiều điểm t-ơng đồng

Kiến tạo địa lý của hai n-ớc t-ơng đối giống nhau: Đều có địa thế thấp dần từ Tây sang Đông, có độ dốc thoai thoải ra phía biển Địa hình của Việt Nam cũng nh- Thái Lan đều đa dạng, bao gồm cả đồng bằng, cao nguyên và rừng núi Sự đa dạng về địa hình sẽ tạo nên sự đa dạng trong cảnh quan và sự

Sự giống nhau về địa hình và khí hậu đã quy định sự giống nhau trong

hệ sinh vật tự nhiên và cơ cấu cây trồng, khiến cho cơ sở kinh tế của hai n-ớc

có nhiều nét t-ơng đồng Việt Nam và Thái Lan cùng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên ở nơi đây đều có những thảm thực vật xanh tốt bốn mùa Trong các khu rừng nhiệt đới ở đây có rất nhiều loại gỗ quý hiếm và tốt, lại có nhiều loại tre, nứa, lá thuận lợi cho việc làm nhà, đóng thuyền, hay chế tác ra những nông cụ và công cụ sản xuất Trong rừng còn có nhiều loại

củ dùng làm l-ơng thực, nh- củ mài và nhiều loại trái cây t-ơi ngon Ngoài ra, rừng cũng là nơi sinh sống của những loài thú, loài cầm, và là nơi con ng-ời tìm kiếm nguồn l-ơng thực và thức ăn không mấy khó khăn Do l-ợng m-a nhiều, sông ngòi ao hồ và kênh rạch chằng chịt chảy vào những con sông lớn nh- sông Mêkông, sông Hồng… nên nghề đánh cá trên hồ của c- dân Thái Lan và Việt Nam thời x-a cũng khá phát triển

Trang 13

Nh- vậy, sự t-ơng đồng về điều kiện tự nhiên và khí hậu đã đ-a đến sự t-ơng đồng trong cơ sở kinh tế của những c- dân bản địa ở Việt Nam và Thái Lan Đó là một nền kinh tế khá đa dạng, bao gồm cả nông, lâm và ng- nghiệp, nh-ng giữ vị trí then chốt là nền sản xuất nông nghiệp lúa n-ớc Nếu nh- cây lúa n-ớc là thành tựu của tất cả các c- dân Đông Nam á thì ng-ời Thái Lan và ng-ời Việt Nam cũng đã có phần đóng góp đáng kể, đặc biệt khi họ đ-a thuỷ lợi vào nghề trồng lúa Họ đã phát triển cây lúa từ những thung lũng hẹp d-ới chân núi xuống những đồng bằng ngập n-ớc Họ đã sáng tạo nên những ph-ơng thức thuỷ lợi khác nhau trên những kết cấu địa hình khác nhau Từ chỗ chiếm lĩnh các đồng bằng rộng lớn họ dần tiến ra biển Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những mối liên hệ về giống lúa giữa Việt Nam và Thái Lan, nh- nhóm giống Indica ở miền nam Thái Lan và Nam Việt Nam, nếp Indica ở bắc Thái Lan và bắc Việt Nam, nếp Japonica ở Bắc Việt Nam và Bắc Thái Lan…

Những sự t-ơng đồng trên đã có sự tác động không nhỏ tới mối quan

hệ cũng nh- sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc Tr-ớc hết, sự t-ơng đồng về

điều kiện tự nhiên và cơ sở kinh tế đã làm cho nhận thức và thái độ của ng-ời Việt và ng-ời Thái đối với tự nhiên và xã hội trở nên gần gũi với nhau hơn Để thích nghi với môi tr-ờng và hoàn cảnh sống, cũng nh- để phù hợp với những

đặc tr-ng của nền kinh tế nông nghiệp lúa n-ớc khiến cho con ng-ời có thái

độ khoan dung và tinh thần hoà hợp Họ tỏ ra có một thái độ uyển chuyển và sáng tạo trong việc tiếp thu văn hoá của các c- dân láng giềng, một lối ứng xử rất mềm mại trong cuộc sống Với ng-ời Thái, nh- lời ví của một nhà nghiên cứu “giống nh- một dòng n-ớc chảy cứ tìm chỗ trũng mà tràn tới” Nh- vậy, trong thế giới quan và nhân sinh quan của ng-ời Việt và ng-ời Thái có nhiều nét t-ơng đồng nhau Đó cũng là một truyền thống trong nhận thức và lối ứng

xử của con ng-ời ở những nơi này, và điều đó góp phần giúp cho mối quan hệ trở nên dễ dàng hơn, sự giao l-u trở nên thuận lợi hơn

Trang 14

Bên cạnh đó, sự t-ơng đồng về cơ sở kinh tế cũng đem lại ý nghĩa không nhỏ trong mối quan hệ và sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan ở buổi đầu lịch sử Khi nền sản xuất lúa n-ớc phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết và năng suất còn yếu kém thì việc đảm bảo nhu cầu l-ơng thực còn là một vấn đề Do đó, Việt Nam và Thái Lan với cơ sở kinh tế t-ơng đồng nh- trên , lại có sự khá gần gúi về mặt vị trí địa lý đã mang trong mình những khả năng

để trao đổi rất lớn Vì thế, có thể nói rằng, sự chi phối của yếu tố tự nhiên và kinh tế đã góp phần thúc đẩy mối quan hệ kinh tế giữa hai n-ớc Việt Nam và Thái Lan trong lịch sử, từ đó kéo theo sự phát triển của các mối quan hệ về văn hoá Ngày nay, bản thân kinh tế luôn là động lực quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển của quan hệ ngoại giao Với động lực kinh tế nh- vậy, tin chắc quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan ngày càng đ-ợc củng cố một cách toàn diện hơn

1.3 Cơ sở và quá trình phát triển văn hoá

Việt Nam và Thái Lan là hai quốc gia có nhiều nét t-ơng đồng trong cơ

sở và quá trình phát triển văn hóa Điều đó đ-ợc quy định bởi nhiều yếu tố: Thứ nhất, cả hai quốc gia đều có chung một cơ tầng văn hoá trên nền tảng nền kinh tế nông nghiệp lúa n-ớc Thứ hai, có nhiều điểm chung trong thế giới quan và nhân sinh quan Thứ ba, hai n-ớc đã có một quá trình giao l-u văn hoá nhất định trong suốt chiều dài lịch sử, do đó đã có một bề dày tiếp thu và truyền tải các giá trị văn hoá của nhau Thứ t-, trong quá trình phát triển lịch

sử, cả hai n-ớc cùng chịu chung những ảnh h-ởng văn hoá từ bên ngoài vào, góp phần tạo thêm những điểm t-ơng đồng về văn hoá Tất cả những nhân tố

đó đều góp phần làm tăng c-ờng thêm sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc trong các thời kì lịch sử

Việt Nam và Thái Lan nằm trong cái nôi chung là khu vực Đông Nam

á - một trong những trung tâm cổ của châu á, một khu vực lịch sử - văn hoá mang đặc tr-ng nổi bật: thống nhất trong đa dạng Từ thời xa x-a của lịch sử,

họ đã sáng tạo ra các nền văn minh cổ khác với hai nền văn minh Trung Hoa

Trang 15

và ấn Độ, đó là nền văn minh nông nghiệp lúa n-ớc, với một phức thể văn hoá gồm ba yếu tố: văn hoá đồng bằng, văn hoá núi, văn hoá biển, trong đó yếu tố thứ nhất chiếm giữ vai trò chủ đạo Trên cơ tầng của nền văn minh lúa n-ớc

ấy, trên lãnh thổ Việt Nam và Thái Lan cách đây hàng nghìn năm, c- dân bản

địa đã xây dựng nên những nền văn hoá truyền thống mang sắc thái dân tộc

độc đáo, nh-ng cũng có nhiều dáng dấp giống nhau Có thể tìm thấy những nét văn hoá truyền thống t-ơng đồng giữa Việt Nam và Thái Lan ở mọi nơi, từ

đời sống văn hóa vật chất đến đời sống văn hoá tinh thần, từ các yếu tố của văn hoá lúa n-ớc tới văn hoá làng bản, từ đời sống tâm linh tới hoạt động tôn giáo… Chúng hiện diện liên tục trong suốt quá trình lịch sử, từ quá khứ cho tới hiện tại

Trên địa bàn không gian sinh tồn nh- đã tìm hiểu, các c- dân bản địa ở Thái Lan và Việt Nam thời x-a đều sống tập trung theo một cấu trúc làng xã lấy tinh thần cộng đồng làm cốt yếu, bởi việc khai thác rừng rú làm n-ơng rẫy, khơi thông đầm lầy, đắp đê ngăn lũ, lấn biển vét sông buộc con ng-ời phải

đồng tâm hiệp lực cùng nhau mới làm đ-ợc Do đó, các tổ chức làng xã đã tồn tại bền vững trên cơ sở các gia đình và họ tộc, về sau đ-ợc nâng lên thành khái niệm quốc gia

Trong các xã hội nông nghiệp đó, vai trò của ng-ời phụ nữ cực kì quan trọng Họ chia sẻ cùng nam giới công việc canh tác đồng áng, họ trông nom v-ờn t-ợc, chăn nuôi gia súc, nuôi dạy con cái Vì thế dân Việt Nam và Thái Lan thời x-a cùng theo chế độ mẫu hệ, mà nó vẫn còn để lại ảnh h-ởng trong cuộc sống hiện nay

C- dân bản địa ở các nền sản xuất nông nghiệp lúa n-ớc nh- Thái Lan

và Việt Nam đã sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần mang nhiều nét t-ơng đồng Các sinh hoạt văn hoá tinh thần của ng-ời Thái Lan và Việt Nam thời x-a th-ờng gắn chặt với nghề trồng lúa n-ớc Họ đều có những phong tục tập quán và các lễ nghi nông nghiệp nh- thờ cúng tổ tiên, các tín ng-ỡng đa thần, nhất là các sinh hoạt nông nghiệp và hội mùa

