Nghệ thuật Điêu khắc

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 103 - 111)

CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP BIẾN ẢNH HƯỞNG HY LẠP CỔ ĐẠI TRONG VĂN HÓA ẤN ĐỘ

2.2. Ảnh hưởng Hy Lạp đối với mỹ thuật Ấn Độ

2.2.1. Nghệ thuật Điêu khắc

2.2.1.1. Nghệ thuật điêu khắc tượng tròn, nghệ thuật Gandhara

Về nghệ thuật điêu khắc, đức Phật và Bồ tát được miêu tả bằng người, trong hình dạng của thần Apollo, trong trang phục đắp y ướt đầu tiên xuất hiện ở trường phái Gandhara, sau đó ảnh hưởng đến trường phái nghệ thuật Mathura và Gupta. Một số vị thần Hy Lạp như thần Heracles và thần Atlas cũng được mô tả trong nghệ thuật Gandhara.

Tọa lạc ở gần cửa khẩu phía Tây Bắc Ấn Độ, Gandhara có nhiều cơ hội tiếp xúc với nước ngoài trong thời gian dài. Người dân ở vùng biên giới thường xuyên tiếp xúc với người Ba Tư, Hy Lạp, Sakas, Pathian (An Tức) và Yueh-chi (Nguyệt Chi) và thêm vào đó những tộc người này cũng đến và định cư ở nơi đây nên việc giao thoa văn hóa và ngôn ngữ diễn ra là điều tất yếu. Điều này đã làm cho Gandhara trở thành khu vực đa văn hóa và đa ngôn ngữ. Do đó nghệ thuật Gandhara bộc lộ khá rõ nét các yếu tố nước ngoài, đặc biệt yếu tố văn hóa Hy Lạp cổ đại. Nghệ thuật Gandhara phát triển mạnh nhất vào các triều đại Ấn- Hy. Các vua Sakas và Kanishka (triều đại Kushan) là những người bảo trợ chính cho trường phái này. Một trong những đặc điểm nổi bật của trường phái nghệ thuật này là kỹ thuật sử dụng trong điêu khắc được vay mượn từ Hy Lạp nhưng chủ đề mô tả là Ấn Độ, đặc biệt là đề tài Phật giáo, do đó nghệ thuật Gandhara còn được gọi là nghệ thuật Ấn-Hy hoặc nghệ thuật Phật giáo Hy Lạp (Indo-Greek art /Graeco-Buddhist art).

Trường phái nghệ thuật Gandhara trải qua hai giai đoạn phát triển. Thời kỳ đầu, đức Phật được thể hiện bằng nhiều biểu tượng như cây Bồ đề, bánh xe pháp, bàn chân, dù lọng, hoặc ngai vàng. Thời kỳ này, việc thờ ảnh tượng chưa xuất hiện là do tư tưởng Phật giáo Đại Thừa chưa được phổ biến. Sharma (2002) khẳng định từ khởi thủy cho đến năm 200 TCN, Phật giáo Hinayana nghiêm

cấm sự tạo tác ảnh tượng của đức Phật (tr.11). Coomaraswamy (1927) trong công trình The origin of the Buddha Image (Nguồn gốc của ảnh tượng đức Phật) cũng công nhận rằng trước thế kỷ đầu Công nguyên, ảnh tượng của đức Phật chưa xuất hiện, đức Phật chỉ được tôn thờ qua các biểu tượng, và nghệ thuật Gandhara đã giới thiệu hàng loạt ảnh tượng của đức Phật bằng hình người (tr.

287). Thời kỳ sau, Phật giáo Mahayana được hình thành dưới thời trị vì của vua Kanishka, với sự ảnh hưởng của tư tưởng Mahayana, đức Phật được mô phỏng trong hình nhân dạng nhưng mang đậm nét đặc điểm Châu Âu. Phong cách Gandhāra thể hiện sớm nhất hình ảnh về đức Phật. Chất liệu sử dụng chủ yếu là đá cẩm thạch, đá phiến đậm màu và vữa stucco (xi măng), các họa tiết trang trí mang yếu tố Hy Lạp, gương mặt và đặc điểm trang phục cũng thể hiện yếu tố Hy Lạp. Gandhāra muợn của Hy Lạp dây nho, vòng hoa, vầng hào quang, thiên thần, thủy thần. Nghệ thuật Gandhara nổi tiếng với tác phẩm đức Phật đứng (hình 2.4, phụ lục tr. 6) trong trang phục áo choàng rộng nhiều nếp xếp, đầu nổi unisa cao và vầng hào quang phía sau đầu. Tượng hiện được trưng bày ở Bảo tàng Tokyo, Nhật Bản. Ngoài ra, các Bồ tát cũng được tạo tác. Bồ tát Bodhisattava đứng (hình 2.5, phụ lục tr.6), trên đầu tóc búi cao có thắt dây nơ, mắt mở to, miệng có ria mép, trang phục áo phủ vai trái và nhiều nếp xếp để hở một bên vai phải và ngực trần.