Trang 16

Các c- dân nông nghiệp lúa n-ớc ở Việt Nam và Thái Lan thời x-a luôn phải trông cho m-a thuận, gió hoà, chính vì thế họ sùng bái các hiện t-ợng tự nhiên nh- mặt trời, nước, mưa, gió…Tất cả đã trở thành các vị thần linh mà họ tôn thờ Những tàn d- của tín ng-ỡng nguyên thuỷ này còn tồn tại đến tận ngày nay trong tín ng-ỡng dân gian ở cả Việt Nam và Thái Lan

Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá tinh thần phong phú không thể thiếu của các c- dân nông nghiệp lúa n-ớc nói chung, cũng nh- ở Việt Nam và Thái Lan, th-ờng đ-ợc tổ chức vào đầu xuân hoặc những lúc gặt lúa xong Trong các lễ hội đó, có các trò diễn phản ánh những sinh hoạt của c- dân nông nghiệp sống với nghề trồng lúa n-ớc, chẳng hạn nh- r-ớc n-ớc, té n-ớc… Đó

là một bảo tàng văn hoá, một thứ bảo tàng tâm thức l-u giữ các giá trị văn hoá, các sinh hoạt văn hoá của nhân dân lao động ở Việt Nam và Thái Lan thời x-a Những nét đẹp văn hoá đó đến nay vẫn đang tồn tại trong đời sống văn hóa tinh thần của ng-ời Việt Nam cũng nh- ng-ời Thái Lan Lễ tết Songkran của ng-ời Thái với tục tạt n-ớc diễn ra vào đầu năm mới chính là sự bảo l-u những nét văn hoá truyền thống đặc sắc của dân tộc Thái…

Trong quá trình phát triển của lịch sử, văn hoá Việt Nam và Thái Lan lại cùng chịu các ảnh h-ởng từ bên ngoài vào, góp phần tạo thêm những điểm t-ơng đồng về văn hoá Cả Việt Nam và Thái Lan cùng nằm trong khu vực giao l-u của văn hoá Trung Quốc và ấn Độ và cùng chịu sự ảnh h-ởng của các nền văn hoá này Sau này, hai n-ớc lại cùng chịu sự ảnh h-ởng của văn minh ph-ơng Tây

Từ tr-ớc công nguyên, các đoàn th-ơng nhân và các nhà truyền giáo ấn

Độ đã đến Việt Nam và Thái Lan Tiếp đó, đến những thế kỉ đầu công nguyên, cả Việt Nam và Thái Lan cùng chịu sự bành tr-ớng của chủ nghĩa Đại Hán

Đến thế kỉ XIX, làn sóng văn minh ph-ơng Tây lại tràn vào Đông Nam á, trong đó có Việt Nam và Thái Lan Do đó, có thể nói, quá trình hỗn dung văn

Trang 17

hoá của hai nuớc lại mang thêm nhiều điểm giống nhau, và nền văn hoá hai n-ớc có thêm nhiều giá trị và sắc thái t-ơng đồng

Cần phải nói thêm rằng, trong suốt quá trình lịch sử, dù nhiều lần bị ảnh h-ởng bởi các nền văn hoá ngoại vi, dù các tôn giáo và t- t-ởng bên ngoài có lúc đã đứng vững trên nền văn hoá của cả hai dân tộc nh- Nho giáo, Phật giáo, Hồi giáo, hoặc những luồng t- t-ởng triết học từ bên ngoài du nhập vào, thì cả ở Việt Nam và Thái Lan đều cùng xảy ra hiện t-ợng đáng chú ý, đó là những tôn giáo, những t- t-ởng ngoại nhập đó hoặc là dung hoà với văn hoá truyền thống đã đ-ợc ng-ời Việt Nam hay ng-ời Thái Lan hoá giải để trở thành văn hoá bản địa, hoặc nếu không hội nhập đ-ợc thì nó chỉ là một lớp sơn ở bên ngoài

Chẳng hạn, tr-ớc khi Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam và Thái Lan thì ng-ời Thái và ng-ời Việt cũng đã có cùng một thứ tôn giáo sơ khai của mình là tục thờ thần linh và gia tiên Thứ tôn giáo sơ khai này xuất phát từ thế giới quan còn nhiều thô sơ và hạn chế, nh-ng nó lại có nền tảng về sự h-ớng thiện, về tinh thần cộng đồng dân tộc Phật giáo đến với hai dân tộc Việt - Thái bao gồm các quan niệm về thế giới quan và vũ trụ quan, về luân hồi và

đạo đức, mà các quan niệm này có những nét gần gũi với hình thức tôn giáo sơ khai của mình, đặc biệt là quan niệm về đạo đức lại rất phù hợp với quan niệm sống của hai dân tộc Do đó, Phật giáo không phải là cái gì xa lạ, đối địch mà

nó là yếu tố tôn giáo mới, củng cố và phát triển thêm cho tôn giáo sẵn có Ng-ời Việt và ng-ời Thái đã tiếp nhận Phật giáo, nh-ng vẫn không hoàn toàn

từ bỏ hình thức tôn giáo thờ thần linh và gia tiên mà hoà nhập hai tôn giáo này thành thứ Phật giáo mang màu sắc thần linh không hoàn toàn nh- Phật giáo chính thống Nh- vậy, trong lịch sử, Việt Nam và Thái Lan đã cùng có chung thái độ trong việc tiếp nhận Phật giáo, và cả hai dân tộc đều có một truyền thống Phật giáo lâu dài, đã tiếp thu các giáo lý Phật giáo để củng cố cho suy nghĩ và hành động của mình Phật giáo với cả ng-ời Thái và ng-ời Việt đều không phải là những t- t-ởng triết học cao siêu về bản ngã, về Niết Bàn, về vũ

Trang 18

trụ mà là luân th-ờng đạo lý trong cuộc sống Đối với họ, việc làm thiện để tích đức cho kiếp sau mới là những hoạt động tôn giáo chính Vì thế, ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành của các Phật tử mà còn trở thành trung tâm văn hoá xã hội của từng làng, bản trong địa ph-ơng ở đó, diễn ra các lễ hội dân gian, các sinh hoạt văn hoá văn nghệ của dân chúng Có thể nói, Phật giáo đã

có những đóng góp nhất định trong suốt một quá trình lịch sử của cả hai dân tộc và đã tạo cho họ những mẫu ng-ời có tầm suy nghĩ và hành động cao th-ợng, có vai trò tích cực trong những điều kiện lịch sử cụ thể Cuộc sống xã hội và truyền thống văn hoá của hai dân tộc đã có những đóng góp đáng kể của Phật giáo Có chung một truyền thống Phật giáo, hai dân tộc Việt Nam và Thái Lan sẽ thêm hiểu nhau hơn, gần gũi nhau hơn

Nh- vậy, từ cơ sở văn hoá, đến quá trình phát triển văn hoá của hai dân tộc Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm t-ơng đồng nhau Điều đó đã tạo nên những thuận lợi trong quan hệ văn hoá giữa hai n-ớc qua các thời kì lịch sử, bởi trong quá trình tiếp biến văn hoá sẽ không bị cản trở bởi những mâu thuẫn văn hoá Hơn thế, sự tồn tại các giá trị chung còn là yếu tố góp phần duy trì tính ổn định t-ơng đối trong sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan Nhìn lại trong lịch sử quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan đã không ít lần đối đầu nhau, song ch-a bao giờ có sự đụng độ về văn hoá Chính vì thế, sau khi mối xung đột đ-ợc giải quyết thì không hề để lại sự thù hằn dân tộc cũng nh- những mâu thuẫn cho mối quan hệ của hai n-ớc và sự giao l-u văn hoá của hai n-ớc sau đó

Mặt khác, dù văn hoá Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm t-ơng đồng, song không phải là đồng nhất Mỗi dân tộc đều có những giá trị và bản sắc văn hoá riêng của mình Do đó, trong quá trình giao l-u văn hoá có thể sẽ bỏ sung thêm cho nhau trên tinh thần hợp tác cùng phát triển

Trong quá trình phát triển của lịch sử, giao l-u văn hoá là nhu cầu của tất cả mọi quốc gia vì sự sinh tồn và phát triển Sự t-ơng đồng trong cơ sở và quá trình phát triển văn hoá của Việt Nam và Thái Lan đã tạo tiền đề và thúc

Trang 19

đẩy sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc Các quan hệ văn hoá giữa nhân dân hai n-ớc sẽ trở nên thân thiết và sâu sắc hơn khi chúng có những giá trị chung để cùng chia sẻ Trong quá trình tòan cầu hoá, khu vực hoá hiện nay, những điểm t-ơng đồng trong văn hoá truyền thống của ng-ời Việt và ng-ời Thái luôn là những nhân tố hợp lý để thúc đẩy sự giao l-u và hợp tác giữa hai n-ớc, cũng nh- hạn chế đ-ợc tối đa các mâu thuẫn và tranh chấp

1.4 Các liên hệ c- dân trong lịch sử và quan hệ tộc ng-ời

Các liên hệ c- dân trong lịch sử và quan hệ đồng tộc trong thành phần tộc ng-ời là một trong những tiền đề quan trọng nữa của sự giao l-u văn hóa giữa Việt Nam và Thái Lan Tr-ớc khi ng-ời Thái lập quốc trên phần đất Thái Lan hiện nay, ng-ời Thái đã có một quá trình sinh sống lâu dài ở miền Nam Trung Quốc và phía Bắc bán đảo Trung ấn, cùng địa vực với các tộc ng-ời Bách Việt Do đó, tổ tiên của ng-ời Thái Lan hiện nay là những nhóm tộc ng-ời Thái cổ có quê h-ơng xa x-a ở miền Tây Nam Trung Quốc Từ thiên niên kỉ I, những nhóm Thái cổ đã có mặt rải rác trên khắp miền Bắc và Đông Bắc Thái Lan [89, 42] Quá trình này đã tạo nên những mối liên hệ c- dân trong lịch sử giữa ng-ời Thái với các tộc ng-ời ở Việt Nam

Còn trên địa bàn Việt Nam, từ rất sớm đã có nhóm nhỏ ng-ời Thái đến

đây c- trú Khoảng đầu công nguyên, ng-ời Thái cổ ở Nam Trung Quốc cũng

đã di c- xuống Bắc Đông D-ơng Nh-ng phảỉ đến khoảng thế kỉ X- XII, với cuộc thiên di ồ ạt của nhóm ng-ời Thái đen vào Tây Bắc Việt Nam thì vùng Tây Bắc Việt Nam mới thực sự trở thành địa bàn sinh tụ, là quê h-ơng thứ hai của ng-ời Thái ở Việt Nam Ng-ời Thái ở Việt Nam hiện nay cũng nhận rằng quê h-ơng xa x-a của họ là miền Tây Nam Trung Quốc Trên những tài liệu

thành văn cổ của ng-ời Thái ở Việt Nam nh-: Tày pú xấc (Những chặng

đ-ờng chinh chiến của tổ tiên ng-ời Thái) có nhắc đến vùng quê cha đất tổ của ng-ời Thái Đó là vùng “ Hin xam xảu, Nậm cẩu que, Pá Té Tao”, tức vùng đầu nguồn, nơi phát nguyên của chín con sông, nơi có ba rặng núi bao quanh, kéo dài cho đến vùng hợp l-u của hai con sông lớn - sông Đà và sông

Trang 20

Hồng - tức vùng Bạch Hạc - Việt Trì ngày nay Nh- vậy, quê h-ơng xa x-a của ng-ời Thái đen Việt Nam là vùng Tây Bắc Đông D-ơng hiện nay Hay

trong sử thi của ng-ời Thái (Quắm tố m-ơng: kể chuyện bản m-ờng) chỉ rõ

quê h-ơng của ng-ời Thái Đen tr-ớc khi thiên di vào Tây Bắc Việt Nam hiện nay là “ Mường Ôm, Mường Ai”, tức vùng 6 châu Thái, vùng trên biên giới ba n-ớc Việt, Lào và Trung Quốc gặp nhau, tức vùng Tây Nam Vân Nam Trung Quốc hiện nay [89]

Nh- vậy, có thể cho rằng quê h-ơng của ng-ời Thái ở Thái Lan và ng-ời Thái ở Việt Nam là vùng Tây Nam tỉnh Vân Nam Trung Quốc hiện nay Qua nghiên cứu của chúng tôi về những đặc tr-ng văn hoá cơ bản của ng-ời Thái Lan và ng-ời Thái ở Việt Nam cũng thấy rằng có nhiều điểm t-ơng

đồng

ở ng-ời Thái Lan cũng nh- ng-ời Thái ở Việt Nam vẫn tồn tại về cơ bản chế độ hôn nhân tự do giữa trai và gái dựa trên những luật tục truyền thống và đã ăn sâu vào tâm t- tình cảm của mỗi ng-ời dân Thái Nó khác hẳn với quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” của lễ giáo phong kiến Từ quan

điểm cơ bản đó đ-a đến quan điểm về giá trị của ng-ời phụ nữ trong xã hội Thái cũng khác hẳn, mang đầy tính nhân đạo Về quy mô và tính chất gia đình của ng-ời Thái Lan và ng-ời Thái ở Việt Nam cơ bản là giống nhau Đó là những gia đình nhỏ, thông th-ờng từ 2-3 thế hệ và đều mang đậm nét tính chất song hệ Tuy nhiên trải qua quá trình phát triển lịch sử nội tại và mối quan hệ giao lưu văn hoá với các tộc người khác như Hán, Việt, Môn, Khơme…nên trong tính chất của gia đình ng-ời Thái Lan mang nặng tàn d- mẫu hệ hơn, còn ở ng-ời Thái Việt Nam quan hệ phụ hệ sớm đ-ợc xác lập Cả ng-ời Thái Lan và ng-ời Thái Việt Nam đều rất coi trọng tinh thần cộng đồng làng xã có

từ lâu đời Họ đều gọi làng là Bản Điều giống nhau cơ bản là số gian của từng

ngôi nhà ở cả hai nhóm Thái đều lẻ, số bậc cầu thang cũng vậy và đều cùng quan niệm làm vậy để tránh dẫn ma vào nhà

Trang 21

Nói tóm lại, một số điều đồng nhất về văn hoá giữa ng-ời Thái Lan và ng-ời Thái ở Việt Nam đã góp phần làm sảng tỏ thêm trong nhận định của chúng tôi là họ có cùng nguồn gốc từ những nhóm tộc ng-ời Thái cổ ở Tây Nam Trung Quốc

Ngoài ra, các tộc người như Lào, Lự, Dao, Khơ mú… đều sinh sống

đồng thời trên cả hai miền đất n-ớc Hiện nay, họ đã trở thành những bộ phận trong cộng đồng dân tộc mỗi n-ớc Đó là những mối liên hệ c- dân trong lịch

sử giữa các tộc ng-ời ở Thái Lan với các tộc ng-ời ở Việt Nam Các quan hệ này là sợi dây dệt kết giữa hai cộng đồng, tạo cơ sở cho sự hình thành và vận

động của các mối quan hệ sau này

Trong suốt chiều dài lịch sử, đã có những cuộc di c- của ng-ời Thái sang đất Việt và ng-ời Việt sang đất Thái “ít nhất, từ thế kỷ VIII và nhất là trong đợt thiên di thế kỉ IX- X, ng-ời Thái đã di c- đến th-ợng nguồn sông Đà

và hình thành những điểm tụ c- ở vùng Tây Bắc n-ớc ta” [89, 50] Khác với ng-ời Thái đã có quá trình di c- xuống phía Nam một cách lâu dài, có hệ thống và đ-ợc bắt đầu từ xa x-a, ng-ời Việt di chuyển sang đất Thái khá lẻ tẻ, ch-a lâu lắm và nhiều tr-ờng hợp xuất phát từ các lí do tình thế Dấu vết của các quá trình di c- này là ở sự hiện diện của cộng đồng ng-ời Việt trong thành phần dân tộc Thái Lan và ng-ợc lại

Các quan hệ đồng tộc và những liên lệ c- dân trong lịch sử giữa Việt Nam và Thái Lan đã tạo điều kiện cho sự xích lại gần nhau của hai cộng đồng,

đặt nền móng cho mối quan hệ của nhân dân hai n-ớc Chúng còn có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của mối liên hệ giữa nhân dân hai n-ớc và nâng cao thêm sự hiểu biết về văn hoá của nhau

Tóm lại, trên cơ sở các tiền đề mà chúng tôi đã trình bày ở trên, quan hệ giữa Việt Nam - Thái Lan và quá trình giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử Chúng là nền tảng bền vững để xây đắp nên mối quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn, đồng thời, trong quá trình giao l-u, chúng

Trang 22

luôn là một phần quan trọng với ý nghĩa tạo thuận lợi, loại bỏ tối đa những mâu thuẫn, và không ngừng củng cố những nét t-ơng đồng của cả hai bên

1.5 Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái lan tr-ớc 1976

Trong thời kì này, năm 1858 là mốc mà từ đây trở về tr-ớc, các quan hệ

và sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan đã có một quá trình đ-ợc củng cố và phát triển Sự giao l-u văn hoá Việt - Thái sẽ không bị đứt quãng nếu không có sự kiện thực dân Pháp xâm luợc Việt Nam vào năm 1858, kéo theo các định kiến chính trị và an ninh hết sức phức tạp trong khu vực Đông Nam á, đ-a tới sự đối đầu giữa hai n-ớc Việt Nam và Thái Lan trong một thời gian dài Do đó, chúng tôi coi quá trình giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan tr-ớc 1858 là một tiền đề với ý nghĩa chúng đã đặt nền tảng cho sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan trong thời đại mới, khi Việt Nam

đã bình th-ờng hoá quan hệ trở lại với Thái Lan và b-ớc vào thời kì xây dựmg

đổi mới đất n-ớc

Theo tác giả Trần Thị Lý trong bài Một số chứng cứ về mối quan hệ văn hoá Việt Nam – Thái Lan thì hiện nay, có nhiều chứng tích lịch sử cho phép

chúng ta khẳng định giả thiết về sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan ngay từ thời tiền sử và sơ sử

Tr-ớc khi ng-ời Thái có mặt trên miền Nam bán đảo Đông D-ơng và trên lãnh thổ Việt Nam và Thái Lan hiện nay, c- dân bản địa ở đây đã là chủ nhân của những nền nghệ thuật rực rỡ, nh- nghệ thuật Phù Nam, Champa ở Việt Nam, nghệ thuật Srivịaya, Dvaravati …ở Thái Lan Ngày nay, các nhà khảo cổ học phát hiện ra đ-ợc rất nhiều các pho t-ợng ấn Độ giáo và Phật giáo có niên đại vào những thế kỉ đầu công nguyên rải rác ở các quốc gia vùng

Đông Nam á, nh-ng tập trung nhiều nhất vẫn là vùng Nam Bộ Việt Nam và bán đảo Mã Lai (trong đó có một phần là miền Nam Thái Lan ngày nay, đặc biệt là các pho t-ợng này có rất nhiều điểm t-ơng đồng, thậm chí có những tác