Ngoài tượng đứng, đức Phật còn được tạo tác ở dạng bán thân (hình 2.6, phụ lục tr.6). Đây là loại tượng bán thân miêu tả đức Phật có unisa nổi cao với vầng hào quang có viền hoa văn, phía sau vầng hào quang là những lá nho nổi cao, tóc xoăn, mắt nhắm hờ, miệng có ria mép; tượng cho thấy nếp xếp của trang phục theo kiểu áo choàng Hy Lạp. Giao lưu tiếp biến văn hóa Ấn Độ-Hy Lạp còn thể hiện rõ khi thần Heracles của Hy Lạp được nghệ thuật Gandhara vay mượn và biến thành Kim Cương thủ bảo vệ đức Phật khỏi bị Ma vương quấy phá khi thiền định (hình 2.7, phụ lục tr.6).

Các tượng thần Ấn Độ như Dạ xoa (Yaksas), chim Garudas và rắn Nagas trong hình dạng của các thần Hy Lạp như Genii, Atlantis, Zeus và Herakles.

Đức Phật (hình 2.8, phụ lục tr.7) trong hình dạng của thần Apollo (hình 2.9, phụ

lục tr.7) với mái tóc xoăn ngắn xõa xuống mang tai và trên đỉnh đầu có thắt nơ.

Ngoài ra, tôn giáo là chủ đề chủ đạo sử dụng xuyên suốt: Đức Phật, câu chuyện về cuộc đời đức Phật và chuyện tiền thân của Phật (Jataka) được mô tả đặc sắc bởi trường phái nghệ thuật Gandhara. Cảnh hoàng hậu Maya nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà nhập vào thai tạng và cảnh đức Phật đản sinh được khắc họa sinh động. Tượng có kích thước 29.8 x 49.53 cm, bên phải là một trụ đá có đầu cột kiểu Corinth (Hy Lạp). Hoàng hậu Maya đứng, tay phải với nhánh cây Sala, bên trái hoàng hậu là người hầu, phía sau là một người hầu khác cầm bình nước trong khi thần Indra đón nhận đứa bé chui ra từ hông phải của hoàng hậu. Đức Phật vừa sinh ra đã có tướng mạo đẹp đẽ, thân hình cân đối tỷ lệ, trên đỉnh đầu được mô tả với unisa nổi cao.

Các tác phẩm của nghệ thuật Gandhara bộc lộ đặc điểm vừa trừu tượng vừa hiện thực: Lông mày mô tả tượng trưng và mắt thường được mô phỏng nhắm hờ như đang thiền định nhưng miệng và cằm được thể hiện khá rõ nét và mềm mại làm cho toàn bộ khuôn mặt toát lên vẻ trang nghiêm nhưng không kém phần hiền hòa và gần gũi. Tương tự, các tác phẩm điêu khắc bán thân của đức Phật và Bồ tát trong Phật giáo cũng thể hiện những đặc điểm trên như tượng đức Phật ngồi trên tòa sen, cà sa đức Phật mặc kiểu Hy Lạp, xâu chuỗi hạt xung quanh cổ mang đậm nét Hy Lạp, và những tượng bán thân đức Phật với mái tóc xoăn thể hiện đặc điểm Unisa – Hy Lạp. Unisa hay cái đỉnh sọ nhô lên, là một trong ba mươi hai tướng tốt - tính chất siêu phàm của Phật được các nghệ nhân Gandhara thể hiện bằng một búi tóc nhô lên ở đỉnh đầu. Đặc biệt, tượng bán thân của đức Phật khổ hạnh được các nghệ nhân Gandhara mô phỏng khá chi tiết với những xương sườn lộ ra bên ngoài, bụng gầy còm của người nhịn ăn, gương mặt nhăn nheo thể hiện sự khổ hạnh của đức Phật lúc chưa thành đạo (hình 2.10, phụ lục tr.7). Tượng đức Phật khổ hạnh này được Colonel H.A.