Trang 23

phẩm giống nhau một cách lạ lùng khiến ng-ời ta nghĩ rằng chúng phải có cùng một gốc

Trong số các pho t-ọng ấn Độ giáo có niên đại sớm, điển hình hơn cả

là những pho t-ợng thần Visnu mặc áo dài, không những xuất hiện với số l-ợng nhiều cả ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam mà chúng còn có rất nhiều điểm giống nhau Bên cạnh những điểm giống nhau đặc biệt về cách tạo thân hình, nét mặt cùng với những chi tiết của trang phục và đồ trang sức còn

có sự trùng lặp kỳ lạ ở cách cầm các vật đặc tr-ng trong tay các vị thần Theo nguyên lý tạo t-ợng thần Visnu truyền thống ở bán đảo Đông D-ơng, nếu pho t-ợng thần có bốn cánh tay thì bao giờ chiếc tù và - một trong các vật đặc tr-ng của các vị thần cũng nằm trong bàn tay phía sau, bên trái trong t- thế giơ cao ngang vai Nh-ng có một số pho t-ợng thần Visnu ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam lại phá bỏ truyền thống trên bằng cách chuyển cái tù và xuống bàn tay phía tr-ớc, bên trái ngang với hông pho t-ợng “Trong số các pho t-ợng đã đ-ợc tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam đều có những điểm t-ơng

đồng với những pho t-ợng thần Visnu ở Nam Thái Lan nh- mặc áo dài, trán dô với những nét thô, đeo trang sức hình l-ỡi liềm, và đặc biệt là bàn tay trái phía tr-ớc cầm tù và đặt ngang hông” [37, 71]

Ngoài những pho t-ợng thần Visnu, ở các pho t-ợng thần Surya tìm thấy rải rác ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam có niên đại sớm cũng thể hiện sự gần gũi giữa nghệ thuật Việt Nam và Nam Thái Lan So với t-ợng thần Visnu, t-ợng thần Surya không phổ biến lắm ở Đông Nam á Tuy nhiên, vẫn

có sự t-ơng đồng giữa những pho t-ợng loại này mà chúng đã đ-ợc phát hiện

ở Nam Thái Lan và Nam Bộ Việt Nam Điển hình hơn cả là pho t-ợng thần Surya bằng đá, cao 0,90m, đ-ợc phát hiện ở Bathê (An Giang), hiện đang để ở Bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh và t-ợng thần Surya ở Srrideb Thái Lan Cả hai pho t-ợng đều có khuôn mặt ngắn, hơi dẹt, hàng lông mày gồ cao

và điều đáng l-u ý là cùng đội loại mũ hình bát giác là kiểu mũ điển hình trong các pho t-ợng của nghệ thuật Srribed Thái Lan Bên cạnh đó, cả hai pho

Trang 24

t-ợng này cùng đeo một loại vòng cổ nặng, hơi loe ở phía tr-ớc là kiểu vòng phổ biến trên những pho t-ợng có niên đại sớm ở Nam bộ Việt Nam

Những pho t-ợng Phật giáo có niên đại sớm đ-ợc phát hiện ở Việt Nam không nhiều, song vẫn thấy đuợc sự gần gũi giữa chúng với những pho t-ợng Phật có niên đại sớm ở Thái Lan Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Đông D-ơng tỉnh Quảng Nam pho t-ợng Phật bằng đồng, cao 1,08m, đã đ-ợc xác

định vào khoảng thế kỷ V, là pho t-ợng Phật có niên đại sớm nhất trên đất Việt Nam ngày nay Nó có rất nhiều nét t-ơng đồng với pho t-ợng Phật ở Sdungai Golok tỉnh Naradhisava Nam Thái Lan “Điểm đáng l-u ý là trên cả hai pho t-ợng, tấm áo Cà sa đều có những nếp gấp tạo thành những đ-ờng gờ tròn có giá trị về mặt tạo hình” [37, 72]

Trên pho t-ợng Quan thế âm Bồ tát có niên đại sớm nhất ở Việt Nam

đã đ-ợc tìm thấy ở Rạch Giá, Kiên Giang, thấy rằng nó mang nhiều yếu tố của nghệ thuật Dvaravati (Trung Thái Lan) và nghệ thuật Srivịaya (Nam Thái Lan) Đây là pho t-ợng quan thế âm Bồ tát bằng đá, cao 1,68m, có niên đại vào cuối thế kỉ VI hoặc đầu thế kỉ VII “Pho t-ợng có một vẻ đẹp lộng lẫy,

đ-ợc tạc bằng trình độ kỹ thuật điêu luyện Nó mang phong cách của nghệ thuật Srivijaya với khuôn mặt đầy đặn và hàng lông mày tách nhau, đôi mắt hình hạnh nhân với cái cằm thanh tú, thân hình tròn đầy với đôi vai và cánh tay lớn, bộ ngực hẹp, các cơ bắp không thể hiện rõ Còn trên đầu đội chiếc mũ miện lộng lẫy có trang trí những hình bầu dục xen kẽ những hình vuông thì lại

là theo mô típ trang trí quen thuộc của nghệ thuật Dvaravati” [37, 73]

Từ một số điểm t-ơng đồng lí thú trong nghệ thuật tạo hình giữa hai nền nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ Thái Lan vào đầu thiên niên kỉ I mà các nhà khoa học đã nghiên cứu, cho phép chúng ta thừa nhận trên một chừng mực nhất định về sự tiếp xúc văn hoá giữa hai n-ớc Việt Nam

và Thái Lan ở thời kì tiền sử

Từ thiên niên kỉ hai trở đi, với sự xuất hiện của ng-ời Thái ở bán đảo

Đông D-ơng và ng-ời Việt tại phần Nam bán đảo đã khiến cho diện mạo văn

Trang 25

hoá của vùng này có nhiều biến đổi, và mối quan hệ văn hoá giữa các dân tộc

ở vùng này trong đó có Việt Nam và Thái Lan cũng biến đổi theo ở miền Bắc Việt Nam, mối quan hệ với văn hoá Thái Lan đ-ợc thể hiện giữa những nhóm ng-ời Thái ở Tây Bắc với những nhóm ng-ời Thái ở Thái Lan qua sự gần gũi

về mặt ngôn ngữ tộc ng-ời, thì ở miền Nam Việt Nam, mối quan hệ văn hoá với Thái Lan lại đ-ợc thể hiện trong nhóm ng-ời Khơme Nam Bộ qua sự tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa Thrêvada Bên cạnh đó, những ngôi chùa và đặc biệt

là những pho t-ợng Phật thích Ca ở Nam bộ Việt Nam là những chứng tích lịch sử về mối quan hệ với văn hoá Thái của đồng bào Khơme

Những ngôi chùa của đồng bào Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long có

sự gần gũi đáng kinh ngạc với những ngôi chùa ở một số vùng làng quê và thành thị Thái Lan, mặc dù chúng kém đồ sộ và lộng lẫy hơn Những nét t-ơng đồng đ-ợc thể hiện ở bộ mái nhiều tầng với những màu sắc nâu đỏ, xanh lá cây, vàng có Stupa nằm ở giữa, với những t-ợng Yak đứng canh hai bên cổng

Ngoài ra, chúng ta còn có thể bắt gặp một sự gần gũi mật thiết về nghệ thuật tạo hình trên các pho t-ợng Phật Thích ca của ng-ời Khơme với tr-ờng phái nghệ thuật Ayuthaya Thái Lan Đó là hai pho t-ợng Phật trang sức bằng

đồng trong tư thế đứng“ vô uý”, một pho ở bảo tàng lịch sử Kiên Giang và một pho ở một ngôi chùa thuộc huyện Châu Thành, Rạch Giá, Kiên Giang

Nếu quan sát bên trong ngôi chùa của đồng bào Khơme hiện nay, những pho t-ợng Phật tr-ng bày trên các điện thờ có rát nhiều nét t-ơng đồng với các t-ợng Phật của ng-ời Thái Lan Chúng có tư thế ngồi “ nhờ đất chứng giám” hoặc đứng trong tư thế “ vô uý”, những tư thế phổ biến của tượng Phật Thái Lan Cả pho t-ợng Phật trong t- thế ngồi th-ờng đ-ợc đặt trên một chiếc

bệ cao trang trí rực rỡ bằng những mô típ hình răng c-a, hoa lá, mạng l-ới, hạt ngọc, hay cánh hoa sen… Phía trước bệ lại có tấm thảm nhỏ mang hình ảnh của nữ thần Prah Thorani là loại bệ thịnh hành trong tr-ờng phái nghệ thuật Bănkok Thái Lan [37, 74]

Trang 26

Trên cơ sở các điều kiện mà chúng tôi đã trình bày, cùng với sự tiếp xúc văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan trên một chừng mực nhất định ở thời tiền

sử và sơ sử, trong thời kì hai n-ớc xây dựng và phát triển các nhà n-ớc phong kiến độc lập, sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc đã diễn ra và ngày càng có vai trò quan trọng đối với hai n-ớc Mặt khác, mối quan hệ nhân dân – nhân dân của hai bên đ-ợc hình thành từ sớm đã củng cố thêm cho sự giao l-u đó

Ngay từ tr-ớc khi v-ơng quốc Ayuthaya đ-ợc thành lập - nhà n-ớc mở

đầu cho lịch sử thời phong kiến thống nhất ở Thái Lan, các c- dân Thái đã

đóng thuyền v-ợt biển đến Đại Việt buôn bán Năm 1149, các thuyền buôn của Xiêm La và Lộ Lạc (tức La Hộc thuộc Thái Lan) đã vào vùng biển Hải

Đông (thuộc Quảng Ninh ngày nay) xin đ-ợc buôn bán Vua Lý Anh Tông đã cho họ ở lại ngoài đảo Vân Đồn và cho thiết lập trang Vân Đồn [92, 136] Vân

Đồn từ đó trở thành th-ơng cảng đầu tiên của Đại Việt và là đầu mối giao l-u kinh tế, cũng nh- nơi trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Thái Lan Trên cơ

sở các quan hệ về kinh tế, các quan hệ về chính trị và văn hoá đã đ-ợc thiết lập Các nguồn sử liệu của Việt Nam còn ghi lại : Năm 1182, d-ới thời Lý Cao Tông, vua Xiêm đã cử sứ thần sang Việt Nam xin đặt quan hệ ngoại giao [92, 146] Từ đó, các sứ thần của Xiêm La th-ờng sang Đại Việt nộp cống và dâng các tặng phẩm của ng-ời Thái đến ta D-ới thời Sukhothaya ở Thái Lan và thời nhà Trần ở Việt Nam, quan hệ hai n-ớc bị ngắt quãng do phải đối mặt với một mối đe doạ chung từ bên ngoài là đế quốc Nguyên - Mông ở phía Bắc, và hai n-ớc lại có những biện pháp đối phó khác nhau Sau thời kì này, mối quan

hệ Việt - Xiêm vẫn đ-ợc duy trì cho đến khi nhà Minh tiến hành cuộc xâm lăng Đại Việt

Sau khi v-ơng quốc Xukhôthay sụp đổ, v-ơng quốc Ayuthaya đ-ợc thiết lập - một quốc gia h-ng thinh và hùng c-ờng bậc nhất Thái Lan thời trung đại, nhất là d-ới triều đại vua Narai đại đế Nhà vua của Auythaya đã sai

sứ giả sang Đại Việt đặt quan hệ ngoại giao và trao đổi buôn bán, giao l-u văn hoá, đ-ợc vua Lê chấp thuận ở giai đoạn này, mối quan hệ Việt - Thái đ-ợc

Trang 27

thể hiện ở đa lĩnh vực: chính trị, kinh tế và văn hoá…Trong ức Trai thi tập,

Nguyễn Trãi có ghi lại rằng trong thời nhà Lê có lệnh cấm “ng-ời trong n-ớc không đ-ợc bắt ch-ớc ngôn ngữ và y phục của các n-ớc Ngô, Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước” [63, 4] Điều đó đã chứng

tỏ mối giao l-u văn hoá và ảnh h-ởng văn hoá qua lại giữa ng-ời Việt với các c- dân láng giềng, trong đó có Xiêm là khá đáng kể

Từ khi ng-ời Việt tiến xuống phía Nam, mối quan hệ hai n-ớc đã đ-ợc

đẩy mạnh hơn nữa Hai n-ớc Xiêm và Việt ngày càng trở thành đối tác của nhau trong rất nhiều lĩnh vực D-ới thời kì Trịnh - Nguyễn phân tranh, quan

hệ của Xiêm với n-ớc ta chủ yếu diễn ra vơí Đàng Trong do điều kiện giao thông thuận lợi hơn Các quan hệ có liên quan đến lợi ích kinh tế của hai bên

đã đ-a tới những tiếp xúc về văn hoá Đặc biệt là mối quan hệ văn hoá của hai n-ớc không còn đơn thuần chỉ là mối quan hệ mang tính tự phát mà bắt đầu

đã có sự quan tâm của nhà n-ớc

Trong các th- tịch cổ của Việt Nam, cũng nh- sử sách Thái Lan có ghi

đôi nét về sự có mặt của nhóm ng-ời Việt Nam đã đến n-ớc Xiêm thời kỳ Ayuthaya Họ đến đây bằng đ-ờng biển từ đất Nam bộ Việt Nam và định c- thành làng xóm xung quanh ngoại vi của kinh thành Ayuthaya Họ phần lớn là các tín đồ Thiên chúa giáo, phải rời bỏ quê h-ơng đến Thái Lan do vào đầu thế kỷ XVII ở Đại Việt, sự mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh và Nguyễn ngày càng thêm quyết liệt nên đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Cũng vào lúc này, các giáo sĩ Bồ Đào Nha lại đang ráo riết hoạt động truyền đạo Thiên chúa giáo ở n-ớc ta, trong khi đó, chính quyền Trịnh - Nguyễn nhiều lần ra lệnh cấm đạo và trục xuất giáo sĩ Khi bị trục xuất, họ đã

dụ dỗ đ-ợc nhiều gia đình nông dân Nam Bộ theo họ xuống thuyền v-ợt biển sang bờ vịnh Thái Lan, sau đó tiến sâu vào Ayuthaya D-ới thời của v-ơng triều Narai, ông có tầm nhìn rộng trong việc đánh giá tầm quan trọng của cộng đồng ng-ời n-ớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế và văn hoá của đất

Trang 28

n-ớc, vì thế ng-ời Việt Nam không bị cản trở mà còn đ-ợc hoan nghênh [64, 53]

D-ới thời kì v-ơng triều Thônburi (1768-1782) ở Thái Lan cũng đã có

đoàn ng-ời là gia quyến và thuộc hạ của chúa Nguyễn Ph-ớc Xuân, sau khi chống Tây Sơn thất bại đã sang đây xin n-ơng nhờ Cùng thời đó, còn có đoàn thuyền của Mạc Thiên Tứ (Trấn thủ Hà Tiên) cũng đ-a gia quyến sang cầu cứu triều đình Thônburi Cả hai doàn ng-ơì này đã đ-ợc l-u lại ở xã Bangphô

và Noỏng rahổn, tức khu Phahurắt sầm uất ngày nay

Năm 1782, sau khi Nguyễn Phúc ánh, hay Nguyễn ánh, mà ng-ời Thái Lan quen gọi là ông Chiêng Xử, cháu Nguyễn Phứơc Xuân bị quân Tây Sơn

đánh bại ở Sài Gòn, Gia Định, cũng đã đ-a mẹ và gia quyến cùng số đông thuộc hạ xuống thuyền theo đ-ờng biển sang Thái Lan xin đ-ợc lánh nạn Vua Rama I đã thu xếp cho Nguyễn ánh cùng gia quyến ở làng Xămôông, xã Krab-, và ban cho vật dụng, tiền của Đoàn thuộc hạ của Nguyễn ánh cũng

đ-ợc vua Xiêm tuỳ theo chức vị bổ sung vào các ngạch do các cấp hành chính hoàng gia quản lý Liền năm sau đó, những ng-ời Việt Nam trung thành với Nguyễn ánh từ Nam Bộ Việt Nam chạy sang ngày một đông, khoảng 1000 ng-ời Vua Rama I đã cho Nguyễn ánh đ-a gia quyến và đoàn thuộc hạ đến xã Khoọc Luổng ngoài khu hoàng cung Bangkok Nguyễn ánh đã gả em họ mình là công chúa Ngọc Thông (Con gái chúa Nguyễn Ph-ớc Xuân) cho vua Rama I để tỏ lòng biết ơn Trong thời kì Nguyễn ánh ở Xiêm, ngoài một số hoạt động quân sự là các hoạt động văn hoá của lớp ng-ời Việt ẩn náu ở Xiêm trong giai đoạn này Do đ-ợc t-ớc phong của triều đình Xiêm nên Nguyễn ánh th-ờng xuyên đ-ợc dự các buổi thiết triều của hoàng gia Xiêm Loại hình nghệ thuật này tồn tại đến triều vua Rama V mới thực sự cải biên thành vũ nhạc cung đình Thái Lan Ngoài ra, cũng theo yêu cầu tìm hiểu gia tộc chúa Nguyễn kể từ chúa Nguyễn Hoàng đến giai đoạn bị quân Tây Sơn

Trang 29

đánh bại chạy sang Xiêm Trong biên niên sử triều vua Rama I còn một số

đoạn trích về lịch sử gia tộc nhà Nguyễn [64, 67]

ở giai đoạn lịch sử này, việc vua Xiêm cho ng-ời Việt sang lánh nạn không phải không có ý nghĩa trong mối quan hệ giữa hai n-ớc Một mặt, nó củng cố thêm tình nghĩa gắn bó giữa hai n-ớc Việt và Thái thời kì phong kiến Bên cạnh đó, những hoạt động văn hóa của ng-ời Việt ở Xiêm cũng đánh dấu thêm vào sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan, đồng thời tạo tiền

đề cho sự di c- của ng-ời Việt sang Thái Lan ở các thời kì lịch sử sau

Từ 1802, sau khi Nguyễn ánh lên ngôi lập ra triều Nguyễn, quan hệ Việt - Xiêm thật sự trở nên gần gũi và thân thiết Vua Gia Long th-ờng xuyên gửi lễ vật cho vua Xiêm để tỏ lòng biết ơn 4 năm n-ơng náu Trong suốt thời trị vì của Gia Long và Minh Mạng ở giai đoạn đầu triều Nguyễn, Việt Nam và Xiêm th-ờng xuyên cử nhiều sứ đoàn ngoại giao lui tới tặng ph-ơng vật nhằm vun đắp tình giao hảo Quan hệ chính trị - bang giao tốt đẹp giữa hai triều đại, hai nhà n-ớc phong kiến Việt - Xiêm d-ới thời Gia Long đã thúc đẩy mạnh

mẽ quá trình tiếp xúc, đi lại, trao đổi, buôn bán của nhân dân hai n-ớc Các vua triều đại Chăc-ri th-ờng khuyến khích ng-ời Việt Nam sang Xiêm làm ăn sinh sống , và động viên một số binh lính ng-ời Việt gia nhập vào đội quân của Xiêm Do đó, thời này đã có một bộ phận sang Xiêm sinh sống ở tại thành phố Huế hiện nay còn có nhiều dấu tích về quan hệ Việt – Xiêm ở thời kì này Trong đó có 3 ngôi mộ cải táng đ-a từ Xiêm về mà có 2 ngôi còn ghi

rõ năm mất ở Xiêm và ngày cải táng đ-a về Huế [8, 107]