Dean tìm thấy ở Sikri, bang Uttar Pradesh, Ấn Độ và sau đó tặng cho Bảo tàng Lahore, Pakistan năm 1894. Tượng thể hiện tài khéo léo của các nghệ nhân khi mô tả tỉ mỉ đức Phật khổ hạnh với bộ xương sườn nổi rõ, tóc quăn, má hóp, tai dài, đầu nổi unisa với vầng hào quang phía sau, trong bộ y phục xếp nếp. Tác

phẩm tượng trưng cho nghệ thuật tả thực Gandhara. Trong nghệ thuật Hy Lạp, nghệ thuật tả thực được sử dụng khi mô tả thần Zeus và đô vật thể hiện trên các đồng tiền Hy Lạp và bình gốm. Đặc biệt trường phái tả thực của nghệ thuật Gandhara vay mượn từ nghệ thuật Hy Lạp cũng được các nghệ nhân Mathura tiếp thu và mô tả đức Phật trong tư thế khổ hạnh giống như đức Phật khổ hạnh Gandhara, nhưng có sáng tạo thêm. Đức Phật khổ hạnh Mathura được mô tả với hai nữ hầu trong trang phục sari Ấn Độ (hình 2.11, phụ lục tr.8).

Về sau, do chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây, những phông nền truyền thống dần dần ít đi, thay vào đó là cách trang trí phông nền bằng hình lá cây ô rô, các cảnh say sưa, chè chén … nhân vật trung tâm, đức Phật, có mái tóc xoăn, xoắn ốc, trên đầu có hào quang, mắt lồi và mở to, mũi thẳng, môi mỏng, mặt hơi vuông, tai dày và cong, áo mặc che phủ hai vai có nhiều nếp xếp. Nhà sử học John Marshall cho rằng vầng hào quang (tiếng Hy Lạp: ἅλως, halōs) là phát minh của người Hy Lạp (Marshall, 2000, tr.79). Cũng nghiên cứu vầng hào quang của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo, nhưng Rosenfield lại khẳng định vầng hào quang là đặc điểm của Kushana vì ông cho rằng chân dung của vua Kanishka ở Mathura được vẽ với vầng hào quang lần đầu tiên (Rosenfield, 1968, tr.666). Rosenfield cũng chứng minh trên các đồng tiền của các triều đại Kushan đều thể hiện các yếu tố siêu nhiên như vầng hào quang. Tuy nhiên, vầng hào quang đã được người Hy Lạp sử dụng trước thời kỳ Kushan ở Ấn Độ. Trong nghệ thuật Hy Lạp, thần Mặt Trời (Helios) thường được mô tả với vầng hào quang chói lọi (Montague, 2011, tr.117).

Trong văn học, Homer cũng từng miêu tả các nhân vật anh hùng trên chiến trận với vầng hào quang tỏa sáng, đó là thứ ánh sáng siêu việt (more than natural light around the heads of heroes) (Đỗ Khánh Hoan, 2013). Vào thời kỳ Hy Lạp hóa, vầng hào quang được các triều đại Ấn-Hy (Indo-Greek) và sau đó là La Mã sử dụng để mô tả các vị hoàng đế. Kushan có thể đã vay mượn yếu tố nghệ thuật này để miêu tả vua Kushan là Kanishka.

Trong nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ, vầng hào quang thường được dùng làm biểu tượng để chỉ những bậc thánh, bậc giác ngộ như đức Phật, các vị Bồ tát, và

chư vị thánh tăng. Ngoài ra, tư thế đứng bất đối xứng (contrapposto) của nghệ thuật Hy Lạp cũng tìm thấy trong nghệ thuật Ấn Độ. Đặc biệt nhất là tượng Phật tìm thấy ở Bactria có phong cách Gandhara được mô tả trong tư thế đứng bất đối xứng (contrapposto) của Hy Lạp trong trang phục thể hiện nhiều nếp xếp rất giống với một tượng điêu khắc mô tả nữ thần tìm thấy ở đáy sông Athens (hình 2.12 và 2.13, phụ lục tr.8).