Các vua Nguyễn nhất là Gia Long và Minh Mạng th-ờng quan tâm đến phong tục, tập quán, đạo giáo, thành quách, cung điện của Xiêm thông qua các phái bộ của ta và ng-ời Việt ở Xiêm lâu năm Đặc biệt là mối quan hệ văn hoá của hai n-ớc không còn đơn thuần chỉ là mối quan hệ mang tính tự phát

mà bắt đầu đã có sự quan tâm của nhà n-ớc Năm 1836, nhà Nguyễn đã sai

Trang 30

học sinh n-ớc ta theo học tiếng Xiêm, cho định kì thi sát hạch cho cả thầy lẫn trò [5, 47]

Tiểu kết ch-ơng 1 :

Nh- vậy, ở ch-ơng 1 chúng tôi đã nghiên cứu về các tiền đề đã đặt cơ

sở cho sự hình thành mối quan hệ nói chung và sự giao l-u văn hoá nói riêng giữa Việt Nam và Thái Lan trong lịch sử Sự thuận lợi về vị trí địa lý giữa Việt Nam và Thái Lan giúp cho các mối quan hệ và sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc đ-ợc hình thành sớm, đồng thời đó luôn là nhân tố thuận lợi trong suốt quá trình giao l-u văn hoá giữa hai quốc gia Sự t-ơng đồng về điều kiện

tự nhiên và cơ sở kinh tế làm cho nhận thức và thái độ của ng-ời Việt và ng-ời Thái đối với tự nhiên và xã hội trở nên gần gũi với nhau hơn, góp phần làm cho mối quan hệ và sự giao l-u văn hoá trở nên dễ dàng hơn Cơ sở và quá trình phát triển văn hoá của Việt Nam và Thái Lan có nhiều điểm t-ơng đồng nhau, nên trong quá trình tiếp biến văn hoá sẽ hạn chế tối đa những mâu thuẫn

về văn hoá, đồng thời duy trì tính ổn định t-ơng đối trong sự giao l-u văn hoá giữa hai dân tôc Các quan hệ đồng tộc và những liên hệ c- dân trong lịch sử giữa Việt Nam và Thái Lan khiến cho nhân dân hai n-ớc thêm gần gũi và tăng c-ờng sự hiểu biết lẫn nhau Quá trình giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc tr-ớc năm 1976 là một phông nền rộng lớn cho quan hệ và sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc phát triển cao hơn ở những thời kì lịch sử tiếp theo Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, tất cả những nhân tố ấy vẫn giữ nguyên giá trị trong sự giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan ngày hôm nay, và luôn là một

điều kiện cần thiết với ý nghĩa tăng c-ờng sự giao l-u và hiểu biết lẫn nhau, hạn chế mâu thuẫn trong quá trình tiếp biến, đồng thời củng cố tính th-ờng xuyên và liên tục trong các mối quan hệ đó

Trang 31

Ch-ơng 2

Giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan

từ 1976 đến nay

2.1 Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1976 đến 1989

Ngày 6/8/1976, quan hệ ngoại giao Việt Nam - Thái Lan đ-ợc thiết lập trở lại Về mặt hình thức, sự kiện này đ-ợc xem là mốc bắt đầu cho thời kì hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển giữa hai nước Việt Nam và Thái Lan Song những mâu thuẫn giữa hai n-ớc trong vấn đề Campuchia đã làm cho quan hệ Việt Nam và Thái Lan về cơ bản vẫn ở trong trạng thái đối đầu Ngoài ra, những can thiệp từ bên ngoài chi phối đ-ờng lối ngoại giao của hai nuớc ở giai

đoạn này vẫn ch-a mất hẳn Do đó, quan hệ hai n-ớc một lần nữa lại bị chệch khỏi h-ớng tích cực mà nó cần phải đi tới Nhìn chung, quan hệ Việt Nam - Thái Lan ở giai đoạn này mang tính chất quá độ từ đối đầu sang cải thiện mối quan hệ

Sau năm 1976, Việt Nam và Thái Lan đã có được những nỗ lực trong việc cải thiện mối quan hệ hai bên Các hoạt động ngoại giao song ph-ơng đã

được cải thiện và bắt đầu diễn ra khá th-ờng xuyên Những nỗ lực đã đ-a lại một số kết quả Cuối năm 1977, đầu năm 1978, Bộ tr-ởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh n-ớc ta đã thực hiện cuộc đi thăm hữu nghị một số nứơc ở Đông Nam á, trong đó có Thái Lan Ngày 11/1/1978, trong chuyến đi thăm Thái Lan của Bộ tr-ởng Nguyễn Duy Trinh, hai bên đã ký kết một số hiệp định hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật Đồng thời, các nguyên tắc thiết lập

Trang 32

quan hệ trong lĩnh vực vô tuyến viễn thông và b-u điện giữa hai n-ớc cũng đã

đ-ợc thoả thuận Cơ quan đại diện đã đ-ợc mở ở Hà Nội và Bangkok cho thấy nhu cầu duy trì liên lạc th-ờng xuyên giữa hai n-ớc Từ 24 đến 31/7/1978, thứ tr-ởng ngoại giao Thái Lan Vong Phonnicon đã đến Việt Nam nhằm tăng c-ờng quan hệ và giải quyết những vấn đề còn lại theo tinh thần của Thông cáo chung 8/6/1976 và 12/1/1978 Đỉnh cao nhất của quan hệ Việt Nam – Thái Lan thời gian này là chuyến đi thăm Thái Lan của thủ t-ớng Phạm Văn

Đồng từ ngày 6 đến 10/9/1978 - một chuyến đi mà thủ t-ớng Criêngxax Chomanan đánh giá là “ một bước tiến lịch sử góp phần xây dựng cơ sở vững chắc nhằm tăng c-ờng tình hữu nghị hai nước” [40, 86]

Sau khi quan hệ chính trị đ-ợc khai thông, dù vẫn còn nhiều thận trọng, song các liên hệ về kinh tế giữa hai n-ớc đã trở nên sôi động Bên cạnh đó là một số các hoạt động về văn hoá Nhiều hoạt động mang ý nghĩa văn hóa cao

đã đ-ợc triển khai trên thực tế giữa hai n-ớc thông qua các chuyến đi thăm và làm việc của các đoàn đại biểu hai n-ớc: Đoàn báo chí Thái Lan sang Việt Nam (15 đến 23/11/1978), Đoàn báo chí Việt Nam sang Thái Lan (Cuối 1978

đầu 1979), Đoàn nghệ thuật ca múa nhạc Việt Nam sang Thái Lan (tháng 9/1978)…

Quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan ch-a đ-ợc cải thiện bao lâu thì tháng 1/1979, “ vấn đề Campuchia” bùng nổ với việc quân tình nguyện Việt Nam tiến vào Phnôm Pênh với mục đích lật đổ chế độ diệt chủng của Khơme

Đỏ, khiến cho quan hệ Việt Nam- Thái Lan lại b-ớc vào một thời kì thử thách mới Từ năm 1979 đến 1989, quá trình quan hệ giữa hai n-ớc tồn tại cả hai xu h-ớng đối đầu và cải thiện đan xen Nếu ở giai đoạn 1979-1985, sự đối đầu chiếm -u thế tuyệt đối, thì từ 1985 đến 1989, xu h-ớng đối đầu giảm đi, xu h-ớng cải thiện tăng lên Từ năm 1985 đã bắt đầu xuất hiện những cơ hội và

điều kiện mới cho việc chấm dứt Chiến tranh Lạnh Đông Nam á nói chung, quan hệ Việt Nam – Thái Lan nói riêng cũng chịu ảnh h-ởng sâu sắc của các diễn biến này Do đó, sự đối đầu giảm bớt, xu thế hoà dịu và tăng c-ờng đối

Trang 33

thoại tăng dần Có thể nói, xu h-ớng cải thiện quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong giai đoạn này diễn ra nhiều trên lĩnh vực kinh tế, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Thái Lan đã bắt đầu tăng tr-ởng đều đặn Từ nhu cầu về kinh tế

đã mở đ-ờng cho sự nối lại đối thoại giữa chính phủ hai n-ớc Ngày 21/4/1986, cuộc gặp ngoại tr-ởng hai n-ớc Sitthi và Nguyễn Cơ Thạch đã

đ-ợc nối lại sau 3 năm gián đoạn Tại cuộc gặp này, hai bên đã thoả thuận tăng c-ờng tiếp xúc để giải quyết các vấn đề song ph-ơng Cùng đó, các nỗ lực cải thiện mối quan hệ của hai bên xung quanh “vấn đề Campuchia” cũng

đ-ợc vận động theo chiều h-ớng tích cực Sự kiện chính thức đánh dấu sự chấm dứt bất đồng Việt Nam- Thái Lan về vấn đề Campuchia và mở sang trang mới trong quan hệ hai n-ớc là việc chính phủ Xatxai Chunnhavan lên cầm quyền tháng 8/1988 và việc quân tình nguyện Việt Nam rút hoàn toàn ra khỏi Campuchia vào tháng 9/1989 Cuối cùng, quan hệ Việt Nam – Thái Lan cũng v-ợt qua đ-ợc những thách thức và đi tới cái đích của tiến trình quan hệ

là hợp tác và phát triển

2.2 Giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan từ 1989 đến nay

Năm 1989 coi nh- mốc kết thúc hoàn toàn những năm tháng đối đầu trong mối quan hệ Việt Nam và Thái Lan với sự kết thúc của vấn đề Cam puchia Từ đây đã mở ra thời kỳ cải thiện quan hệ, hợp tác và phát triển trong quan hệ hai n-ớc, trong đó có quan hệ về văn hoá Càng ngày, sự hợp tác trên tất cả mọi lĩnh vực giữa hai n-ớc Việt Nam và Thái Lan càng đ-ợc đẩy mạnh;

đồng thời các hoạt động giao l-u văn hoá hai bên ngày càng tăng cả về số l-ợng và chất l-ợng

2.2.1 Các nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ sự giao l-u văn hoá Việt Nam

- Thái Lan từ 1989 dến nay.

Việt Nam và Thái Lan kết thúc đối đầu, b-ớc sang thời kì củng cố mối quan hệ hữu nghị trên tinh thần hợp tác cùng phát triển

Có nhiều nhân tố tác động làm thay đổi cơ bản quan hệ Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn này:

Trang 34

Thứ nhất, sự chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã làm mất đi trật tự hai cực với những đối đầu về ý thức hệ và an ninh chính trị đã từng chia

rẽ sâu sắc cả thế giới Sự thay đổi này đã làm mất đi một nguồn của xung đột giữa các n-ớc trong khu vực Đông Nam á Chiến tranh lạnh và trật tự hai cực chấm dứt đã làm cho cuộc tranh giành quyền lực giữa chúng không còn đè nặng lên các n-ớc ở Đông Nam á, trong đó có Thái Lan và Việt Nam Xung quanh tr-ờng quan hệ Việt Nam và Thái Lan đã mất đi các lực đối đầu chia rẽ nh- tr-ớc đây, tạo điều kiện cho hai bên có cơ hội để giải quyết mâu thuẫn và xích lại gần nhau hơn

Thứ hai, việc quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia tháng 9/1989 đã xoá đi lý do đối đầu chính trong quan hệ Việt Nam và Thái Lan,

đồng thời tâm điểm căng thẳng trong quan hệ quốc tế ở Đông Nam á cũng không còn Ngày 10/11/1989, ngoại tr-ởng Thái Lan Sitthi đã tuyên bố: “ Việt Nam không còn là mối đe doạ đối với Thái Lan nữa” [40, 144] Điều này đ-ợc khẳng định thêm qua tuyên bố của Sitthi tại Uỷ ban đối ngoại Quốc hội Thái Lan ngày 17/1/1990 rằng “ Thái Lan sẽ mở rộng hợp tác tay đôi với Việt Nam

mà khong chờ có một giải pháp cho vấn đề Campuchia” [40, 145] Nh- vậy, những năm tháng đối đầu giữa Việt Nam và Thái Lan do mâu thuẫn trong vấn

đề Campuchia đã kết thúc, mở ra cánh cửa cho thời kì củng cố lại mối quan hệ hữu nghị và tăng c-ờng sự hợp tác toàn diện giữa hai n-ớc

Thứ ba, sau khi quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia, vấn đề Campuchia đã đ-ợc giải quyết và sự bất đồng giữa Viêt Nam và Thái Lan xung quanh vấn đề này cũng không còn Bên cạnh đó, Việt Nam và ASEAN

đa tìm đ-ợc tiếng nói chung trong vấn đề Campuchia, các mâu thuẫn còn tồn

đọng giữa Việt Nam và các nuớc ASEAN đã đ-ợc giải quyết bằng thái độ thiện chí và biện pháp th-ơng l-ợng Ngày 22/7/1992, tại Manila (Philipin), Việt Nam đã kí hiệp -ớc Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN Ngày 28/7/1995, tại thủ đô Banda Beibegawan của Brunây, Việt Nam đã chính thức

Trang 35

trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN Sự kiện này đã đ-a quan hệ Việt Nam với các thành viên của ASEAN, trong đó có Thái Lan lên một tầm cao mới, trong đó, sự hoà dịu và hợp tác đã chiếm -u thế hoàn toàn

Thứ t-, sự thay đổi về tính chất trong quan hệ Việt Nam và Thái Lan còn bắt nguồn từ sự nhận thức cần phải thay đổi mối quan hệ vì mục tiêu phát triển đất n-ớc của cả Việt Nam và Thái Lan trong thời đại mới với xu thế toàn cầu hoá Về phía Thái Lan, nhu cầu duy trì đà tăng tr-ởng đã khiến việc hợp tác kinh tế với Việt Nam trở thành lợi ích quan trọng của Thái Lan Còn về phía Việt Nam, yêu cầu củng cố môi tr-ờng an ninh, ổn định để tăng c-ờng phát triển đất n-ớc trong thời kì đổi mới đã trở thành nhiệm vụ cơ bản của đất n-ớc Chính sách đối ngoại của Việt Nam đã đ-ợc thông qua tại Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam là “ Việt Nam muốn làm bạn của tất cả các nuớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Do cùng có chung động cơ phát triển, Việt Nam và Thái Lan có thêm động lực để cải thiện lại mối quan hệ, dần chuyển từ đối đầu sang đối thoại

Nh- vậy, trên đây là những nhân tố chủ yếu giúp cho mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan ngày càng đựoc cải thiện nhanh chóng kể từ năm 1989 trở đi, trong đó định h-ớng cơ bản và bao trùm là hoà bình, hữu nghị và hợp tác cùng phát triển

Sự củng cố mối quan hệ hữu nghị giữa hai n-ớc Viẹt Nam và Thái Lan

đ-ợc biểu hiện cụ thể thông qua các hoạt động thăm hỏi cấp cao giữa các nguyên thủ quốc gia của cả hai nứơc kể từ năm 1989 đến nay

Từ ngày 15 đến ngày 17/1/1992, Thủ t-ớng Anan Panyarachun của Thái Lan đã sang thăm Việt Nam Đây là chuyến đi đầu tiên của Thủ t-ớng Thái Lan sang n-ớc ta kể từ khi hai n-ớc thiết lập quan hệ ngoại giao năm

1976 Từ ngày 25/7/1992, Thủ t-ớng Võ Văn Kiệt đã có chuyến thăm Thái Lan nhằm tăng c-ờng sự hiểu biết giữa giới lãnh đạo của chính phủ hai n-ớc Trong giai đoạn này, có nhiều chuyến thăm hỏi để lại nhiều ấn t-ợng sâu sắc, nh- chuyến thăm hữu nghị Việt Nam của công chúa Maha Chaccrisirinthon

Trang 36

vào tháng 2/1993, hay chuyến đi thăm Thái Lan lần đầu tiên của Tổng bí th-

Đảng Cộng Sản Việt Nam Đỗ M-ời từ ngày 15 đến 18/10/1993 Các chuyến thăm hỏi trên của chính phủ hai n-ớc chứng tỏ rằng mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan đã phát triển khá tốt đẹp và không còn gì trở ngại

Cùng với các quan hệ cấp chính phủ là sự phát triển quan hệ giữa quốc hội hai n-ớc, với sự mở đầu là chuyến di thămThái Lan của Chủ tịch quốc hội Việt Nam Lê Quang Đạo (13 đến 20/9/1990) Sự thiết lập mối quan hệ giữa hai cơ quan quyền lực này có ý nghĩa tạo cơ sở và tăng c-ờng sự hợp tác giữa các cơ quan hành pháp hai n-ớc trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đồng thời, mối quan hệ này đã làm tăng khả năng thiết lập quan hệ toàn diện và vững chắc giữa hai n-ớc

Từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN- ngôi nhà chung của các quốc gia

Đông Nam á, quan hệ song ph-ơng giữa Việt Nam và Thái Lan hoà trong mối quan hệ của khu vực Trên cơ sở những quan hệ đã đ-ợc tạo dựng và củng cố

ở giai đoạn tr-ớc đó, mối quan hệ hai n-ớc Việt - Thái kể từ khi Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN là quá trình tăng c-ờng sự hợp tác, một sự hợp tác ngày càng toàn diện và chặt chẽ Các quan hệ thăm hỏi giữa giới lãnh

đạo hai n-ớc vẫn đ-ợc duy trì ở mức độ cao Bất chấp những thay đổi trên chính tr-ờng Thái Lan, các đời thủ t-ớng dù dài hay ngắn đều có những chuyến đén thăm ngoại giao Việt Nam Khụng lõu sau lề kết nạp Việt Nam vào ASEAN, ngày 30/8/1995, Phú thủ tướng Thỏi Lan Somboun Rahong đó đến Việt Nam Sau đú một thỏng là chuyến đi Việt Nam của Thủ tướng Thỏi Lan Banhan Sipla Acha (1/10/1995) Thỏng 12/1998, Thủ tướng Chuan Lịchphai cũng đó thăm Việt Nam Ngày 25/4/2001, Thủ tướng Thakssin cũng

đó thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiờn là đến Việt Nam

Bên cạnh đó là những chuyến đi thăm Thái Lan của các đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam Đầu tiờn là chuyến đi thăm của Thủ tướng Vừ Văn Kiệt đến Bangkok thỏng 12/1995 Thỏng 10/1998, Chủ tịch Trần Đức Lương đó đi

Trang 37

thăm Thỏi Lan để thể hiện lũng tin và chứng tỏ khả năng của mối quan hệ này đối với sự nghiệp phỏt triển của mỗi nước Trong một chừng mực nào đú, những chuyến đi thăm này đó bày tỏ thỏi độ tiếp tục coi trọng mối quan hệ Việt Nam – Thỏi Lan của ban lónh đạo mới

Quan trọng hơn cả là cuộc họp Nội các chung tại thành phố Đà Nẵng (Việt Nam) và tỉnh Nakhon Phanom (Thái Lan) từ ngày 20 đến 21/2/2004 của