Về phương diện nghệ thuật điêu khắc, chúng tôi cho rằng phong cách Gandhara đã chịu ảnh hưởng của nghệ thuật điêu khắc của Hy Lạp, ngay cả cách trang phục, dung mạo cũng chịu ảnh hưởng theo phong cách Hy Lạp. Bởi vì, đức Phật là một tu sĩ (Sanyasi) và tu sĩ thường xuất hiện trong hình thức cạo râu và tóc. Thế nhưng, các tôn tượng đức Phật và các Bồ tát thường được các nghệ nhân Gandhara thể hiện có tóc với unisha nổi cao và bộ râu mép. Các thể loại tượng tròn đứng, ngồi, bán thân và đầu tượng trong điêu khắc Hy Lạp được nghệ nhân Gandhara tiếp thu và biến cải khi tạo tác các tôn tượng đức Phật và Bồ tát. Đầu tượng đức Phật lấy ý tưởng từ phong cách tượng bán thân của Hy Lạp như đầu tượng Alexander đại đế, thần Apollo, nữ thần Athena, nữ thần Aphrodite. Phong cách tượng bán thân ảnh hưởng đến nghệ thuật Mathura, nghệ thuật Amaravati và nghệ thuật Gupta.

Herakles được mô tả như Kim Cương Thủ Bồ tát (Vajrapani) bảo vệ đức Phật được tạc vào thế kỷ II CN ở Gandhara (hình 2.14, phụ lục tr.8). Kim Cương Thủ, người giữ cây sét trượng là vị Bồ tát đại diện cho sức mạnh của chư Phật như Quán Thế Âm Bồ tát đại diện cho lòng từ bi vô lượng, và Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đại diện cho trí tuệ. Trong nghệ thuật Gandhara, Kim Cương Thủ thường được mô tả trong hình dạng của Herakles với cánh tay phải cầm một cái chày kim cương dơ lên và tay trái cầm một cái hồ lô để thu phục quỷ dữ. Khi tìm vết tích của Kim Cương Thủ trong các trường phái nghệ thuật Ấn Độ đặc biệt tại các di tích Phật giáo như Bharhut, Sanchi, Bodhgaya, Ajanta v.v. dường như không có một tượng Vajrapani nào. Trường phái nghệ thuật Mathura cũng không mô tả Kim Cương Thủ Bồ tát đứng bên cạnh đức Phật, tương tự, nghệ thuật thời kỳ tiền Kushan, Marurya, nghệ thuật Amaravati và Nagarjunakonda

ở Nam Ấn càng không thể hiện vị Bồ tát này (Lamotte, 2003, tr. 19; Getly, 1928, tr. 49).

Trong nghệ thuật Phật giáo Gandhara, Kim Cương Thủ được mô tả trong hình dạng của một vị thần Hy Lạp, Á thần hoặc anh hùng với nhiều tác phẩm đặc sắc. Katsumi (2005) cho rằng Bồ tát Kim Cương Thủ được các nhà điêu khắc Gandhara sáng tạo, về sau được tu sĩ Phật giáo vay mượn và đưa vào kinh điển Phật giáo (tr. 308). Ở Nepal, Ấn Độ, Kim Cương Thủ được mô tả tay phải cầm chày kim cương (vajra), tay trái thể hiện trong thủ ấn vadara (Getly, 1928, tr. 50). Bên cạnh Kim Cương Thủ, Bồ tát Di Lặc cũng được các nghệ nhân Gandhara khắc tạc, cho thấy sự ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng Mahayana đến nghệ thuật Gandhara. Đặc biệt hai tượng Phật đứng được khắc vào vách đá ở thung lũng Bamyan, vùng Hazarajat, miền trung Afghanistan là minh chứng sống động nhất cho sự ảnh hưởng của nghệ thuật Gandhara đến vùng đất này.

Hai tượng Phật được khắc tạc vào khoảng năm 507-554 CN lấy cảm hứng từ nghệ thuật Gandhara, trong đó đức Phật được mô tả trong trang phục áo ướt với nhiều nếp xếp rủ xuống phía trước. Điều đáng tiếc là hai tượng Phật đã bị chính quyền Taliban phá hủy vào năm 2001, sự kiện này đã gây chấn động toàn thế giới.