đoàn đại diện chính phủ hai n-ớc Phía Việt Nam do Thủ t-ớng chính phủ Phan Văn Khải dẫn đầu và đoàn đại diện Chính phủ v-ơng quốc Thái Lan do Thủ t-ớng Thạc xỉn Xin na vắt dẫn đầu Cuộc họp nội các đã thành công rực

rỡ Đây là sự kiện có ý nghĩa mở ra một trang sử mới giữa hai n-ớc: hợp tác, bình đẳng, toàn diện, đôi bên cùng có lợi, vì lợi ích phát triển và ổn định lâu dài của hai n-ớc

Các hoạt động chính trị ngoại giao của hai nhà n-ớc Việt Nam và Thái Lan cho thấy mối quan hệ giữa hai n-ớc ngày càng đ-ợc củng cố bền chặt và vững vàng hơn Điều đó có ý nghĩa không nhỏ trong việc tạo niềm tin lẫn nhau và vun đắp tình cảm giữa hai n-ớc ngày một sâu sắc Đó là nền tảng cho

sự hợp tác toàn diện giữa hai bên, từ kinh tế, chính trị- xã hội đến văn hoá Mặt khác, thông qua các hoạt động thăm hỏi cấp cao của Việt Nam và Thái Lan cũng đã tạo ra tr-ờng hoạt động cho sự hợp tác trên mọi lĩnh vực giữa hai quốc gia Thông qua các hoạt động ngoại giao đó, hai bên đã đi đến thống nhất sự hợp tác trên nhiều lĩnh vực Trên lĩnh vực văn hoá, các hợp tác mang tính chuyên môn đã đ-ợc triển khai giữa các Uỷ ban của quốc hội hai n-ớc

Trên cơ sở mối quan hệ hữu nghị giữa hai n-ớc Việt Nam và Thái Lan, Chính phủ Thái Lan đã có nhiều chính sách cởi mở hơn với cộng đồng ng-ời Việt kiều ở Thái Lan Công việc làm ăn sinh sống của Việt kiều ở Thái Lan

do đó mà thuận lợi và dễ chịu hơn nhiều so với tr-ớc đây Trong cuộc sống hòa đồng xã hội ở Thái Lan, ng-ời Việt kiều Thái Lan đ-ợc sự quan tâm của chính phủ hai n-ớc ngày càng phát huy mình trong vai trò làm nhịp cầu nối

Trang 38

cho mối quan hệ Việt Nam - Thái Lan cũng nh- góp phần thúc đẩy sự giao l-u văn hoá giữa hai n-ớc

Việt Nam và Thái Lan đã cùng nhau kí kết các hiệp định về văn hoá, trực tiếp thúc đẩy sự hợp tác văn hoá giữa hai n-ớc

Kể từ khi Việt Nam và Thái Lan b-ớc vào quan hệ hoà dịu, hợp tác cùng phát triển, việc tăng c-ờng sự hiểu biết về văn hoá lẫn nhau và đẩy mạnh hợp tác hai bên trên các lĩnh vực văn hoá luôn là vấn đề đ-ợc hai nhà n-ớc quan tâm Điều đó đã đ-a tới việc kí kết hiệp định hợp tác văn hoá giữa hai

n-ớc vào ngày 8/8/1996

Thời gian qua, hàng loạt các hiệp định hợp tác trên các lĩnh vực chuyên môn giữa hai n-ớc cũng đã đ-ợc kí kết, nh- hiệp định hợp tác về Khoa học, công nghệ và môi trường, …Chúng là cơ sở cho việc triển khai các hoạt động hợp tác chuyên môn giữa hai n-ớc

Sự thành lập các Hội hữu nghị và hoạt động của các hội này nhằm tăng c-ờng hoạt động văn hoá

Từ sau năm 1989, để củng cố hơn nữa tỡnh hữu nghị giữa hai nước, tai Việt Nam, cỏc hội hữu nghị Thỏi - Việt đó được thành lập Ngày 25/10/1996, UBND Thành phố Hà Nội đó ra quyết định thành lập Hội hữu nghị Việt Nam

- Thỏi Lan thành phố Hà Nội Ngày 5/6/1999, Hội hữu nghị Việt Nam - Thỏi Lan thành phố Hồ Chớ Minh cũng đó được thành lập Cỏc hội trờn là cơ sở để phối hợp với nước bạn tuyờn truyền và tổ chức cỏc hoạt động giao lưu văn hoỏ hết sức hữu ớch giữa nhõn dõn Việt Nam và Thỏi Lan, giỳp tăng cường thờm sự hiểu biết về nhau, đồng thời cũn tạo điều kiện cho cỏc cỏn bộ, chuyờn gia của hai nước thuộc cỏc lĩnh vực khoa học, giỏo dục, du lịch… cựng nhau hợp tỏc, trao đổi thụng tin, gúp phần vào sự phỏt triển của kinh tế và văn hoỏ của cả hai nước

Tại Thỏi Lan, Hội hữu nghị Thái - Việt cũng đã đ-ợc thành lập Sau đó, tới năm 2006, Hội Văn hoỏ Thỏi - Việt được thành lập cũng với mục đớch

Trang 39

nhằm tăng cường giao lưu văn hoỏ giữa hai quốc gia trờn mọi mặt, chẳng hạn như văn học nghệ thuật, văn hoỏ ẩm thực…Hội cũn tạo điều kiện để tổ chức cỏc hoạt động văn hoỏ cú liờn quan đến Việt Nam trờn đất nước Thỏi Lan

Nh- vậy, từ năm 1989 đến nay đã có hàng loạt những nhân tố hết sức thuận lợi tác động đến hoạt động giao l-u văn hoá giữa Việt Nam và Thái Lan Chúng đã có ý nghĩa hết sức quan trọng để tạo nên một giai đoạn có sự phát triển mạnh mẽ về giao l-u văn hoá của hai quốc gia

2.2.2 Các biểu hiện của sự giao l-u văn hoá Việt Nam - Thái Lan

Các buổi giao l-u văn hoá nghệ thuật nhằm củng cố tình hữu nghị giữa hai n-ớc th-ờng đ-ợc tổ chức hết sức công phu với sân khấu hoành tráng và th-ờng để lại rất nhiều ấn t-ợng tốt đẹp cho nhân dân hai n-ớc Họ đã giới thiệu cho nhau những tiết mục mang đậm chất truyền thống của dân tộc mình Năm 2007, kỷ niệm 31 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai n-ớc Việt Nam - Thái Lan, tối ngày 10/9, dàn nhạc giao h-ởng quốc gia Thái Lan d-ới

sự chỉ huy của nhạc tr-ởng danh tiếng sathaporn Niyomtong đã có buổi biểu diễn tại nhà hát lớn Hà Nội Trong ch-ơng trình, dàn nhạc đã mang đến những sáng tác cổ điển mang đậm dấu ấn truyền thống hoàng gia của đất n-ớc Thái

Trang 40

Lan, đặc biệt ng-ời nhạc công tài hoa Taweesak Akarawong đã thể hiện rất thành công tiết mục với cây đàn Ranedek- một loại đàn truyền thống của Thái Lan

Tối ngày 29/5/2009, tại khu du lịch Đại Nam, Bình D-ơng đã diễn ra

ch-ơng trình Duyên dáng truyền hình ASEAN 2009, với sự tham dự của 10

n-ớc Thông qua ch-ơng trình này, các n-ớc sẽ giới thiệu về văn hoá và phong tục của họ với những tiết mục nghệ thuật mang tầm khái quát cao Việt Nam

và Thái Lan đã tham gia trong ch-ơng trình này với các hoạt động quảng bá nghệ thuật hết sức đặc sắc Ch-ơng trình có ý nghĩa giao l-u văn hoá, giới thiệu về văn hoá các n-ớc thông qua tài năng biểu diễn nghệ thuật (ca hát, múa, ảo thuật…) của 23 người đẹp đại diện cho các nước Đây cũng là dịp để Việt Nam quảng bá văn hoá, du lịch đến thế giới nói chung, Thái Lan nói riêng thông qua những th-ớc phim ghi lại những hình ảnh đẹp trong hành trình tham quan, khám phá danh lam, thắng cảnh, các hoạt động văn hoá của các ng-ời đẹp trong những ngày l-u tại Việt Nam

Ngoài các ch-ơng trình giao l-u nghệ thuật lớn giữa Việt Nam và Thái Lan, hầu nh- trong mọi hoạt động giao l-u khác nh- các cuộc hội thảo, lễ kỷ niệm hay triển lãm sản phẩm… đều kèm theo các tiết mục nghệ thuật đặc sắc

do các nghệ nhân Việt Nam và Thái Lan biểu diễn Chẳng hạn trong các cuộc triển lãm th-ơng mại hàng hoá Thái Lan ở Việt Nam đ-ợc tổ chức hàng năm

từ năm 2001 đến nay, đều kèm theo các ch-ơng trình văn nghệ mang đậm tính dân tộc của Thái Lan Trong “Ngày Thỏi Lan” được tổ chức vào ngày 29/11/2008 tại Hà Nội do Đại sứ quỏn Vương Quốc Thỏi phối hợp với cộng đồng người Thỏi ở Hà Nội, bờn cạnh việc trưng bày cỏc mún ẩm thực đặc trưng của người Thỏi, cỏc đồ thủ cụng mỹ nghệ truyền thống… cũn diễn ra cỏc hoạt động văn hoỏ nghệ thuật như biểu diễn mỳa hỏt dõn gian Thỏi và cỏc trũ chơi dõn gian của Thỏi

Thời gian qua, các tr-ờng Trung học và Đại học hai n-ớc cũng th-ờng

tổ chức các buổi giao l-u văn nghệ nhằm chào mừng các ngày lễ lớn

Ngày đăng: 16/10/2021, 18:37

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w