Đặc điểm trên tượng Phật Nhục kế (Unisa)

Theo từ điển Phật học Huệ Quang (2016), nhục kế là đảnh nhục kế tướng tiếng Phạn gọi là Unisa, tiếng Hán gọi là Phật đảnh, là thịt xương hay búi thịt - nhục kế trên đảnh của Phật nổi cao lên như búi tóc, một trong ba mươi hai tướng tốt của chư Phật (tr. 3384, tập IV). Theo Phật Bản Hạnh Tập Kinh (q.9), nhục kế trên đảnh Phật cao rộng, bằng phẳng tốt đẹp (Tuệ Đăng, 2012). Kinh Tam Thập Nhị Tướng (Trung A Hàm) ghi, trên đảnh của bậc Đại nhân có tướng nhục kế tròn đầy. Kinh Quán Vô Lượng Thọ (q.thượng) mô tả nhục kế trên đảnh Phật như hoa Bát-đầu-ma, trên nhục kế có một bình báu đựng các thứ ánh sáng, hiện tất cả Phật sự. Kinh Brahmayu (Trung Bộ kinh), kinh Tướng (Trường Bộ kinh) đều ghi nhận tướng tốt nhục kế nhô lên trên đỉnh đầu của Phật. Theo Ukil

(2006), nhục kế là búi tóc trên đầu, dấu hiệu của tầng lớp quý tộc người Ba Tư gốc Hy Lạp (Graeco-Pathian topknot) (tr. 213). Trên các tượng điêu khắc đức Phật của hầu hết các trường phái nghệ thuật từ Gandhara cho đến Mathura, Amarravati, Gupta đều thể hiện nhục kế (Unisa). Theo Mohan (1979), đầu nhục kế thực sự là của Hy Lạp và không có liên quan gì đến nhân tướng học châu Á (tr.42). Kiểu búi tóc công phu độc đáo phản ánh kỹ thuật bện tóc của người Hy Lạp cổ. Cox cho rằng nhục kế (Unisa) của đức Phật thể hiện trí tuệ siêu việt của Ngài được vay mượn từ nhục kế krobylos của thần Mặt trời của Hy Lạp (Cox, 1957, tr.2; Naskar, 1996, tr.225).

Ria mép

Một số tượng đức Phật và Bồ tát của nghệ thuật Gandhara và Mathura được mô tả đặc sắc với bộ ria mép và hàm râu quai nón. Sagar cho rằng đặc điểm này được vay mượn của bộ tộc Scythian (Sagar, 1993, tr. 148). Người Scythian đã đến định cư ở vùng Gandhara vào khoảng thế kỷ III TCN và họ dùng phương ngữ Iran. Một số tượng điêu khắc Gandhara mô tả những chiến binh Scythian với bộ râu quai nón bằng những đường nét mềm mại và gợn sóng. Thế nhưng, theo Sangwan (1996), hình ảnh đức Phật được tìm thấy ở Mathura hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng Mathura ký hiệu số 34.2536 với bộ ria mép là sự mô phỏng theo thần Zeus (thần Dớt), thể hiện sự ảnh hưởng của Hy Lạp, và đặc điểm này thường thấy trên các đồng tiền của Hy Lạp (tr. 97). Theo công trình Indo- Tibetan Buddhism: Indian Buddhists and their Tibetan Successors (Phật giáo Ấn Độ-Tây Tạng: Những Phật tử Ấn Độ và những người kế vị Tây Tạng của họ) của David Snellgrove (2003), do nhu cầu hiểu biết về con người thật của đức Phật, tiểu sử của Ngài từ khi sinh ra cho đến khi nhập niết bàn (nirvana) được những người cải đạo sang Phật giáo có nguồn gốc Hy Lạp soạn thảo ở Gandhara. Do vậy, không chỉ những hình tượng đức Phật được điêu khắc đầu tiên mà những câu chuyện về cuộc đời của Ngài cũng được biên soạn ở cùng địa điểm và cùng thời điểm vào khoảng 150 CN (tr. 103). Foucher (1951) cũng cho rằng hình tượng đức Phật có nguồn gốc từ Hy Lạp. Những tượng điêu khắc đức Phật đầu tiên ở Gandhara là do bàn tay của những thợ điêu khắc người Hy

Một phần của tài liệu Giao lưu văn hóa ấn độ hy lạp thời cổ đại (Trang 103 - 111)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(264 trang)